Tổng quan luận án
Công trình Chơi cổ vật: Văn hóa của giới trung lưu Hà Nội là luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9.40, nay thuộc mã phân ngành văn hóa học theo quy định đào tạo sau đại học) của nghiên cứu sinh Vương Toàn Thắng, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Lan Phương, bảo vệ năm 2024.
Luận án xuất phát từ tính cấp thiết trong bối cảnh xã hội Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Sự phát triển này thúc đẩy cơ cấu xã hội phân tầng rõ nét, dẫn đến sự gia tăng của tầng lớp trung lưu đô thị (chiếm khoảng 30% dân số theo các ước lượng xã hội học). Nghiên cứu văn hóa học nhìn nhận các thực hành văn hóa của tầng lớp trung lưu không đơn thuần là hành vi tiêu dùng hay sở thích cá nhân, mà là sự lựa chọn thị hiếu nhằm định vị bản sắc nhóm, kiến tạo "tiểu văn hóa" và thiết lập mạng lưới quan hệ xã hội.
Tại Hà Nội, thú chơi và thưởng ngoạn cổ vật vốn là một truyền thống văn hóa lâu đời, từng trải qua giai đoạn gián đoạn trong thời kỳ bao cấp, sau đó phục hồi và phát triển mạnh mẽ từ khi Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) với chủ trương xã hội hóa hoạt động bảo tồn di sản văn hóa dân tộc và Luật Di sản văn hóa (năm 2001) ra đời. Đến thời điểm khảo sát, Hà Nội ước tính có khoảng 6.000 người tham gia chơi cổ vật, hình thành 5 hội và câu lạc bộ chính thức cùng nhiều nhóm tự phát và các nhà sưu tập độc lập. Chơi cổ vật là một loại hình giải trí trí tuệ đòi hỏi đồng thời ba yếu tố: niềm đam mê, tiềm lực kinh tế và nền tảng tri thức văn hóa - lịch sử. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây về cổ vật chủ yếu tiếp cận từ góc độ khảo cổ học, lịch sử, kỹ thuật giám định hoặc bảo tồn hiện vật; các ấn phẩm báo chí chỉ dừng ở mức hoài niệm, ghi chép tản mạn về các nhà sưu tập danh tiếng; trong khi các công trình xã hội học về giới trung lưu lại tập trung vào các chỉ báo kinh tế, nghề nghiệp mà bỏ trống chiều kích thực hành văn hóa giải trí. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua việc tìm hiểu các cách thức, lối chơi và các hoạt động xung quanh việc chơi cổ vật của một nhóm trung lưu tại Hà Nội, chỉ ra chơi cổ vật là một thành tố văn hóa của giới trung lưu đô thị, đồng thời phân tích vai trò của thực hành này đối với đời sống văn hóa của giới trung lưu tại Hà Nội.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm bốn nhiệm vụ:
- Tìm hiểu sự hình thành tầng lớp trung lưu, sự xuất hiện và phát triển của thú chơi cổ vật ở Hà Nội;
- Trình bày các lối và phong cách chơi cổ vật thịnh hành, làm rõ đặc điểm của những người trung lưu chơi cổ vật ở Hà Nội hiện nay;
- Phân tích làm rõ vai trò của các hội, câu lạc bộ chơi cổ vật đối với người chơi cổ vật ở Hà Nội và các mối quan hệ xã hội liên quan;
- Phân tích làm rõ vai trò của chơi cổ vật đối với lối sống cá nhân và đối với đời sống văn hóa của giới trung lưu Hà Nội.
Ba câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra:
- Câu 1: Chơi cổ vật xuất hiện ở Hà Nội từ bao giờ và tại sao được giới trung lưu ưa thích?
- Câu 2: Chơi cổ vật được thực hành như thế nào ở Hà Nội hiện nay, đặc điểm của những người chơi cổ vật?
- Câu 3: Chơi cổ vật có vai trò gì với văn hóa của giới trung lưu Hà Nội hiện nay?
