Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Việt Nam học (mã số: 62 22 01 13) với đề tài "Địa danh đường phố Hà Nội từ 1888 đến 2008 (trên tư liệu bốn quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng)" do nghiên cứu sinh Phùng Thị Thanh Lâm thực hiện tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Thanh và TS. Đào Thị Diến.
HỆ THỐNG ĐỊA DANH ĐƯỜNG PHỐ HÀ NỘI (1888 - 2008)
PHƯƠNG THỨC MIÊU TẢ PHƯƠNG THỨC CHUYỂN HÓA
Đặc điểm Hàng hóa & Tư tưởng & Nhân danh Địa danh cũ & Chuyển
địa lý nghề nghiệp Số thứ tự (NVLS) Sự kiện LSTT hóa lỗi
-
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Hà Nội là đô thị có lịch sử hơn 1000 năm, chuyển dịch từ mô hình đô thị phương Đông truyền thống (cấu trúc "thành, thị và vành đai ven đô") sang mô hình đô thị phương Tây từ năm 1888 khi chính quyền thuộc địa Pháp chính thức quản lý và hành chính hóa việc đặt tên đường phố. Trải qua các giai đoạn lịch sử và các thể chế chính trị khác nhau, hệ thống tên đường phố Hà Nội liên tục biến đổi. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, việc đặt và đổi tên đường phố tại các khu đô thị mới bộc lộ nhiều bất cập về quy hoạch, quản lý văn hóa và xây dựng biểu tượng xã hội. Các công trình nghiên cứu trước đây đa phần dừng lại ở việc miêu tả sự thay đổi tên của từng con phố cụ thể hoặc giải thích ngữ nghĩa từ nguyên đơn thuần, chưa xem tên đường phố là một phức thể địa danh gắn kết chặt chẽ với các yếu tố chính trị, thể chế, văn hóa và lịch sử. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách tiếp cận liên ngành để phân tích toàn diện tiến trình hình thành, biến đổi của hệ thống tên đường phố Hà Nội trong suốt 120 năm.
-
Mục tiêu nghiên cứu:
- Góp phần nhận diện không gian lịch sử - văn hóa của đô thị Hà Nội trong giai đoạn 1888-2008 thông qua nguồn tư liệu hệ thống tên đường phố.
- Trình bày các đặc điểm nổi bật của hệ thống tên đường phố Hà Nội: phương thức định danh, động cơ định danh và các mô hình phân loại.
- Phân tích mối quan hệ giữa địa danh đường phố với các yếu tố chính trị, văn hóa - xã hội ẩn sau động cơ định danh và chi phối phương thức định danh qua từng thời kỳ lịch sử.
- Tổng hợp các nguồn tư liệu nhằm làm rõ quy luật biến đổi của tên phố, phục vụ trực tiếp cho công tác đặt, đổi tên đường phố tại Hà Nội.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Cập nhật các lý thuyết địa danh học hiện đại để phân tích đối tượng địa danh đường phố tại không gian đô thị Hà Nội từ thời Pháp thuộc đến năm 2008.
- Thống kê, lập danh mục tên phố Hà Nội trong giai đoạn 1888-2008 làm căn cứ phân loại theo các tiêu chí khoa học, từ đó khái quát các đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa trong mối tương tác với cảnh quan đô thị.
- Thực hiện khảo sát thực địa, điền dã nhằm thu thập thông tin xác minh và hiệu chỉnh các trường hợp địa danh sai lệch hoặc nghi vấn trong văn bản lưu trữ.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tiến trình hình thành, biến đổi và phát triển của hệ thống tên các mạch giao thông đô thị (đường, phố, ngõ, đại lộ, xa lộ - gọi chung là phố) tại Hà Nội từ năm 1888 đến năm 2008 dưới sự tác động của các điều kiện lịch sử, chính trị, văn hóa - xã hội và ngôn ngữ.
