ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm phế quản cấp là một trong những bệnh thường gặp ở trên lâm sàng. Có ước tính rằng tại Mỹ, hàng năm có hơn 10 triệu bệnh nhân đến khám tại các cơ sở y tế do bị viêm phế quản cấp, chiếm khoảng 5% tổng số bệnh nhân. Vi khuẩn là nguyên nhân không phổ biến của viêm phế quản cấp tính, chỉ chiếm 6% các trường hợp trong một loạt đánh giá người lớn nhập viện vì viêm phế quản cấp tính. Thuốc kháng sinh thường được kê đơn cho các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, mặc dù nhiều khi nguyên nhân là do virus [18].
Vậy nên, việc sử dụng kháng sinh không phù hợp trong điều trị nhiễm trùng đường hô hấp do virus có thể gây ra các tác dụng phụ và góp phần phát triển tình trạng kháng kháng sinh [25]. Trong những năm gần đây tình hình vi khuẩn kháng kháng sinh đối với các kháng sinh hiện có ngày càng gia tăng và trở thành mối quan ngại của toàn cầu. Việc kê đơn điều trị cho bệnh nhân được quan tâm rất nhiều ở các cơ sở khám chữa bệnh, sử dụng kháng sinh không phù hợp dẫn đến không có hiệu quả trong điều trị, không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh, làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh, mà còn là nguyên nhân làm gia tăng kháng kháng sinh của vi khuẩn đối với các kháng sinh hiện có. Kháng thuốc hiện không của riêng quốc gia nào mà là vấn đề y tế toàn cầu, đặc biệt nổi trội ở các nước đang phát triển.
WHO xếp Việt Nam vào danh sách các nước có tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh cao trên thế giới. Phần lớn chi phí điều trị là do người bệnh được kê đơn trung bình 2 thuốc cho một lần khám và thường phải nghỉ việc 2-3 ngày do bị ốm. Ngoài ra, việc điều trị không dứt có thể làm tăng tình trạng nhập viện và tăng gánh nặng chi phí cho gia đình và xã hội. Vì vậy, để đem lại hiệu quả điều trị toàn diện cho bệnh nhân, ngoài các yếu tố như chuyên môn, kỹ thuật, chẩn đoán, khám bệnh kê đơn, tâm lý tiếp xúc thì chi phí điều trị hợp lý cũng là một vấn đề hết sức quan trọng.
Chi phí điều trị phù hợp với khả năng chi trả của người bệnh vẫn đáp ứng được nhu cầu điều trị là một vấn đề đang được cả xã hội quan tâm và nó góp phần nâng cao chất lượng quản lý bệnh nhân, tiết kiệm kinh tế cho hộ gia đình trong thời kỳ kinh tế khó khăn lạm phát tăng cao cũng như hạn chế việc chi quá mức của quỹ BHYT từ đó giúp cho việc dự trù ngân sách và lên kế hoạch tài chính xác thực hơn. 1 Đồng thời, việc điều trị nhiễm trùng hô hấp nói chung và viêm phế quản cấp nói riêng gặp nhiều khó khăn cũng do các triệu chứng không điển hình và hiện có rất ít phác đồ điều trị cụ thể. Thực trạng chỉ định kháng sinh rộng rãi, đặc biệt tình trạng tự mua kháng sinh điều trị là nguyên nhân của tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh ngày càng tăng. Tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột, bệnh lý viêm phế quản cấp là 1 trong 2 bệnh được kê đơn nhiều nhất từ khi bệnh viện hoạt động đến nay, việc đánh giá tình hình kê đơn điều trị ngoại trú của viêm phế quản cấp là thực sự cần thiết để có được sự tổng quát về sử dụng thuốc, kháng sinh và cả tình hình chi phí điều trị của người bệnh.
