CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIEM CO BẢN, NHÂN TO HÌNH THÀNH NEP SONG, VAI TRO CUA NEP SONG VÀ NHỮNG NHÂN TO ANH HUONG DEN NEP SONG ĐÔ THI HÀ NỘI 1. Những khái niệm co ban, nhân tố hình thành nếp sống, vai trò cua nếp sống đô thị Để tìm hiểu nếp sống thị Hà Nội, trước hết chúng ta phải nắm rõ và phân biệt được những khái niệm về lối sống, mức sống, lẽ sống, nếp sống. Những khái niệm này có quan hệ rằng buộc, chi phối lẫn nhau. Tiếp đó chúng ta cũng cần phải biết nếp sống hình thành ra sao, sự ra đời là do tác động của những nhân tố khách quan, chủ quan nào, nếp sống biểu hiện vai trò của nó đối với cuộc sống CỦa COn người ra sao.
Khái niệm lối sống, lé sống, nếp sống và mức sống Lối sống là gì? Khái niệm về lối sống đã được đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau. Cho đến nay, khái niệm này vẫn chưa được thống nhất. Thực tế vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau, cụ thể là những quan niệm của những người theo hệ tư tưởng Xã hội chủ nghĩa và những người theo hệ tư tưởng Tư bản chủ nghĩa. Thứ nhất, nhìn trên quan điểm của Mác và Ăngghen trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” thì quan niệm lối sống được hiểu như sau: “Phuong thức sản xuất phải xem xét không đơn thuần, theo khía cạnh nó là sự tái tạo sản xuất ra sự tôn tại thể xác của các cá nhân, mà hơn thế nó đã là một hình thức hoạt động nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ.
Những cá nhân biểu hiện đời sống của họ như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái của họ sản xuất ra cũng như cách họ sản xuất” [4.269] Từ luận điểm này chúng ta có thể rút ra: lối sống là phương thức, là dạng hoạt động của con người. Lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện và các mối quan hệ kinh tế - xã hội của một phương thức sản xuất nhất định. Vấn đề cơ cấu thực chất nội dung của lối sống, các nhà nghiên cứu Liên Xô đã nêu nên một số quan niệm thống nhất.Be-xtu-gi-ep viết: “Lối sống được kiến giải như một phương thức hoạt động sống của con người, thì điều này hợp lý là lấy các lĩnh vực hoạt động sống quan trọng nhất làm nền tang cho cơ cấu của lối sống, các lĩnh vực đó ta déu biết là: lao động, sinh hoạt, họat động chính trị- xã hội và văn hóa - xã hội” [13,19] A.Bu-chen-cô viết: “Những yếu tố cơ cấu của nó (lối sống) tuyệt nhiên không phải những điều kiện sống bên ngoài quyết định hoạt động sống của con người vô luận là những điều kiện xã hội hay tự nhiên (phương thức sản xuất, chế độ xã hội, môi trường địa lý, sinh hoạt, mức sống) và cũng không phải những sung lực bên trong hoạt động sống này vốn có ở chính bản chất con người - cơ cấu lối sống là một phạm tr lịch sử cả về nội dung lan tương quan các yếu tố đó”.[13,20] Thứ hai, theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu theo hệ tư tưởng Tư bản chủ nghĩa thì khác với quan điểm của những nhà nghiên cứu theo hệ thống tư tưởng Xã hội chủ nghĩa. Trong các công trình nghiên cứu của mình, họ cho lối sống là cuộc sống riêng, là mức độ sinh hoạt được đảm bảo và sự chú ý của họ hoàn toàn đặt vào lĩnh vực tiêu dùng.
Hoặc còn có những khuynh hướng muốn giải thích lối sống như một khái niệm chung nhất, một cái gì ngang hàng với “vật chất xã hội” thay thế cho tất cả những khái niệm khác. Sở di có hai cách hiểu khác nhau như vậy là do các nước Tư bản chủ nghĩa và các nước Xã hội chủ nghĩa đi theo hai hệ thống tư tưởng khác nhau. Một bên lấy cá nhân làm chủ thể (Tư bản chủ nghĩa), còn một bên lại coi trong mối quan hệ tập thể (Xã hội chủ nghĩa). Ở Việt Nam, trên cơ sở khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lénin và trên cơ sở khoa học của các nghị quyết Đại hội Đảng cho rằng: “Lối sống là một phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xá hội, các cá nhân trong điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất định, biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tỉnh thân và văn hóa”.
[16,5 14] 10 Thực tế đã có nhiều quan điểm cho rằng phương thức sản xuất là một phương thức sống nhất định của con người, là mặt cơ bản của lối sống. Quan điểm này đã đánh đồng phương thức sản xuất là lối sống. Nhưng xem xét kĩ quan điểm này chỉ đúng một phần. Bởi phương thức sản xuất là điều kiện kinh tế xã hội của lối sống, là cơ sở đầu tiên để chúng ta tìm hiểu lối sống.
Mỗi một giai cấp, một tầng lớp xã hội khác nhau đều có phương thức sản xuất khác nhau cho nên họ cũng hình thành lối sống khác nhau. Phạm vi của lối sống rộng hơn phạm vi của phương thức sản xuất. Ngoài hoạt động sản xuất, con người còn có nhiều hoạt động phong phú khác như: hoạt động xã hội, hoạt động chính trị, hoạt động tư tưởng và văn hóa, hoạt động bồi dưỡng sức khỏe và hoạt động rèn luyện phẩm chất cá nhân. Như vậy từ việc tìm hiểu và so sánh những khái niệm trên, theo quan điểm của bản thân tôi thì nên hiểu một cách đơn giản: lối sống là cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nó được hình thành và phát triển phù hop trong phạm vi không gian, thời gian nhất định.