- Phạm vi không gian: Bốn quận nội thành trung tâm gồm Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa và Hai Bà Trưng. Đây là khu vực tương đương với địa bàn hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận thời Nguyễn, nơi diễn ra quá trình đô thị hóa ổn định và có tính đại diện cao nhất cho diện mạo đô thị Hà Nội qua nhiều thể chế chính trị.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1888 (thời điểm người Pháp nắm quyền quản lý Hà Nội và thiết lập hệ thống định danh hành chính chính thức) đến năm 2008 (thời điểm Quốc hội phê duyệt mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội). Khoảng thời gian này trải qua ba thể chế chính trị: chính quyền thuộc địa và tạm chiếm Pháp, chính phủ Đế quốc Việt Nam (thời kỳ thị trưởng Trần Văn Lai), và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa / Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm luận và phân tích có hệ thống các khuynh hướng nghiên cứu địa danh và địa danh đường phố trong nước và quốc tế:
Các nghiên cứu quốc tế
- Khu vực Pháp và Châu Âu:
- Daniel Milo (1986) trong công trình Les noms des rues (in trong bộ Les lieux de mémoire do Pierre Nora chủ biên) nghiên cứu sự biến đổi tên phố Paris, chỉ ra sự chuyển giao quyền đặt tên phố từ cư dân ("sử dụng") sang nhà nước ("quốc hữu hóa quyền đặt tên phố" từ năm 1600), xu hướng bài trừ tên phong kiến - tôn giáo sau Cách mạng Pháp, chính sách dung hòa quá khứ thời Napoleon và xu hướng "bách khoa thư" khi đô thị mở rộng.
- Jean-Claude Bouvier và Jean-Marie Guillon (1998) với tuyển tập La toponymie urbaine: Significations et enjeux nghiên cứu mối quan hệ giữa địa danh đô thị, không gian, ký ức và bản sắc.
- Lučka Lorber, Zoran Stiperski và cộng sự (2011) nghiên cứu phân loại tên phố tại 8 thành phố Trung Âu (Graz, Kraków, Olomouc, Prague, Maribor, Zagreb, Zadar, Mostar) qua 3 thời điểm (1935, 1985, 2009), chia thành 5 phạm trù: Nhân danh, Đặc trưng địa lý, Sự kiện lịch sử/cơ quan, Nghề thủ công/thương mại, và Khác.
- Graeme Gill (2005) và Palonen (2008) phân tích sự đổi tên đường phố tại Moscow và Budapest sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ như một quá trình tái cấu trúc biểu tượng quyền lực.
| Phạm trù (Categories) |
Nhóm (Groups) |
Nội dung giải thích cụ thể |
| Nhân danh |
Người có ảnh hưởng cấp quốc gia; Nghệ sĩ/Nhà sáng tạo; Tôn giáo; Nhà khoa học; Doanh nhân |
Thủ tướng, chính trị gia, tướng lĩnh, vua chúa, nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, linh mục, giáo hoàng, nhà khoa học, thương nhân hảo tâm. |
| Đặc trưng địa lý |
Yếu tố địa lý; Địa điểm lân cận; Đặc điểm hiện trạng |
Tên sông, núi, vùng miền, quốc gia; khu vực gần nhà ga, đền đài, bệnh viện; hình dáng dài, ngắn, dốc, tên cây cỏ hoa lá. |
| Sự kiện & Cơ quan |
Sự kiện lịch sử, thiết chế xã hội |
Ngày Quốc tế lao động, các phong trào xã hội, ngân hàng, tòa soạn báo. |
| Nghề nghiệp |
Nghề thủ công, thương mại |
Nơi diễn ra hoạt động rèn đúc, xay nghiền, chế biến nông sản, buôn bán. |
| Khác |
Tên hỗn hợp |
Các tên đường phố không xếp được vào các nhóm trên. |
-
Khu vực Bắc Mỹ:
- W.J. McGee (1895) và Mr. Hagner (1897) đặt nền móng nghiên cứu quy tắc danh học đường phố tại Washington D.C.
- George R. Stewart (1967) trong tác phẩm Names on the Land phân chia tên phố theo hai động cơ: thực dụng (dùng số đếm, chữ cái) và tình cảm (tôn vinh lòng yêu nước, thành tựu quốc gia và địa phương).