Đối tượng nghiên cứu chính là các phong cách và lối chơi cổ vật được thực hành bởi các nhóm người chơi cổ vật tại Hà Nội (bao gồm các nhà sưu tập thành danh được lựa chọn khảo sát), thông qua các hoạt động sưu tầm, trao đổi, mua bán, xây dựng bộ sưu tập, trưng bày và sinh hoạt hội nhóm.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Về nội dung: Khảo sát các yếu tố lịch sử, quá trình lưu truyền, sở hữu, bối cảnh chính trị - xã hội, các phong cách chơi, cách thức xây dựng bộ sưu tập, thị trường cổ vật, hoạt động triển lãm, không gian trưng bày tại tư gia và tương tác xã hội của các thành viên câu lạc bộ, hội cổ vật.
- Về không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội (sau khi mở rộng địa giới hành chính năm 2008).
- Về thời gian: Tập trung trọng tâm vào giai đoạn từ đầu thế kỷ XXI đến giữa năm 2023, đồng thời có khảo sát đối sánh với giai đoạn trước và sau năm 1975 đến cuối thế kỷ XX để nhận diện tính liên tục lịch sử.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan hệ thống tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhóm chủ đề chính:
Nghiên cứu về tầng lớp trung lưu ở Việt Nam
Về phía học giả quốc tế, Victor T. King (2008) trong các nghiên cứu về tầng lớp trung lưu Đông Nam Á và giới trẻ chuyên môn tại Việt Nam hậu Đổi mới (dựa trên mẫu khảo sát 226 người từ Điều tra SAVY 1 tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng) đã chỉ ra các chỉ báo học vấn, tiêu dùng và tính chất gắn bó với khu vực nhà nước. Nhóm tác giả Van Nguyen-Marshall, Lisa Drummond, Danièle Bélanger (2012) trong cuốn sách The Reinvention of Distinction: Modernity and the Middle Class in Urban Vietnam đã tiếp cận tầng lớp trung lưu đô thị từ góc độ liên ngành; trong đó Lisa Drummond mô tả "cảnh quan trung lưu" tại Hà Nội qua chung cư cao cấp, khu đô thị khép kín như Ciputra, trung tâm thương mại, xe hơi cá nhân và du lịch. Catherine Earl (2014) qua công trình Vietnam’s New Middle Classes: Gender, Career, City khai thác lịch sử cuộc đời của tầng lớp trung lưu mới tại TP. Hồ Chí Minh. Các lý thuyết phân tầng xã hội phương Tây cũng được điểm lại như John Goldthorpe (1980, 1992) với sự phân chia giai cấp dịch vụ gồm tầng lớp trung lưu trên, trung lưu giữa và trung lưu dưới; Melvin Tumin (1967), Donald Treiman (1977) và Tamura (2003) nghiên cứu tính cơ động xã hội và đặc điểm của tầng lớp trung lưu tại 6 quốc gia, vùng lãnh thổ châu Á (Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Philippines, Thái Lan).
Ở trong nước, các nghiên cứu xã hội học tiêu biểu gồm có đề tài cấp Nhà nước KX.16/11-15 do Đoàn Minh Huấn và Trần Thị Minh Ngọc chủ nhiệm (2015); Bùi Đại Dũng (2014) tính toán quy mô tầng lớp trung lưu dựa trên tiêu chí thu nhập từ số liệu Điều tra mức sống dân cư năm 2010; Bùi Thế Cường, Phạm Thị Dung và Tô Đức Tú (2015) khảo sát 383 cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh, phân loại 5 nhóm nghề nghiệp thuộc tầng lớp trung lưu; Lê Kim Sa (2015) tiếp cận đa chiều qua số liệu 5 cuộc điều tra VLSS (2004–2012) xác định tầng lớp trung lưu chiếm 31,5% dân số; Nguyễn Văn Thịnh và cộng sự (2010) khảo sát hành vi tiêu dùng của tầng lớp trung lưu đang nổi lên; cùng số liệu của Tổng cục Thống kê ghi nhận tỷ lệ tầng lớp trung lưu tăng từ 7,8% (năm 2011) lên 20,2% (năm 2019).