Vì những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu “Phân tích thực trạng kê đơn điều trị ngoại trú bệnh viêm phế quản cấp tại Bệnh viện Đại Học Y dược Buôn Ma Thuột năm 2022” với các mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu các thuốc được kê đơn điều trị ngoại trú bệnh viêm phế quản cấp tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột năm 2022. Phân tích tính phù hợp lựa chọn kháng sinh trong điều trị ngoại trú bệnh viêm phế quản cấp tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột năm 2022.Tổng quan về bệnh viêm phế quản cấp và sử dụng thuốc trong điều trị bệnh viêm phế quản cấp 1. Khái niệm bệnh viêm phế quản cấp Viêm phế quản cấp là tình trạng viêm nhiễm cấp tính của niêm mạc phế quản ở người trước đó không có tổn thương.
Bệnh khỏi hoàn toàn không để lại di chứng. Nguyên nhân thường do nhiễm virus, vi khuẩn hoặc cả hai loại [1]. Dịch tễ bệnh viêm phế quản cấp Viêm phế quản cấp là một trong những bệnh thường gặp ở trên lâm sàng. Có ước tính rằng khoảng 5% dân số sẽ có một đợt viêm phế quản cấp hàng năm, chiếm 10% các lần thăm khám ngoại trú ở Hoa Kỳ và 100 triệu lượt mỗi năm [25].
Giống như hầu hết các bệnh đường hô hấp do virus gây ra, bệnh viêm phế quản cấp tính thường xuất hiện trong mùa cúm, tỷ lệ mắc bệnh cao hơn vào mùa đông và mùa thu so với mùa hè và mùa xuân [23]. Các yếu tố như tiền sử hút thuốc lá, sống ở nơi ô nhiễm, đông đúc, tiền sử hen suyễn đều là những yếu tố nguy cơ gây viêm phế quản cấp. Ở một số người, viêm phế quản cấp tính có thể được kích hoạt bởi các chất gây dị ứng cụ thể như phấn hoa, nước hoa và hơi [23]. Điều trị viêm phế quản cấp Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm phế quản cấp của Bộ Y tế 2012, hướng dẫn sử dụng kháng sinh 2015 (BYT) [1] [2], Bệnh viêm phế quản cấp có hướng dẫn điều trị như sau: Ở người lớn viêm phế quản cấp đơn thuần có thể tự khỏi không cần điều trị.
Điều trị triệu chứng - Nghỉ ngơi, bỏ thuốc lá, giữ ấm. - Giảm ho, long đờm: ho khan nhiều, gây mất ngủ có thể cho các thuốc giảm ho như: + Terpin codein 15 - 30mg/24 giờ hoặc. 3 + Dextromethorphan 10 - 20 mg/24 giờ ở người lớn hoặc. + Nếu ho có đờm: thuốc long đờm có acetylcystein 200mg x 3 gói/24 giờ.
- Nếu có co thắt phế quản: thuốc giãn phế quản cường β2 đường phun hít (salbutamol, terbutanyl) hoặc khí dung salbutamol 5mg x 2-4 nang/24 giờ hoặc uống salbutamol 4mg x 2-4 viên/24 giờ. Chỉ dùng thuốc giãn phế quản điều trị viêm phế quản cấp khi nghe phổi thấy ran rít, ngáy. - Người bệnh nên uống nhiều nước giúp cải thiện việc ho, khạc đờm. - Không có thử nghiệm lâm sàng nào ủng hộ việc sử dụng thuốc long đờm.
- Không hoặc có rất ít bằng chứng ủng hộ việc sử dụng thuốc giảm ho trong điều trị viêm phế quản cấp, do các thuốc giảm ho thường làm giảm việc bài tiết đờm, do vậy làm chậm sự phục hồi của người bệnh. - Khi điều trị tối ưu mà người bệnh còn ho nhiều, cần lưu ý tình trạng co thắt phế quản, hoặc cần lưu ý thêm các bệnh lý kèm theo như trào ngược dạ dày thực quản hoặc bệnh chưa được chẩn đoán chính xác. Điều trị bằng kháng sinh cho viêm phế quản cấp - Không cần dùng kháng sinh cho viêm phế quản cấp đơn thuần ở người bình thường. - Chỉ định dùng kháng sinh cho những trường hợp:Cải thiện lâm sàng chậm, hoặc không cải thiện; Ho khạc đờm mủ, đờm màu vàng hoặc màu xanh; Người bệnh có kèm bệnh tim, phổi, thận, gan, thần kinh cơ, suy giảm miễn dịch; Người bệnh > 65 tuổi có ho cấp tính kèm thêm 2 hoặc nhiều hơn các dấu hiệu sau; hoặc người bệnh trên 80 tuổi kèm thêm 1 hoặc nhiều hơn các dấu hiệu sau: nhập viên trong 1 năm trước; có đái tháo đường typ 1 hoặc typ 2; tiền sử suy tim sung huyết; hiện đang dùng corticoid uống.