- Derek Alderman (1996) trong luận án tiến sĩ về việc đặt tên phố theo tên Martin Luther King Jr. tại miền Nam nước Mỹ đã xây dựng khung lý thuyết về 4 đặc tính chính trị của địa danh đường phố: chính trị của việc đặt tên địa điểm (the politics of Naming Places), chính trị của ký ức (the Politics of Memory), chính trị của thang độ tôn vinh (the politics of Scale), và chính trị tái cấu trúc không gian công cộng (the Politics of Reconstructing Public Space).
- Maoz Azaryahu (1996) phân tích quyền lực chính trị gắn liền với cơ chế ghi nhớ và lãng quên (politics of remembering / politics of forgetting) qua việc đặt đổi tên phố.
-
Khu vực Châu Á:
- Hoa Lâm Phủ (2002) phân chia lịch sử địa danh học Trung Quốc thành hai giai đoạn truyền thống và hiện đại.
- Lý Hoa Quân (Li Huajun, 2002) thống kê tên phố chính trị tại 26 thành phố Trung Quốc giai đoạn 1973-1979; Jonathan Hassid (2012) khảo sát 4.000 tên phố tại 128 thành phố Trung Quốc theo Quy định quản lý địa danh năm 1986, chỉ ra việc kiểm soát tên người và tên nước ngoài nhằm duy trì quyền lực biểu tượng; Thẩm Di Như (Shen Yiru, 2011) phân tích ngôn ngữ - văn hóa tên phố Nam Kinh.
- Brenda S.A. Yeoh (1992, 2003) nghiên cứu so sánh hệ thống tên phố chính thức của chính quyền thực dân Anh và tên phố dân gian của người Hoa tại Singapore, phân loại địa danh thành 7 nhóm chủ đề.
Các nghiên cứu tại Việt Nam
-
Giai đoạn biên soạn địa dư, địa chí truyền thống: Ghi nhận qua An Nam chí lược (Lê Tắc, 1335), Dư địa chí (Nguyễn Trãi, thế kỷ XV), Vũ Trung tùy bút (Phạm Đình Hổ, thế kỷ XVIII-XIX), cùng các bộ địa chí triều Nguyễn (Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí, Bắc Thành địa dư chí lục, các tập địa bạ Thọ Xương, Vĩnh Thuận).
-
Giai đoạn nghiên cứu địa lý học lịch sử (thập niên 1960-1970): Đào Duy Anh với Đất nước Việt Nam qua các đời (1964); Hoàng Thị Châu với các công trình nghiên cứu ngữ âm lịch sử địa danh cổ và từ tố "Lang".
-
Giai đoạn hình thành địa danh học hiện đại (từ thập niên 1990 đến nay): Lê Trung Hoa xây dựng hệ thống quy tắc, tiêu chí phân loại địa danh; các chuyên khảo lịch sử, văn hóa, quản lý đô thị Hà Nội của Trần Huy Liệu, Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán, Phan Huy Lê, Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Văn Uẩn, Philippe Papin, Vũ Văn Quân, Nguyễn Quang Ngọc; từ điển đường phố của Bùi Thiết, Nguyễn Vinh Phúc, Giang Quân; các nghiên cứu trực tiếp về tên phố Hà Nội của Nguyễn Thị Việt Thanh, Peter Kang.
-
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
Luận án xác lập vị trí là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên khảo sát toàn diện hệ thống địa danh đường phố Hà Nội trong suốt tiến trình lịch sử 1888-2008 tại 4 quận trung tâm bằng phương pháp liên ngành. Luận án không dừng lại ở việc miêu tả từ nguyên mà gắn liền cấu trúc định danh với bối cảnh biến đổi thể chế chính trị, cơ chế ký ức tập thể và cảnh quan không gian đô thị.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết Khu vực học (Area Studies): Tiếp cận đối tượng theo quan điểm của Yumio Sakurai, kết hợp nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu thực địa và so sánh quốc tế nhằm nhận diện không gian lịch sử - văn hóa đặc thù của Hà Nội.
- Lý thuyết Ký ức tập thể (Collective Memory Theory): Dựa trên luận điểm của Pierre Nora, Derek Alderman và Maoz Azaryahu để phân tích tên đường phố như những "cấu trúc biểu tượng cố định" (fixed symbolic structure), phản ánh nỗ lực của các thể chế trong việc định hình sự ghi nhớ hoặc lãng quên các nhân vật, sự kiện lịch sử trong không gian công cộng.
- Lý thuyết Địa danh học (Toponymy): Sử dụng các khái niệm về cấu trúc phức thể địa danh (thành tố chung chỉ loại hình mạch giao thông + thành tố riêng chỉ tên gọi), chức năng định danh không gian và chức năng biểu trưng văn hóa - xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành:
- Phương pháp phân tích sử liệu: Đối chiếu các nguồn tư liệu thành văn theo chiều lịch đại và đồng đại qua ba thể chế chính trị (Pháp thuộc/tạm chiếm, chính phủ Trần Trọng Kim/Trần Văn Lai, và chính quyền cách mạng/CHXHCN Việt Nam) nhằm xác định động cơ chính trị của việc đặt đổi tên phố.
- Phương pháp ngôn ngữ học: Áp dụng ngữ âm học lịch sử, thủ pháp phân tích hình cây (Tree Structures) và danh học (onomastics) để truy nguyên nguồn gốc, ngữ nghĩa và cấu trúc của các đơn vị tên phố.
- Phương pháp địa lý - bản đồ: Đối chiếu hệ thống tên phố trên bản đồ Hà Nội qua các năm 1890, 1905, 1911, 1925, 1936, 1946, 1951, 2008 với các văn bản pháp quy nhằm hiệu chỉnh sai lệch không gian.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Lập bảng số liệu thống kê tên đường phố từ các nghị định, tờ trình, quyết định hành chính qua các mốc lịch sử cụ thể để phục vụ phân loại khoa học.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa, điền dã: Khảo sát thực tế diện mạo các tuyến phố, phỏng vấn nhân chứng địa phương và đối chiếu di tích thực địa nhằm xác minh nguồn gốc tên gọi, điều chỉnh các trường hợp nhầm lẫn tư liệu.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Tài liệu lưu trữ: Các phông tài liệu thuộc địa tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1; tài liệu Thư viện Quốc gia Pháp (Gallica); phông Ủy ban Hành chính TP Hà Nội (1953-1976) và UBND TP Hà Nội (từ 1977 đến nay) tại Cục Lưu trữ thành phố Hà Nội.
- Văn bản pháp quy và tài liệu tra cứu: Nghị định đặt tên phố năm 1890; Danh mục 276 phố năm 1933; Quyết định đổi 60 tên phố của Thị trưởng Trần Văn Lai (tháng 8/1945); Tờ trình đổi 291 tên phố của Chủ tịch Trần Duy Hưng (tháng 12/1945); Danh mục 362 phố thời tạm chiếm (1946-1954); Bảng kê 377 phố năm 1964; Bảng thống kê 410 phố năm 2008; Bảng chỉ dẫn các phố Hà Nội (1951); Tiểu sử các tên phố Hà Nội của Thi Nham Đinh Gia Thuyết (1951).
- Địa bạ và thư tịch Hán Nôm: Địa danh Hà Nội thời Nguyễn, Địa chí Thăng Long Hà Nội qua thư tịch Hán Nôm (Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên dịch); Địa bạ cổ Hà Nội huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận (Phan Huy Lê chủ biên); Hà Nội qua tài liệu lưu trữ 1873-1954 (Đào Thị Diến chủ biên).
- Tài liệu văn học, dân gian và khảo sát điền dã: Tác phẩm của Phạm Đình Hổ, Hoàng Đạo Thúy, Thạch Lam, Vũ Bằng, ca dao dân ca Hà Nội (Bích Hằng sưu tầm) và tư liệu điều tra thực địa của chính tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Chương 1 phác họa bối cảnh tự nhiên, nhân văn và lịch sử đô thị Hà Nội, đồng thời thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ luận án.
- Điều kiện tự nhiên: Hà Nội nằm ở trung tâm tam giác châu Bắc Bộ (21°05' vĩ Bắc, 105°87' kinh Đông), mang địa hình "võng Hà Nội" hay "trũng Hà Nội", nghiêng từ tây bắc xuống đông nam. Trải qua 4 giai đoạn tiến hóa địa chất (vịnh > vụng > biển nông > đầm lầy than bùn), Hà Nội phát triển theo mô hình "đô thị thủy lợi và trị thủy" gắn liền với sông Hồng, sông Đáy, sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch. Đầu thế kỷ XIX, khu vực nội thành có tới 602 hồ đầm, đến năm 2002 trên bản đồ chỉ còn ghi nhận 44 hồ.
- Điều kiện nhân văn: Dân số Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ có sự biến động lớn (thời Minh Mệnh có 52.355 đinh; năm 1893 gồm 650 người Âu, 50.000 người An Nam, 1.200 người Hoa; năm 2009 đạt 6,2 triệu người). Hà Nội là nơi hội tụ thợ thủ công tài hoa từ "tứ trấn/tứ chiếng" hình thành các phố nghề, phường nghề, tiếp nhận các cộng đồng ngoại kiều (người Hoa, người Ấn, người Pháp) tạo nên lối sống thanh lịch đặc trưng.
- Tiến trình phát triển đô thị: Chuyển đổi từ mô hình trung đại (36 phường, quản lý theo cấu trúc tị > lư > đoàn > khu > huyện > phủ) sang đô thị hiện đại kiểu phương Tây dưới sự quy hoạch của chính quyền Pháp (giai đoạn 1888-1920 và 1920-1945 qua 3 đồ án của Ernest Hébrard, Louis Georges Pineau, Henri Cerutti). Giai đoạn sau 1954, Hà Nội trải qua các lần điều chỉnh địa giới lớn vào các năm 1961, 1978, 1991 và 2008 (năm 2008 đạt diện tích 3.444,7 km², gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị xã).
- Khung lý thuyết: Tổng hợp lý thuyết khu vực học, lý thuyết ký ức tập thể và lý thuyết địa danh học đô thị.
Chương 2: Phương thức, quy trình định danh và phân loại địa danh đường phố Hà Nội
Chương này đi sâu phân tích cơ chế hành chính và các mô hình phân loại địa danh đường phố:
- Các phương thức định danh: Luận án xác lập hệ thống tên đường phố Hà Nội được cấu thành từ hai phương thức chính: Phương thức miêu tả (miêu tả đặc điểm thực tế của đối tượng) và Phương thức chuyển hóa (chuyển đổi từ các danh xưng sẵn có sang làm tên phố).
- Quy trình định danh qua các thời kỳ:
- Thời kỳ Pháp thuộc: Quy trình mang tính hành chính hóa chặt chẽ, khởi đầu từ đề xuất của Tòa Đốc lý/Hội đồng thành phố, thông qua thảo luận và quyết định bằng Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ hoặc Toàn quyền Đông Dương.
- Thời kỳ từ sau 1954 đến nay: Quy trình thực hiện qua Hội đồng tư vấn đặt, đổi tên đường phố, các cơ quan chuyên môn thẩm định, Ủy ban nhân dân trình và Hội đồng nhân dân thành phố thông qua nghị quyết chính thức.
- Biến động số lượng tên phố trong không gian nghiên cứu:
| Mốc thời gian |
Thể chế / Văn bản ban hành |
Số lượng phố |
| 1888 / 1890 |
Chính quyền thuộc địa Pháp (Nghị định năm 1890) |
129 |
| 1933 |
Thống kê chính quyền thuộc địa Pháp |
276 |
| Tháng 8/1945 |
Chính phủ Đế quốc VN (Thị trưởng Trần Văn Lai ký đổi tên) |
60 (đổi tên) |
| Tháng 12/1945 |
Chính quyền cách mạng (Chủ tịch Trần Duy Hưng phê duyệt) |
291 (đổi tên) |
| 1946 - 1954 |
Chính quyền tạm chiếm ban hành danh mục |
362 |
| 1964 |
Chính quyền TP Hà Nội kê khai tại 4 khu phố nội thành |
377 |
| 2008 |
Địa bàn 4 quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng |
410 |
Chương 3: Địa danh đường phố Hà Nội đặt theo phương thức miêu tả
Chương 3 phân tích chi tiết các nhóm tên phố được hình thành theo phương thức miêu tả:
- Miêu tả đặc điểm địa lý:
- Địa lý tự nhiên: Phản ánh địa hình đầm hồ, cồn bãi, sông ngòi nguyên sơ của Hà Nội.