Nghiên cứu về cổ vật, chơi cổ vật và người chơi cổ vật
- Khảo cứu lịch sử, khảo cổ và di sản: Bắt đầu từ tập sách Triển lãm cổ tích Việt Nam của Viện Viễn Đông Bác Cổ (1948); loạt bài trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (từ thập niên 1960); Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long (1984); Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (1987); Văn hóa Chăm của Nguyễn Công Bình và Phan Xuân Biên (1991); các công trình của Hà Văn Tấn như Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam (1994), Theo dấu các văn hóa cổ (1997), Tìm hiểu văn hóa Sơn Vi (1998); Nguyễn Thị Huệ (2002); Trần Lâm Biền (2003) với Đồ thờ trong di tích của người Việt; Hoàng Xuân Chinh (2005) với Các nền văn hóa cổ Việt Nam; Hán Văn Khẩn (2009); Nguyễn Văn Huy (2012) với Từ điển hiện vật văn hóa các dân tộc Việt Nam; các ấn phẩm của tạp chí Khảo cổ học (từ 1969) và tạp chí Hán Nôm (từ 1986).
- Nghiên cứu theo chất liệu chế tác: Gốm Bát Tràng thế kỷ XIV–XIX (Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc, 1995); Trần Khánh Chương (2004); Trần Đức Anh Sơn (1997, 2008) chuyên sâu về đồ sứ men lam Huế và đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn; Phạm Quốc Quân, Nguyễn Đình Chiến, Lê Thị Thanh Hà (2008) về Gốm sứ thời Thanh; Hoàng Xuân Chinh (2010) về Cổ vật gốm sứ Trung Quốc; Phạm Ngọc Dũng (2010) với luận án tiến sĩ Gốm cổ trong đời sống văn hóa Việt Nam; Nguyễn Thị Hồng Lê (2015) với luận văn thạc sĩ Gốm cổ Thăng Long thời Lê Sơ...; Hoàng Văn Khoán (1999); Nguyễn Văn Huyên (2000); Hà Văn Phùng (2008); Phạm Quốc Quân (2006) về Kho báu tiền cổ Đại Việt; Nguyễn Công Việt (2015) về Ấn chương Việt Nam; Chu Quang Trứ (2016) về tượng cổ.
- Nghiên cứu mỹ thuật và quản lý di sản: Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Đỗ Nùng chủ biên các công trình mỹ thuật thời Lý (1973), Trần (1977), Lê Sơ (1978); Nguyễn Phi Hoanh (1970); Trần Đình Sơn; Đặng Vương Hạnh (2000) với Bí mật những ngôi mộ cổ; Phan Trung Nghĩa (2004); Đỗ Doãn Hoàng (2006) với phóng sự Săn cave phản ánh nạn mất cắp cổ vật tại các đình, chùa vùng Ba Vì (đình Tây Đằng, đình Chu Minh, đình Mông Phụ, đình Đông Viên, đình Cao Cương, chùa Quang Húc); các bài viết trên tạp chí Thế giới Di sản, Di sản văn hóa, Heritage.