- Thiếu bằng chứng về hiệu quả của điều trị kháng sinh thường quy cho viêm phế quản cấp. - Lựa chọn kháng sinh nào cho các trường hợp viêm phế quản cấp: Nên chọn kháng sinh nhóm macrolid, hoặc doxycyclin cho những trường hợp viêm phế quản cấp ở người trước đó hoàn toàn khỏe mạnh; kháng sinh nhóm beta-lactam phối hợp với chất ức chế beta-lactamase hoặc nhóm quinolon nên được lựa 4 chọn ban đầu trong điều trị các trường hợp viêm phế quản cấp có tiền sử dùng kháng sinh trong vòng 3 tháng gần đây, hoặc viêm phế quản cấp ở người có tuổi cao, có bệnh mạn tính kèm theo. - Khi hướng tới căn nguyên Mycoplasma pneumoniae hoặc Chlamydophila pneumoniae: + Người bệnh đôi khi có viêm phế quản cấp do M. Hướng tới chẩn đoán những căn nguyên này khi người bệnh có ho kéo dài và triệu chứng đường hô hấp trên điển hình.
Tuy nhiên, điểm hạn chế là thiếu các phương tiện để chẩn đoán thường quy. + Cả hai tác nhân này đều nhạy cảm với tetracyclin, macrolid, và fluoroquinolon. Trong thực hành lâm sàng, các kháng sinh này thường chỉ được khuyến cáo điều trị theo kinh nghiệm khi có những vụ dịch bùng phát. +Thời gian dùng kháng sinh: thường 7-10 ngày.
Lựa chọn kháng sinh trong điều trị viêm phế quản cấp STT Tình huống lâm sàng Kháng sinh ưu tiên Kháng sinh thay thế 1 Viêm phế quản cấp ở người Macrolid, Beta-lactam hoàn toàn khỏe mạnh doxycyclin 2 Viêm phế quản cấp ở người có Beta-lactam phối Macrolid, dùng kháng sinh trong vòng 3 hợp với chất ức chế doxycyclin tháng gần đây beta-lactamase 3 Viêm phế quản cấp ở người có Beta-lactam phối Macrolid, bệnh mạn tính hợp với chất ức chế doxycyclin beta-lactamase, Quinolon 1. Chi phí điều trị viêm phế quản cấp Chi phí là giá trị hàng hóa, dịch vụ được xác định bằng sử dụng nguồn lực theo các cách khác nhau. Hay chi phí là phí tổn phải chịu khi sản xuất hay sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Mặc dù chi phí được tính toán và đo lường bằng các hình thức khác nhau, nhưng để thuận tiện cho việc so sánh được, các chi phí thường được thể hiện dưới dạng tiền tệ mà số tiền đó thể hiện nguồn lực được sử dụng.
Ước tính chi phí là thuật ngữ dùng để chỉ việc tính các chi phí của một hoạt động trong tương 5 lai hay trong quá khứ. Từ những thập niên 1980 và 1990, hầu hết các tài liệu đều phân loại chi phí liên quan đến kinh tế dược thành bốn loại: chi phí trực tiếp y tế (direct medical costs), chi phí trực tiếp ngoài y tế (direct nonmedical costs), chi phí gián tiếp (indirect costs) và chi phí vô hình (intangible costs) [7]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chi phí điều trị viêm phế quản cấp ngoại trú được tính trên chi phí của thuốc được kê của người bệnh trong đơn thuốc. Trong đó, có sự chia ra của chi phí kháng sinh trong đơn và chi phí tổng cả đơn thuốc.