- Công trình xây dựng và cảnh quan nhân sinh: Tên phố miêu tả các kiến trúc hiện hữu (cửa ô, cầu, chợ, đình, chùa, đền hoặc công trình hiện đại thời Pháp như phố Philharmonique - Nhà kèn, phố Ngõ Ngang, đường Ướp Lạnh).
- Quá trình xây dựng đô thị: Phản ánh việc mở mang, san lấp hồ ao kiến thiết phố xá.
- Miêu tả hàng hóa và đặc trưng nghề nghiệp (Hệ thống phố "Hàng"):
- Khảo sát nguồn gốc các phố Hàng (Hàng Đào, Hàng Quạt, Hàng Khoai, Củ Nâu...) xuất hiện từ các làng nghề truyền thống tụ cư về kinh thành.
- Phân tích đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của tiền tố "Hàng" kết hợp với tên sản phẩm thủ công, dịch vụ thương nghiệp.
- Khảo sát sự biến đổi, thu hẹp hoặc chuyển đổi chức năng của các phố Hàng trong không gian đô thị hiện đại.
- Miêu tả tư tưởng: Các tên phố thể hiện khái niệm, lý tưởng chính trị - xã hội trừu tượng (như phố République thời Pháp thuộc, phố Giải Phóng xuất hiện trên bản đồ năm 1946).
- Đặt theo số đếm: Sử dụng số thứ tự để định danh (phổ biến tại khu vực Nhượng địa thời Pháp thuộc và hệ thống ngõ, ngách đánh số).
Chương 4: Địa danh đường phố Hà Nội đặt theo phương thức chuyển hóa
Chương 4 phân tích các nhóm địa danh ra đời từ việc chuyển đổi danh xưng:
- Chuyển hóa từ nhân danh (Nhân vật lịch sử - NVLS):
- Thời kỳ Pháp thuộc: Đặt tên phố theo các sĩ quan viễn chinh (Francis Garnier, Henri Rivière), các nhà thám hiểm, nhà chính trị Pháp và một số nhân vật người bản địa cộng tác.
- Thời kỳ 1945 và sau 1954: Các chính quyền Việt Nam tiến hành thay thế triệt để tên thực dân bằng tên các anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, danh nhân văn hóa, chí sĩ yêu nước và lãnh tụ cách mạng.
- Mối liên hệ giữa NVLS và thang độ tôn vinh (Politics of Scale): Thể hiện qua diện mạo vật chất của tuyến phố (chiều dài, chiều rộng, vị trí trung tâm hay ngoại vi tương xứng với sự đánh giá của thể chế đối với công lao của nhân vật).
- Chuyển hóa từ địa danh:
- Chuyển hóa từ địa danh truyền thống: Sử dụng tên các thôn, phường, làng, trại cổ có sẵn trên đất Hà Nội (dựa trên danh sách các làng được phân vào các khu phố năm 1905 và địa bạ Thọ Xương, Vĩnh Thuận).
- Chuyển hóa từ địa danh nơi khác và sự kiện lịch sử: Tên các tỉnh, thành, vùng miền trong cả nước, địa danh quốc tế (phố Phúc Kiến, phố Fou-Tcheou / Phúc Châu) hoặc tên các chiến thắng lịch sử.
- Địa danh chuyển hóa bị lỗi: Phân tích các trường hợp sai lệch chữ viết, nhầm lẫn khái niệm giữa địa danh và nhân danh trong quá trình biên soạn văn bản hành chính (ví dụ trường hợp phố Dương Thị Ái trong tờ trình năm 1945 thực chất là đường Thúy Ái gắn với làng và bến đò Thúy Ái; ngõ Tứ Vị trên bản đồ năm 1936).