- Tài liệu về nghệ thuật chơi và chân dung người chơi cổ vật: Các tác phẩm kinh điển của Vương Hồng Sển gồm Thú chơi cổ ngoạn (1971/1990) và Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa (1971); Phạm Hy Tùng (2005) với Cổ vật gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa; chuyên mục "Cổ ngoạn" của Nhất Nam trên tập san Hà Nội ngàn năm (gần 200 bài từ số 1 đến 173); chuyên mục "Kiến thức dành cho người chơi cổ vật" trên tạp chí Xưa & Nay (từ 1994); tạp chí Cổ vật tinh hoa (từ 2002); bộ sách ảnh Thú chơi cổ ngoạn của người Hà Nội (5 tập, 2010–2014); loạt bài của Nguyễn Đức Quỳnh trên tạp chí Mỹ thuật (về cách thức hình thành bộ sưu tập, bày đồ, không gian nghệ thuật của Lương Trần, Trần Mạnh Đạt); Phạm Quốc Quân (2011) với Ngã ba Di sản; cùng các bài ký chân dung người chơi cổ vật Hà Nội quá khứ và hiện tại (Hàn Liên, Tư Thức, Huế Muối, Đông Thịnh, Đức Minh, Lâm cà phê...).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Mặc dù nguồn tư liệu về cổ vật và người chơi cổ vật khá đa dạng, song phần lớn tiếp cận dưới giác độ kỹ thuật giám định, mỹ thuật học, khảo cổ học thuần túy hoặc ghi chép giai thoại mang tính biểu dương. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc chơi cổ vật như một thực hành xã hội - văn hóa gắn liền với tầng lớp trung lưu đô thị, làm rõ mối quan hệ giữa thị hiếu, lối sống, mạng lưới tương tác xã hội và sự xác lập vị thế của chủ thể người chơi trong không gian văn hóa Hà Nội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp các lý thuyết xã hội học và văn hóa học:
- Lý thuyết về sự khu biệt xã hội qua thị hiếu (Distinction: A Social Critique of the Judgement of Taste, 1984) của Pierre Bourdieu: Bourdieu chỉ ra rằng các thực hành văn hóa, sự tiêu dùng và lựa chọn thị hiếu (taste) không phải là sở thích ngẫu nhiên mà gắn liền với tập tính (habitus) và vị thế giai cấp trong không gian xã hội. Thị hiếu hoạt động như một công cụ xã hội vừa để thiết lập bản sắc, liên kết các thành viên trong nhóm, vừa tạo ra sự phân định thứ bậc biểu trưng (giữa thanh cao và bình dân, trên và dưới). Luận án vận dụng quan điểm này để phân tích chơi cổ vật như một "trò chơi xã hội" (social game), qua đó giới trung lưu Hà Nội định vị bản sắc, tạo dựng sự khác biệt và xác lập quyền lực mềm trong đời sống đô thị.
- Lý thuyết về bản sắc nhóm và mạng lưới xã hội qua trò chơi: Kế thừa các luận điểm của Robert Putnam (2000), Nicholson và Hoye (2008), Donnelly và cộng sự (2012), Omar Lizardo (2006), Alan Warde và Gindo Tampubolon (2000) về vai trò của hoạt động giải trí trong việc tích lũy vốn xã hội và cố kết nhóm.
- Quan niệm về trò chơi của Đoàn Văn Chúc (2004): Phân loại trò chơi trí tuệ thành ba nhóm (sáng kiến là chính, kiến thức là chính, tính toán là chính). Chơi cổ vật là trò chơi trí tuệ tổng hợp cả sáng kiến định hướng bộ sưu tập, tri thức lịch sử và sự tính toán nguồn lực. Chức năng xã hội của trò chơi là phản ánh và điều chỉnh các quan hệ xã hội (quan hệ với tự nhiên, giữa người với người, giữa mình với mình).
- Hệ khái niệm công cụ:
- Cổ vật: Khái niệm theo Khoản 1 Điều 4 Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên (đối sánh với luật pháp các nước: Pháp 100 năm, Philippines 100 năm, Indonesia 50 năm, Ai Cập 100 năm, Ả Rập Xê Út 200 năm). Quan niệm dân gian của giới chơi: "Nhất dáng, nhì da, tam toàn, tứ tuổi", "Nhất dáng, nhì da, tam hoa, tứ cốt", "độc bản", tính chuẩn xác về lai lịch/tiểu sử hiện vật.
- Bộ sưu tập cổ vật: Tập hợp các di vật, cổ vật được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo các tiêu chuẩn giá trị lịch sử - văn hóa, tính hệ thống sáng tạo, giá trị thẩm mỹ, khoa học và kinh tế.
- Văn hóa: Định nghĩa của UNESCO xem văn hóa là tập hợp hệ thống biểu trưng quy định thế ứng xử và liên kết cộng đồng.
