Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE PHIEN TOA SƠ THÁM DAN SỰ 1. KHAI NIEM VA VAI TRO CUA PHIEN TOA SO THAM DAN SU Dưới góc độ là một thủ tục tổ tụng, phiên tòa sơ thẩm dân sy là một thủ tục của thủ tục sơ thẩm dân sự. Dưới góc độ là một giai đoạn tổ tụng, phiên tòa sơ thâm dân sự là một giai đoạn của quá trình sơ thâm dân sự. Vì vậy, để xây dựng khái niệm PTSTDS cần thiết phải làm rõ khái niệm "sơ thấm dân sự".
Khái niệm sơ tham dân sự Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người là vấn đề nhân quyền mà bất cứ quốc gia nào cũng phải quan tâm. Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc ngày 19/12/1948 đã tuyên bố rằng: "Điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bởi một chế độ pháp quyền. Song, nêu pháp luật mới chỉ dừng lại ở việc quy định các quyền lợi của con người là chưa đủ, mà còn cần có phương tiện để bảo vệ các quyền này. Trong lĩnh vực dân sự, dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các chủ thé có thé tự bảo vệ hoặc yêu cầu nhà nước bảo vệ.
Việc bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của các chủ thê được nhà nước thực hiện thông qua hoạt động của cả bộ máy trong hệ thống, trong đó có hoạt động xét xử. Việc xét xử là một trong những phương thức thực hiện quyền lực nhà nước đã ton tại từ xa xưa, từ thời kỳ Nhà nước Ai Cập, Babilon cô đại đến thời kỳ La Mã, Hy Lạp cô đại rồi qua thời kỳ trung cô phục hưng. Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, hoạt động xét xử củng như hoạt dộng lập pháp và hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến mà đại diện là Nhà Vua, người có quyên lực cao nhất. Ở giai đoạn này, Tòa án 10 chưa tô chức thành một hệ thống và chưa trở thành lĩnh vực hoạt động độc lập trong bộ máy nhà nước [41], tr.
Vào thé ky XVII, trong cuén Tỉnh thân pháp luật được xuất bản năm 1748, khi phác họa những nét cơ bản về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền, Montesquieu đã khăng định, trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: Quyên lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong đó, quyền tư pháp là quyền của Nhà Vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân [46]. Vấn đề bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người dân được coi là yêu cầu trung tâm của nội dung về nhà nước pháp quyền [98, tr. Quyền tư pháp là một trong ba nhánh quyên lực nhà nước, là quyền nhân danh quyền lực nhà nước để ra phán quyết, nhằm khôi phục trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, xã hội va công dân khi có sự vi phạm.
Hoạt động xét xử của Tòa án là một dạng của hoạt động tư pháp, là "hoạt động của các cơ quan và các cá nhân được căn cứ vào pháp luật dé xem xét những van dé pháp lý và đưa ra những quyết định pháp lý có tính chất bắt buộc" [111, tr. Cụ thể hơn, theo tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc, hoạt động xét xử là "hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi vi phạm pháp luật hay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau" [98, tr. Phan quyết đó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi về nhân thân, tài sản, không chỉ của bản thân các đương sự mà có khi của cả gia đình họ. Tuy nhiên, "Tòa án cũng như con người, không thể lúc nào cũng hoàn toàn đúng" [39, tr.
46], cho nên, để đảm bảo tính thận trọng, chính xác, khách quan, đúng pháp luật của bản án, quyết định thì trước khi phán quyết đó có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành, chúng cần được xem xét lại bởi Tòa án câp trên trong hệ thông tô chức Tòa án, nêu có yêu câu của đương sự 1] hoac khang nghi cua VKS. Do do, hién nay, "số đông các nước đều áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử" là sơ thâm và phúc thẩm [15, tr. ("Sơ thẩm " theo Dai từ điển tiếng Việt là "xét xứ lần đầu một vụ việc ở Tòa án cấp thấp" [112, tr. Tùy theo tính chất của các loại vụ việc phát sinh tại Tòa án mà có sơ thâm dân sự, sơ thẩm hình sự, sơ thẩm hành chính.
Trong đó, sơ thâm dân sự dùng để chỉ hoạt động xét xử lần đầu đối với các vụ việc dân sự. Pháp luật của đa số các nước trên thế giới đều quan niệm vụ việc dân sự là các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng được Tòa án thụ lý giải quyết (bao gồm: Dân sự, hôn nhân va gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động). Do đó, theo cách giải thích này, sơ thâm dân sự là việc Tòa án xét xử lần đầu một vụ việc dân sự. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, để giải quyết một vụ việc dân sự ở cấp sơ thâm không phải mọi trường hợp Tòa án đều phải thực hiện việc xét xử.