Kết quả và những đóng góp mới
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế:
Luận án giới hạn phạm vi không gian nghiên cứu trong 4 quận nội thành cũ (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng). Do đó, những biến động địa danh tại các quận mới thành lập sau năm 1995 (Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Long Biên) và khu vực ngoại thành sáp nhập sau năm 2008 chưa được khảo sát chi tiết.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng địa bàn nghiên cứu địa danh đường phố ra toàn bộ các quận, huyện mới của Hà Nội sau mốc mở rộng địa giới hành chính năm 2008.
- Ứng dụng khung phân tích liên ngành của luận án để tiến hành nghiên cứu so sánh đối chiếu hệ thống địa danh đường phố Hà Nội với các đô thị lớn khác tại Việt Nam (như Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế).
Giá trị tham khảo
Câu hỏi thường gặp
-
Câu 1: Số lượng tên phố tại 4 quận trung tâm Hà Nội biến động như thế nào qua các mốc lịch sử chính từ năm 1888 đến năm 2008?
- Trả lời: Dữ liệu thống kê văn bản pháp quy trong luận án cho thấy số lượng phố tăng dần: Năm 1888/1890 có 129 phố; năm 1933 có 276 phố; tháng 8/1945 đổi tên 60 phố; tháng 12/1945 đổi tên 291 phố; giai đoạn tạm chiếm (1946-1954) ban hành danh mục 362 phố; năm 1964 ghi nhận 377 phố và đến năm 2008 đạt 410 phố.
-
Câu 2: Luận án phân chia địa danh đường phố Hà Nội thành các phương thức định danh cơ bản nào?
- Trả lời: Luận án phân loại hệ thống tên phố thành hai phương thức cơ bản: Phương thức miêu tả (gồm miêu tả đặc điểm địa lý, miêu tả hàng hóa/nghề nghiệp, miêu tả tư tưởng và đặt theo số đếm) và Phương thức chuyển hóa (gồm chuyển hóa từ nhân danh nhân vật lịch sử, chuyển hóa từ địa danh truyền thống/khu vực khác/sự kiện lịch sử, và các trường hợp chuyển hóa bị lỗi).
-
Câu 3: Khảo cứu điền dã đã giúp tác giả phát hiện và hiệu chỉnh sai lệch tư liệu cụ thể nào?
- Trả lời: Tác giả đã làm rõ trường hợp phố "Dương Thị Ái" ghi trong Tờ trình đổi tên phố năm 1945 của Bác sĩ Trần Duy Hưng thực chất là sự nhầm lẫn chữ viết từ "đường Thúy Ái" (gắn liền với địa danh làng Thúy Ái và bến đò Thúy Ái trên thực địa và bản đồ năm 1946), từ đó không xếp trường hợp này vào nhóm phố mang tên nhân vật lịch sử.
-
Câu 4: Thang độ tôn vinh (politics of scale) đối với nhân vật lịch sử được thể hiện như thế nào trong không gian đường phố Hà Nội?
- Trả lời: Thang độ tôn vinh thể hiện qua mối tương quan giữa sự đánh giá của thể chế cầm quyền đối với công lao của nhân vật lịch sử với diện mạo vật chất của tuyến phố: các nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn được đặt tên cho các đại lộ, trục đường trung tâm dài và rộng; ngược lại các nhân vật ít ảnh hưởng hơn được đặt cho các phố ngắn hoặc ngõ nhỏ ở vùng ven.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Phùng Thị Thanh Lâm là công trình khoa học chuyên khảo đã tái hiện tiến trình biến đổi 120 năm (1888-2008) của hệ thống tên đường phố tại 4 quận trung tâm Hà Nội dưới sự tác động của các thể chế chính trị và bối cảnh văn hóa - xã hội. Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành kết hợp chặt chẽ giữa khai thác tư liệu lưu trữ, phân tích ngôn ngữ - bản đồ và khảo sát điền dã, luận án đã xây dựng mô hình phân loại địa danh theo hai phương thức miêu tả và chuyển hóa, đồng thời giải mã cơ chế vận hành của ký ức tập thể trong không gian đô thị. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn ngữ liệu và luận cứ khoa học có giá trị cho ngành Việt Nam học, địa danh học và công tác quản lý đô thị hiện đại.