- Văn hóa của giới trung lưu Hà Nội: Được luận án định nghĩa là văn hóa của những người Hà Nội nằm ở giữa tháp phân tầng xã hội, có đời sống khá giả, trình độ học vấn hoặc chuyên môn cao, có ý thức chính trị, đạo đức, thẩm mỹ tốt, chủ động sáng tạo và khẳng định vị thế cá nhân trong sự phát triển chung của đô thị.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu văn hóa liên ngành (kết hợp lịch sử - khảo cổ - bảo tàng, kinh tế học văn hóa, mỹ thuật học và nhân học văn hóa) với các phương pháp nghiên cứu thực địa định tính:
| Phương pháp nghiên cứu |
Kỹ thuật / Công cụ thực hiện |
Nguồn dữ liệu / Mẫu khảo sát cụ thể |
| Nghiên cứu tài liệu thứ cấp |
Tổng hợp, phân tích văn bản, xử lý tư liệu lịch sử và chuyên ngành |
Chính sử Việt Nam, văn học, chuyên khảo khảo cổ, gốm sứ, mỹ thuật; tự truyện, bút ký của các nhà sưu tập; tạp chí chuyên ngành (Khảo cổ học, Hán Nôm, Mỹ thuật, Cổ vật tinh hoa, Xưa & Nay); các trang mạng xã hội, diễn đàn, YouTube, Facebook của các hội nhóm cổ vật. |
| Quan sát tham dự |
Thâm nhập, cùng tham gia các hoạt động sưu tầm, đàm phán mua bán, trưng bày, triển lãm và sinh hoạt câu lạc bộ |
Dựa trên ưu thế của tác giả (hơn 15 năm kinh nghiệm chơi cổ vật, từng làm thư ký các Hội và CLB cổ vật Hà Nội, hội viên Hội Nghiên cứu Sưu tầm Cổ vật UNESCO Việt Nam). Khảo sát trực tiếp các bộ sưu tập tư gia, dấu ấn vật chất trên hiện vật. |
| Phỏng vấn sâu định tính |
Phỏng vấn sâu phi cấu trúc (in-depth interview), phỏng vấn hồi cố (retrospective interview) |
Khảo sát 36 thông tín viên là những người chơi cổ vật thành danh tại Hà Nội thuộc các gia đình khá giả, đa dạng ngành nghề và độ tuổi (30 người sinh hoạt trong các hội/CLB, 6 nhà sưu tập độc lập). Danh tính được mã hóa viết tắt theo quy chuẩn đạo đức nghiên cứu. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về tầng lớp trung lưu và hoạt động sưu tầm cổ vật; phân tích các chiều kích tiếp cận kinh tế, nghề nghiệp và xã hội học đối với tầng lớp trung lưu; chỉ ra sự thiếu vắng hướng nghiên cứu văn hóa học đối với các thực hành giải trí của nhóm xã hội này. Chương này xác lập cơ sở lý thuyết trọng tâm dựa trên lý thuyết về sự khu biệt xã hội của Pierre Bourdieu, lý thuyết trò chơi của Đoàn Văn Chúc, đồng thời chuẩn hóa hệ thống khái niệm công cụ (cổ vật, bộ sưu tập, giới trung lưu, văn hóa giới trung lưu Hà Nội) phục vụ cho toàn bộ phân tích thực chứng của luận án.
Chương 2: Sự hình thành giới trung lưu và thú chơi cổ vật ở Hà Nội
Chương 2 phác họa bối cảnh địa lý, hành chính và dân cư của Thủ đô Hà Nội qua các mốc lịch sử, đặc biệt sau sự kiện hợp nhất địa giới hành chính năm 2008 (diện tích 3.324,92 km², 30 đơn vị hành chính gồm 12 quận, 1 thị xã, 17 huyện; quy mô dân số đến tháng 9/2023 đạt hơn 8 triệu người). Quá trình hình thành giới trung lưu Hà Nội được phân tích gắn liền với các biến đổi kinh tế - xã hội qua thời kỳ thuộc địa, giai đoạn bao cấp và bước phát triển mạnh mẽ sau Đổi mới.
Về thú chơi cổ vật, chương này truy nguyên nguồn gốc từ văn hóa quà tặng, sự trao đổi vật phẩm của giới quan lại, trí thức kinh kỳ xưa, từ đó hình thành thú thưởng ngoạn tao nhã mang tính truyền thống của người Tràng An. Thú chơi này không chỉ là sự tích lũy của cải mà phản ánh sự kết tinh của tri thức thẩm mỹ và văn hóa đô thị Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ.
Chương 3: Chơi cổ vật ở Hà Nội từ thế kỷ XX đến nay
Chương 3 tái hiện tiến trình biến thiên của hoạt động chơi cổ vật tại Hà Nội qua các giai đoạn lịch sử:
- Giai đoạn trước và sau năm 1975: Những biến động chính trị, kinh tế và tư duy văn hóa thời kỳ bao cấp khiến hoạt động sưu tầm công khai bị hạn chế. Cổ vật chuyển dịch vào các giao dịch ngầm, đánh dấu bước "tạm nghỉ" bề nổi của thú chơi cổ vật tại Hà Nội, song dòng chảy ngầm lưu giữ cổ vật trong các gia đình trí thức, tư sản cũ vẫn được duy trì bền bỉ.
- Giai đoạn thị trường cổ vật mở cửa: Sau Đổi mới năm 1986, đặc biệt từ khi Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) và Luật Di sản văn hóa (2001) ra đời, thị trường cổ vật từng bước công khai, các hội nhóm và câu lạc bộ cổ vật lần lượt được thành lập hợp pháp.
- Giai đoạn từ đầu thế kỷ XXI đến nay: Sự phát triển đa dạng các phong cách chơi. Một mặt, người chơi duy trì phong cách sưu tập chuyên sâu truyền thống (gốm sứ thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn; đồ sứ ký kiểu; đồ đồng Đông Sơn; tiền cổ); mặt khác, xuất hiện và phát triển phong cách bài trí không gian mới mang tên "Mid-century Modern", nơi các hiện vật cổ kính được phối hợp hài hòa với kiến trúc nội thất tân kỳ trong không gian sống của các gia đình trung lưu hiện đại.
Chương 4: Một số bàn luận về chơi cổ vật trong văn hóa của giới trung lưu Hà Nội
Chương 4 tập trung nhận diện và bàn luận chuyên sâu về các khía cạnh văn hóa - xã hội của cộng đồng trung lưu chơi cổ vật tại Hà Nội:
- Nhận diện nhóm người chơi: Khẳng định tính đa dạng về thành phần nghề nghiệp (công chức, doanh nhân, giới chuyên môn, bác sĩ, giảng viên, trí thức), nguồn lực kinh tế và sự phân hóa thị hiếu. Hoạt động chơi cổ vật là sự kết hợp hữu cơ giữa ba yếu tố: thưởng ngoạn thẩm mỹ, tích lũy của cải vật chất và bồi đắp tri thức văn hóa lịch sử.
- Thực hành văn hóa và khẳng định giá trị bản thân: Chơi cổ vật phản ánh lối sống tinh tế, đòi hỏi chiều sâu trí tuệ của một bộ phận cư dân trung lưu Hà Nội; là phương thức kiến tạo bản sắc cá nhân, xác lập vị thế trong không gian xã hội, đồng thời đóng góp tích cực cho xã hội qua việc bảo tồn di sản, tổ chức triển lãm phục vụ cộng đồng và hiến tặng hiện vật cho bảo tàng nhà nước.
- Góc khuất của sân chơi cổ vật: Luận án thẳng thắn phân tích các mặt trái thực tiễn như sự nhiễu loạn của thị trường cổ vật thật - giả, tình trạng đào bới trộm cắp di vật, buôn bán trái phép, những rủi ro tài chính của người sưu tập, cùng những bất cập, lỗ hổng trong công tác giám định và quản lý di sản tư nhân hiện nay.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận hoạt động chơi cổ vật dưới góc nhìn chuyên ngành Văn hóa học tại Việt Nam, đặt hiện tượng này trong mối liên hệ hữu cơ với quá trình biến đổi cấu trúc xã hội và sự trỗi dậy của tầng lớp trung lưu đô thị.
- Vận dụng lý thuyết thị hiếu và sự khu biệt xã hội của Pierre Bourdieu cùng lý thuyết trò chơi của Đoàn Văn Chúc để luận giải chơi cổ vật như một thực hành xã hội kiến tạo "tiểu văn hóa" trung lưu, bổ sung luận cứ khoa học về sự tương tác giữa vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội.
- Khái quát hóa và làm sáng tỏ khái niệm "văn hóa của giới trung lưu Hà Nội" thông qua một trường hợp nghiên cứu cụ thể, chỉ ra tính chất dung hợp giữa nét thanh lịch truyền thống và xu hướng tiêu dùng văn hóa hiện đại.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về lịch sử hình thành, biến đổi và các phong cách chơi cổ vật tại Hà Nội từ thế kỷ XX đến năm 2023, ghi nhận sự xuất hiện của các xu hướng bài trí không gian đương đại (như phong cách Mid-century Modern).
- Cung cấp nguồn cứ liệu dân tộc học - nhân học phong phú về mạng lưới sinh hoạt của các hội, câu lạc bộ và các nhà sưu tập tư nhân thành danh tại Hà Nội.
- Phản ánh trung thực thực trạng thị trường cổ vật và những thách thức trong công tác bảo vệ di sản văn hóa phi chính thức.
Khuyến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý về quản lý thị trường cổ vật, xây dựng cơ chế giám định cổ vật tư nhân minh bạch, chuyên nghiệp nhằm hạn chế tình trạng hàng giả và thất thoát di sản.
- Đẩy mạnh sự phối hợp giữa hệ thống bảo tàng công lập với các nhà sưu tập tư nhân thông qua các hình thức trưng bày chuyên đề, tọa đàm khoa học và hỗ trợ kỹ thuật bảo quản hiện vật.
- Định hướng và phát huy vai trò tích cực của các Hội, CLB cổ vật trong việc giáo dục tri thức lịch sử - văn hóa cho cộng đồng, tránh xu hướng thương mại hóa cực đoan làm sai lệch giá trị di sản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Tác giả thừa nhận hạn chế trong kỹ thuật phỏng vấn sâu đôi khi chưa khai thác triệt để tính đa dạng của thông tin; do vị thế là người quen biết lâu năm trong giới chơi cổ vật nên quá trình phỏng vấn có lúc bị chi phối bởi tính chất nể nang hoặc bị thông tín viên dẫn dắt câu chuyện sang các vấn đề kỹ thuật hiện vật, vụ việc thời sự ngoài phạm vi nghiên cứu; mẫu khảo sát (36 thông tín viên) chủ yếu tập trung vào các nhà sưu tập thành danh và các hội viên câu lạc bộ tại khu vực Hà Nội nên chưa bao quát hết mọi nhóm người chơi nhỏ lẻ tự do.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh thực hành chơi cổ vật của giới trung lưu Hà Nội với các đô thị khác như TP. Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng; đi sâu nghiên cứu cơ chế truyền thừa bộ sưu tập và sự chuyển giao giá trị văn hóa giữa các thế hệ trong các gia đình trung lưu; nghiên cứu tác động của công nghệ số và các nền tảng mạng xã hội đối với sự biến đổi của thị trường và hành vi chơi cổ vật đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Xã hội học, Nhân học, Lịch sử, Khảo cổ học và Bảo tàng học trong việc tham khảo khung lý thuyết nghiên cứu thực hành văn hóa đô thị, phương pháp điền dã dân tộc học và phương pháp nghiên cứu thị hiếu theo lý thuyết Bourdieu.
- Các nhà quản lý văn hóa và hoạch định chính sách: Cán bộ ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa, ban quản lý di tích và bảo tàng có thêm cơ sở thực tiễn để xây dựng cơ chế quản lý thị trường cổ vật, công nhận và phát huy nguồn lực xã hội hóa từ các bộ sưu tập tư nhân.
- Cộng đồng sưu tập và công chúng quan tâm cổ vật: Cung cấp hệ thống kiến thức pháp lý, tiêu chuẩn đánh giá giá trị bộ sưu tập, các bài học kinh nghiệm trong sưu tầm, bài trí không gian và phòng ngừa rủi ro trên thị trường cổ vật.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định các điều kiện cơ bản để một cá nhân tham gia vào thú chơi cổ vật là gì?