Việc giải quyết vụ việc dân sự ở cấp sơ thâm có thé trai qua các giai đoạn tô tụng khác nhau.> Trong lĩnh vực dân sự, lợi ích của các bên được xem như là tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự. Tranh chấp pháp lý sẽ không thể xuất hiện, nếu không có yêu cầu khởi kiện của các bên [113, tr. Khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tô chức tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở pháp ly làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS [92, tr. Khởi kiện trước hết là quyền dân sự của các chủ thé, là phương thức mà các chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nước hoặc người khác.
Tuy nhiên, quyền khởi kiện của các chủ thể chỉ làm phát sinh nghĩa vụ thụ lý vụ việc của Tòa án khi việc khởi kiện phải tuân thủ đúng và đủ các điều kiện khởi kiện về nội dung, về hình thức khởi kiện và tạm ứng án phí. Việc xem xét, thụ lý yêu cầu khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức chính là sự bảo đảm của nhà nước đôi với việc thực hiện các quyên 12 dân sự của các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận [4, tr. Như vậy, khởi kiện và thụ lý vụ việc dân sự là những hoạt động tố tụng đầu tiên của sơ thấm dân sự, là tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp theo. Ké từ thời điểm Tòa án thụ lý sẽ phát sinh quyên, nghĩa vụ của các chủ thé tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự và bắt đầu giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
Dé đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc có căn cứ và chính xác thi yêu cầu của các đương sự và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ việc phải được làm sáng tỏ thông qua các chứng cứ, lý lễ và căn cứ pháp lý. Trong TTDS, đương sự là chủ thê của quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp, là người đưa ra yêu cầu và việc giải quyết vụ việc liên quan đến lợi ích của chính họ nên đương sự là chủ thê có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh. Do đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các bên đương sự có nghĩa vụ cung cấp, thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của minh. Tuy nhiên, tùy theo pháp luật của mỗi nước về vai trò của Tòa án trong TTDS mà việc hỗ trợ của Tòa án đối với việc thu thập chứng cứ của đương sự được quy định ở các mức độ khác nhau.
Đối với những nước theo truyền thống tổ tụng tranh tụng, điển hình như Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thì vai trò của các bên đương sự được dé cao. Vì vậy, việc thu thập chứng cứ do chính các bên hoặc luật sư của họ thực hiện với sự trợ giúp của Tòa án, thông qua việc buộc bên kia phải trả lời, phải tuyên thệ, đối chất, đưa ra các tài liệu để làm sáng tỏ nội dung vụ việc. Cộng hòa Pháp là nước điển hình theo truyền thống tố tụng xét hỏi, vai trò của Thâm phán trong việc thu thập chứng cứ được đề cao nên Thâm phán có quyền tự mình quyết định áp dụng mọi biện pháp thâm cứu mà pháp luật cho phép. Tuy vậy, các bên đương sự có nghĩa vụ giúp Thâm phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu và phải chịu mọi hậu quả trong trường hợp không giúp đỡ hoặc từ chối giúp đỡ.
Đối với Nhật Bản, 13 việc thu thập chứng cứ và kiểm tra người làm chứng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử do các bên đương sự tự thực hiện, Tòa án chỉ hỗ trợ trong những trường hợp đặc biệt [37, tr. Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS, về nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và Tòa án có quyền thu thập chứng cứ khi cần thiết. Do đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án có quyền chủ động thực hiện mọi biện pháp thu thập chứng cứ. Hiện nay, theo BLTTDS, nghĩa vụ chứng minh của đương sự được đề cao hơn trước và Tòa án chỉ hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không thể tự thu thập được chứng cứ và có đơn yêu cầu hoặc các trường hợp do pháp luật quy định.
Bên cạnh đó, trong vụ việc dân sự, các đương sự là chủ thé của các quan hệ pháp luật nội dung do Tòa án giải quyết nên họ có quyền thỏa thuận với nhau đê giải quyết quan hệ pháp luật đó. Mặt khác, việc hòa giải mang lại nhiều y nghĩa cả về kinh tế, xã hội và pháp ly. Vì thế, pháp luật của các nước đều quy định Tòa án có trách nhiệm hòa giải để giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau giải quyết tranh chấp, trừ các trường hợp không hòa giải được hoặc không được hòa giải. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định, khi có các căn cứ, Tòa án sẽ ra những quyết định cần thiết như tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự.