chương 1, luận án trình bày các vấn đề lý thuyết liên quan đến khu vực nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu như lý thuyết về khu vực học, lý thuyết ký ức tập thể và các khuynh hướng nghiên cứu về địa danh trong nước và trên thế giới. Phƣơng thức, quy trình định danh và phân loại địa danh đƣờng phố Hà Nội Chương 2 được dành để trình bày các nguyên tắc định danh địa điểm nói chung và địa danh đường phố nói riêng ở Việt Nam. Các nguyên tắc này sẽ được phân tích theo các thời kỳ lịch sử, chẳng hạn như thời kỳ trước Pháp thuộc, thời kỳ Pháp thuộc và tạm chiếm, và cuối cùng là thời kỳ từ năm 1954 đến năm 2008. 20 z Trong chương 2, chúng tôi cũng trình bày một số cách phân loại địa danh đường phố trong và ngoài nước.
Từ đó, chúng tôi sẽ đưa ra cách phân loại thích hợp đối với hệ thống địa danh đường phố Hà Nội trong giai đoạn 1888-2008. Địa danh đƣờng phố Hà Nội đặt theo phƣơng thức miêu tả Từ kết quả phân loại hệ thống địa danh đường phố Hà Nội được trình bày trong chương 2, chương 3 được dành để trình bày về các nhóm địa danh đường phố đặt theo phương thức miêu tả bao gồm nhóm địa danh miêu tả các đặc điểm địa lý, nhóm địa danh miêu tả các tư tưởng và nhóm địa danh đặt theo hệ thống số đếm. Mỗi nhóm sẽ được chia thành các tiểu nhóm với những đặc trưng tiêu biểu khác nhau. Địa danh đƣờng phố Hà Nội đặt theo phƣơng thức chuyển hóa Trong chương 4, luận án phân tích các nhóm địa danh đường phố Hà Nội đặt theo phương thức chuyển hóa bao gồm nhóm địa danh chuyển hóa từ nhân danh, nhóm địa danh chuyển hóa từ địa danh (bao gồm các tiểu nhóm như chuyển hóa từ các địa danh truyền thống, chuyển hóa từ địa danh khu vực khác hay từ sự kiện lịch sử) và nhóm địa danh chuyển hóa lỗi.
Cuối mỗi chương, chúng tôi đều trình bày tiểu kết chương trong đó thể hiện những nội dung và kết quả nghiên cứu trọng tâm của chương. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiên Hà Nội là vùng đất cổ có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài.
Những đặc điểm tự nhiên của Hà Nội khiến cho nơi đây trở thành một đô thị thủ đô “tự nhiên của bắc Việt Nam” như cách nói của nhà địa lý học Nguyễn Thiệu Lâu [155, tr. Mọi mạch núi đều tụ về Hà Nội dẫn đến các mạch thủy cũng tụ về đây rồi tỏa ra biển. Chính vì đặc điểm “ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh” [150, tr.241] mà Hà Nội trở thành khu vực xây dựng thành trì của các triều đại.
Ca dao về cảnh quan Hà Nội truyền thống đã khái quát đặc điểm tự nhiên của Hà Nội như sau: Nhị Hà quanh bắc sang đông Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này Bên cạnh đó, cảnh quan Hà Nội truyền thống còn được khái quát qua cụm từ “Núi Nùng, sông Nhị” miêu tả địa thế lưng tựa núi mặt hướng sông của vùng đất này. Về tọa độ địa lý, “trung tâm Hà Nội ở tọa độ địa lý 21005 vĩ tuyến bắc, 105087 kinh tuyến đông, nằm trên đường trục của tam giác châu Bắc bộ” [155, tr. Chính bởi đặc điểm địa hình của Hà Nội là nơi tụ hội của các mạch núi và mạch sông nên vùng thủ đô Hà Nội được gọi bằng thuật ngữ địa lý là “võng Hà Nội” hay “trũng Hà Nội”. Bởi địa thế lưng tựa núi, mặt hướng sông nên vùng châu thổ bắc bộ trong đó có khu vực Hà Nội không hoàn toàn bằng phẳng mà nghiêng từ “tây bắc xuống đông nam” [155, tr.