Lễ sống là gì? Lé sống là gì? Theo tác giả Võ Văn Thang thì lẽ sống là mặt lý tưởng của lối sống, là nhân lõi của lối sống. Tác giả lập luận rằng, lẽ sống là thuật ngữ triết học, đạo đức, tâm lý phản ánh mặt ý thức của lối sống. Nó chính là sự lựa chọn chủ quan của con người về lối sống. Lẽ sống định hình vốn có chức năng định hướng cho lối sống, bởi lẽ sống là thế giới quan, nhân sinh quan của con người.
Lé sống được coi như là “kim chỉ nam” cho mỗi cá nhân có ý thức điều chỉnh hành vi của mình. Một người có lẽ sống đúng đắn sẽ góp phần hình thành lối sống tích cực. Theo Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức: “1£ sống là sự lựa chọn chu quan của con người về lối sống. Hay nói cách khác nó là sự phản ánh tính tất yếu khách quan của lối sống vào đầu óc con người.
Lế sống chỉ đạo cho lối sống dân dan tao thành nếp trong sinh hoạt hàng ngày khiến cho lối sống trở thành những hành vi tự giác”. [7,24] Nhu vậy từ hai cách hiểu của hai tác giả trên chúng ta có thể hiểu lẽ sống chính là mặt ý thức của lối sống. Lẽ sống là mục đích sống, ý nghĩa lý tưởng của 11 cuộc sống, là ý chí khát vọng của con người. Lẽ sống phan ánh tính tất yếu khách quan của lối sống, định hướng cho lối sống.
Mức sống là gì? Khi nói đến chất lượng cuộc sống của con người, chúng ta thường nhắc đến khái niệm mức sống. Vay mức sống là gì, nó có liên quan gì với lối sống? Hiểu một cách đơn giản thì mức sống là điều kiện quan trọng cho hoạt động sống của con người. Mức sống có tác dụng quy định con người có thể phát triển, áp dụng năng lực, thỏa mãn nhu cầu của mình ở mức độ nào. Người có mức sống cao thường là những người có khả năng đáp ứng nhu cầu của bản thân về các phương tiện thiết yếu ở mức độ hiện đại, đời sống vat chất tinh than được thỏa mãn ở cấp độ hiện đại, văn minh nhất.
Người có mức sống thấp là người có thu nhập thấp, thậm chí không thỏa mãn nhu cầu về tỉnh thần. Mức sống và lối sống có quan hệ mật thiết với nhau. Mức sống biến đổi sẽ làm ảnh hưởng đến lối sống. Tuy nhiên, không phải mức sống biến đổi thì lối sống cũng biến đổi theo.
Trong khuôn khổ của một lối sống, không thể xem mức sống là cái gì đó bên ngoài lối sống mà nó là cơ sở vật chất của lối sống. Thực tiễn cho thấy những người có mức sống ngang nhau, nhưng ở họ lại có sự khác biệt về lối sống. Chẳng hạn như người có mức sống cao lại có lối sống văn minh, lịch sự thì được người đời tôn trọng. Ngược lại có những người mức sống cao nhưng có hành vi ứng xử thô lỗ, mất lịch sự, ích kỉ.
thì người đời coi khinh. Từ sự phân tích này chung ta thấy rõ ràng mức sống có quan hệ với lối sống nhưng chúng không đồng nhất với nhau. Theo chúng tôi kết luận của tác giả Võ Văn Thắng đã thể hiện rõ được bản chất của mức sống đó là: “Mức sống là thuật ngữ kinh tế - xã hội dùng để đánh giá các nhu cầu vật chất và tinh than đã được thỏa man” [32,39] Nép sống là gì? Từ việc tìm hiểu những khái niệm trên, chúng ta cũng có cơ sở để hiểu khái niệm nếp sống. Theo quan điểm của GS.Vũ Khiêu thi:’Nép sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thối quen đã trở thành 12 nếp sống trong sản xuất, chiến đấu trong mọi mối quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của môi người.
Những thói quen ấy còn gọi là tập quán”.[16,135] “Nép sống chính là mặt ổn định của lối sống. Nhờ có nếp sống mà xã hội và con người không cần phải di đường vòng, không phải bắt đầu lại những quá trình lịch sử đã trải qua. Nhờ những nếp sống mà những kinh nghiệm quý báu trong lối sống của xã hội và con người được giữ lại và phát triển”.[7,23] Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy ước đã trở thành thói quen trong sản xuất của cải vật chất; trong sinh hoạt như ăn, mặc, ở, đi lại; trong tổ chức đời sống xã hội như phong tục, lễ nghi, đạo đức, pháp luật.Như vậy, có thể thấy rõ rằng nếp sống là những hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống đã được lặp đi lặp lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen, phong tục được xã hội công nhận. So với lối sống thì nếp sống có tính chất ổn định bền vững hơn nhưng không có nghĩa là không có biến đổi.
Cùng với sự biến đổi của lối sống nó cũng biến đổi nhưng chậm chạp và khó khăn hơn.