Theo luận án, chơi cổ vật là một loại hình giải trí mang đậm chất trí tuệ, đòi hỏi người tham gia phải thỏa mãn đồng thời ba điều kiện cốt lõi: niềm đam mê bền bỉ, tiềm lực tài chính (tiền bạc) và nền tảng tri thức văn hóa - lịch sử phong phú. Ba điều kiện này tương thích với đặc điểm của tầng lớp trung lưu đô thị khá giả và có học vấn.
2. Khung lý thuyết trọng tâm nào được tác giả sử dụng để giải thích hành vi chơi cổ vật của giới trung lưu?
Luận án sử dụng lý thuyết về sự khu biệt xã hội qua thị hiếu (Distinction) của nhà xã hội học Pháp Pierre Bourdieu. Lý thuyết này luận giải rằng việc lựa chọn thưởng ngoạn và sở hữu cổ vật hoạt động như một công cụ văn hóa giúp giới trung lưu định hình bản sắc nhóm, phân biệt vị thế xã hội và xác lập quyền lực biểu trưng trong đời sống đô thị.
3. Phong cách chơi "Mid-century Modern" trong chơi cổ vật tại Hà Nội được luận án mô tả như thế nào?
Từ đầu thế kỷ XXI, bên cạnh phong cách sưu tập truyền thống, tại Hà Nội xuất hiện phong cách "Mid-century Modern". Đây là lối chơi dung hợp thẩm mỹ, trong đó các hiện vật cổ kính (gốm, tượng, đồ đồng, đồ gỗ xưa) được tuyển chọn và bài trí hài hòa trong không gian kiến trúc nội thất hiện đại, tạo nên môi trường sống kết hợp giữa nét hoài cổ và phong cách tân kỳ của giới trung lưu Hà Nội.
4. Mẫu khảo sát định tính thực địa của tác giả được thiết kế với quy mô ra sao?
Nghiên cứu sinh đã thực hiện phỏng vấn sâu phi cấu trúc và phỏng vấn hồi cố với mẫu gồm 36 thông tín viên là những người chơi cổ vật thành danh tại Hà Nội. Trong đó có 30 người là thành viên chính thức của các hội/CLB cổ vật và 6 nhà sưu tập hoạt động độc lập, thuộc các gia đình khá giả với đa dạng ngành nghề và độ tuổi.
5. Tiêu chuẩn đánh giá một "bộ sưu tập cổ vật" đạt chuẩn theo luận án gồm những yếu tố nào?
Căn cứ theo Luật Di sản văn hóa và thực tiễn nghiên cứu, một bộ sưu tập cổ vật đạt chuẩn phải hội tụ 5 tiêu chí giá trị: giá trị lịch sử - văn hóa; tính hệ thống về mặt sáng tạo văn hóa (theo thời đại, vùng miền); giá trị thẩm mỹ (sự tương tác hài hòa giữa các hiện vật); giá trị khoa học (phản ánh trình độ kỹ thuật đương thời); và giá trị kinh tế.
Kết luận
Luận án Chơi cổ vật: Văn hóa của giới trung lưu Hà Nội của tác giả Vương Toàn Thắng là công trình nghiên cứu văn hóa học thực chứng về mối quan hệ giữa thực hành giải trí trí tuệ và sự hình thành tiểu văn hóa của tầng lớp trung lưu đô thị. Bằng việc kết hợp khung lý thuyết khu biệt xã hội của Pierre Bourdieu với phương pháp điền dã dân tộc học trên mẫu khảo sát 36 nhà sưu tập thành danh, luận án đã làm rõ tiến trình lịch sử, các phong cách chơi, vai trò xã hội cũng như những góc khuất thực tiễn của thú chơi cổ vật tại Thủ đô. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học có giá trị tham khảo chuyên môn cho công tác đào tạo văn hóa học, xã hội học và công tác quản lý di sản văn hóa tại Việt Nam hiện nay.