Châu thổ bắc bộ được chia thành ba vùng. Vùng thượng châu thổ “là một dải đất cao nhấp nhô những đồi và thung lũng, chạy suốt từ nam Bắc Giang, Vĩnh Phúc vòng xuống Hòa Bình cho đến Chợ Bến. Người ta quen gọi đấy là vùng trung du” [127, tr. Vùng trung tâm của châu thổ “là 22 z vùng đất già nhất và do đó ổn định nhất” trải dài “từ phía nam Sơn Tây về cho đến cửa sông Luộc, trên các nhánh sông Hồng, sông Đáy, sông Đuống và sông Luộc” [127, tr.
Vùng còn lại, “vùng hạ châu thổ sông Hồng bao chiếm một dải duyên hải chạy dài từ phía nam cửa sông Thái Bình đến tận Nga Sơn và ăn sâu vào phía trong đất liền đến tận Hải Dương” [127, tr. Khu vực Hà Nội thuộc vùng trung tâm của châu thổ bắc bộ. Quá trình hình thành vùng Hà Nội trải qua bốn giai đoạn từ “vịnh > vụng > biển nông > đầm lầy rộng lớn + với rừng (sau thành than bùn)” [155, tr. Quá trình địa lý này của Hà Nội cộng với sự đổi dòng của sông Hồng trong lịch sử đã tạo nên bộ mặt cảnh quan của Hà Nội là thành phố ngã ba sông, thành phố một bờ sông, thành phố sông hồ, tùy theo từng điểm nhìn của người quan sát.
Từ điểm nhìn của Trần Quốc Vượng, Hà Nội là “loại hình đô thị thủy lợi và trị thủy” [155, tr. Tính đến đầu thế kỷ 19, dấu ấn thành phố sông hồ còn thể hiện qua việc tồn tại đến 602 hồ (tính gộp cả các hồ thông nhau) [128, tr.71] trong khu vực bốn quận nội thành cũ là Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa và một phần quận Tây Hồ. Tuy nhiên, đến năm 2002, trên bản đồ Hà Nội chỉ còn ghi 44 hồ [128, tr. Bên cạnh sự phong phú về số lượng đầm hồ trong quá khứ, thủ đô Hà Nội còn được bao bọc bởi sông Hồng và một số chi lưu của nó như sông Đáy, sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch.
Đặc điểm tự nhiên nhiều sông hồ nói trên của vùng Hà Nội ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động tụ cư và sinh sống của người dân. Sông Hồng và các con sông nội đô vừa là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất vừa là mạng lưới giao thông quan trọng. Người dân họp chợ tại các cửa nước (là chợ ở ngã ba sông) [155, tr.46- 47] là các nơi giao thủy của các con sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Sét, và sông Thiên Phù. Cảnh quan tự nhiên của Hà Nội có nhiều sự thay đổi đáng kể kể từ khi người Pháp chiếm được quyền quản lý đô thị Hà Nội vào năm 1888 và xây dựng Hà Nội thành thành phố mang dáng dấp phương tây.
Đoạn sông Tô Lịch đổ ra sông Hồng và nhiều ao hồ bị người Pháp lấp để mở phố. Các cổng phố bị phá bỏ khiến không 23 z gian đô thị không còn sự chia cắt. Làng mạc xung quanh kinh thành trở thành phố sau nhiều hoạt động mở mang đô thị. Nằm ở trung tâm châu thổ bắc bộ, khí hậu Hà Nội có những đặc trưng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa rõ rệt.
Mùa hè thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều thường gây vỡ đê, lũ lụt. Trong thế kỷ 20, giai đoạn từ 1941 đến 1950 có lượng mưa trung bình cao nhất đạt 1845mm và năm 2008 được ghi nhận là năm có số ngày rét đậm kéo dài liên tục trong một đợt đạt mức kỷ lục là 29 ngày từ 21/1 đến 18/2 [105, tr. Với con sông Hồng bao mặt phía đông của thành phố và nhiều sông nhỏ trong nội đô, lũ lụt do vỡ đê sông Hồng đã được ghi chép nhiều trong lịch sử. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi một số trận lụt kinh hoàng ở kinh thành Thăng Long xưa như sau: “Năm Canh Ngọ (1270), “mùa thu, tháng 7, nước to.
Các đường phố ở kinh đô phần nhiều phải đi lại bằng thuyền bè” [152, tr.38]; “Canh Ngọ (1630), “Tháng 6, nước to đổ về. Sông Nhị đầy tràn, ngập vào các đường phố. Cửa Nam nước chảy như thác, phố phường nhiều người bị chết đuối. Lại đê điều ở các xã Yên Duyên, Khuyến Lương huyện Thanh trì bị vỡ, thóc lúa hao tổn, nhân dân đói kém” [151, tr.
Tuy nhiên, bên cạnh những biểu hiện tiêu cực của khí hậu như lũ lụt, hạn hán, thì đặc điểm khí hậu nhiệt đới đã khiến Hà Nội trở thành vùng đất có nhiều đặc sản. Dưới sông hồ có “Cá rô đầm Sét”, “cá Hồ Tây”, trên đồng ruộng có ớt Định Công, nhãn lồng làng Quang, ổi Quảng Bá, hoa Ngọc Hà, rau thơm làng Láng, cốm làng Vòng, the làng La, lĩnh làng Bưởi, v.v Những năm gần đây, việc mở mang đô thị Hà Nội quá nhanh chóng cộng với những ảnh hưởng tiêu cực chung của biến đổi khí hậu toàn cầu khiến những biểu hiện tiêu cực của khí hậu ở khu vực Hà Nội tăng mạnh. Nhiệt độ mùa hè tăng, ngập lụt nội đô xảy ra ngay cả khi không có hiện tượng vỡ đê, những chiếc hồ vốn vừa là những vựa cá vừa có chức năng như những chiếc máy điều hòa khổng lồ cho thành phố lại bị ô nhiễm nặng. Những con sông, mạch giao thông quan trọng một thời, trở thành những đường nước thải khổng lồ lộ thiên.
Cảnh quan tự nhiên truyền thống 24 z không còn, biến đổi khí hậu toàn cầu, và tác động của quá trình đô thị hóa là những nhân tố mà đô thị Hà Nội ngày nay phải đối mặt. Điều kiện nhân văn Một trong những yếu tố góp phần tạo nên đặc trưng của vùng đất Thăng Long-Hà Nội chính là sự gạn lọc và kết tinh các giá trị nhân văn của người “tứ chiếng” để tạo thành những đặc điểm riêng có của vùng đất này. Dấu vết định cư của con người ở vùng đất Hà Nội được ghi nhận từ lâu. Những chứng cứ khảo cổ học cho thấy con người đã cư trú ở Triều Khúc vào đầu thời kỳ đồ đá cũ [110, tr.
Đối với vùng đất ngày nay là nội thành Hà Nội, tài liệu văn bia “kể lại chuyện một nhân vật được vua Hùng đời cuối cùng cấp cho một phần đất tại làng Long Đỗ” [110, tr. Vị trí của làng này “nằm ở phía nam sông Hồng, nơi con sông Tô Lịch chảy qua” [110, tr. Những ghi chép về vùng đất về sau là trung tâm thủ đô Hà Nội ngày càng nhiều hơn. Đại Việt sử ký toàn thư ghi Lý Bí chống cự với quân nhà Lương và “bị thua ở cửa sông Tô Lịch”.
Đến thời thuộc Đường, Phùng Hưng nổi dậy chống lại giặc Đường và sau khi mất “đền thờ nay ở phường Thịnh Quang, ở phía đông nam ruộng tịch điền” [150, tr.