Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA DE TÀI 1. Những đặc trưng cơ bản của tan văn và tạp văn Trong văn xuôi, bên cạnh tiểu thuyết, các thé loại ky văn học có một tam quan trọng đặc biệt. Ký là thể loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở thế trực tiếp, ở những nét sinh động và tươi mới nhất. Tác pham ký vừa có khả năng đáp ứng được những yêu cầu bức thiết của thời đại, đồng thời vẫn giữ được tiếng nói vang xa sâu sắc của nghệ thuật.
Bao gồm nhiều thể loại khác nhau như ký sự, phóng sự, tuỳ bút, tản văn, tạp văn,. nên tính chất cơ động của ký còn được thể hiện ở chỗ ký có khả năng bám sát cuộc sống, phản ánh linh hoạt hiện thực bang nhiéu dang thức khác nhau [3; tr. Tản văn và tạp văn là những thé loại của ki. Hai tiêu loại nay vừa có những đặc trưng chung của thé kí nhưng đồng thời cũng có những nét riêng và thế mạnh riêng của mình.
Tản văn Từ trước tới nay, các thê loại trong văn học đương đại phong phú và đa dạng cho nên việc phân chia các loại hình sáng tác chỉ là một quan niệm theo quy ước lỏng lẻo, không thật sự rõ ràng. Có thể thấy, tản văn thường xuất hiện trong các tập tạp văn, tuỳ bút, có khi lại ở các tập bút kí, tiêu luận. Tản văn là thé loại văn học năng động, mang tính thời sự vì vậy nó có thé kịp thời nắm bắt và phản ánh những van đề nổi cộm lên trong đời sông xã hội hiện đại. Tất cả những điều nhỏ nhặt, lặt vặt nếu gom góp lại cũng đủ tạo nên một tản văn hoàn chỉnh.
Nói về tản văn, Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Tản văn là một loại văn xuôi ngăn gọn, súc tích. Thể loại có thể là trữ tình, tự sự, nghị luận hay miêu tả. Phương pháp khắc hoạ nhân vật chủ yếu thé hiện mọi điều trong đời sống hiện thực, không bắt buộc phải có cốt truyện mà chủ yếu là tái hiện được nét đặc trưng 12 của các yếu tô phản ánh hiện thực xã hội, nhằm bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả [23; tr. Lê Trà My trong bài viết Một cách nhìn về tản văn hiện đại có chia sẻ: Tan văn là thé loại văn xuôi ngắn gọn, không đòi hỏi một cốt truyện hoàn chỉnh, sáng tạo mà chỉ cần cấu tứ tác phẩm được triển khai dựa trên một vài tín hiệu thâm mĩ như hình ảnh, chỉ tiết hoặc một hiện tượng trong đời song cu thé.
Có rất nhiều các quan điểm xoay quanh khái niệm về tan văn tuy nhiên tat cả các quan niệm trên có điểm chung rằng: Tan văn một thé loại mang tính chất đời sông, kéo chúng ta tới gần với hiện thực đang diễn ra và thông qua đó tái hiện bức tranh đương đại ấy trong một khuôn khô. Điểm nhìn và cách lí giải sự kiện của tác giả là then chốt của tác phẩm. Kết cau tác phẩm chủ yếu dựa trên sự liên kết logic các sự kiện, nhân vật, hình anh, chi tiết với nhau nhằm bộc lộ tính chất của tản văn là nghệ thuật biểu hiện dùng những tín hiệu đó dé bộc lộ chủ thé. Do vậy, quan hệ giữa các chi tiết thường là quan hệ liên tưởng nhờ sự tưởng tượng phóng túng, bay bổng của nhà văn tạo nên ý tưởng độc đáo cho tác phẩm.
Những điều tưởng như tản mạn, ngẫu hứng kiểu “trà dư tửu hậu” lại được kết nối tạo thành một câu chuyện hấp dẫn. Tuy nhiên, không phải ai cũng viết hay, cũng truyền tải được câu chuyện đó đến độc gia. Tan văn có thé coi là thé loại có vẻ dễ viết nhưng khó hay, dé bị lan man, kể lễ dai dòng. Chính vì vậy, muốn viết được những tản văn hay đòi hỏi trình độ người viết phải tạo ra một trình tự, cau tứ mang tính nghệ thuật cao.
Ở mỗi thể loại văn học khác nhau, tác giả sẽ có sự bộc lộ về cái tôi nghệ sĩ khác nhau do đó tạo nên những nét riêng biệt, đặc trưng riêng vốn có của tác giả. Ở truyện ngắn, tiểu thuyết, thông qua hình tượng, tính cách của nhân vật là sự thể hiện an giấu của cái tôi của nhà văn. Cái tôi đó được bộc lộ rõ ràng hơn trong những tác phẩm thơ. Nhưng sự bộc lộ trực tiếp cái “tôi” rõ ràng nhất chính là trong tan văn, ở đó tác gia tan văn đã trực tiêp bày tỏ những quan điêm, ý kiên của minh 13 mà không giấu mình, khuất lắp sau một hình tượng nhân vật nào cả.
Cái “tôi” của tác giả chính là đặc điểm nỗi bật, đồng thời cũng dé so sánh tản văn với các thể loại văn học khác. Qua tác phẩm của họ, bạn đọc thấy ngay được tâm tư của tác giả. Thông qua tản văn ta có thé thấy được rõ nét về tính cách của tác giả. Có thé nói tản văn có thé dễ viết nhưng cũng tương đối khó viết đối với từng tác giả, bởi tản văn chính là sự bộc lộ cái “tôi”, là sự độc thoại nội tâm, đấu tranh tâm lý hay cũng là sự trò chuyện với chính bản thân tác giả.
Đối với những người có lỗi sống khép kín, ít muốn bộc lộ bản thân có lẽ tản văn sẽ không thích hợp với họ. Dựa trên nguyên tắc tự biểu hiện, người viết tan văn thường có xu hướng lấy ngay chính cuộc sống của mình ra làm chất liệu dé xây dựng tác phẩm. Do đó, sức mạnh của tản văn trước hết là nhân cách, bản lĩnh, tầm tư tưởng, cách nhìn, cách cảm và sự uyên bác của người cầm bút. Đỗ Phấn cũng như vậy, thông qua tản văn người đọc như thấy tác giả đang phác hoạ bức tranh về cuộc sống của chính mình một cách rõ nét, chân thực qua từng trang văn.
Về giọng điệu, tản văn được coi là thê loại ngẫu hứng nên giọng điệu thường như đang tâm sự, thủ thỉ, bộc bạch nỗi niềm của tác giả. Tản văn thích hợp với sự suy nghĩ, trầm tư, chiêm nghiệm qua từng câu chữ. Tâm tình, thủ thi nhưng chứa đựng day triết lí sâu sắc. Từ sau 1986, văn học bước vào thời kì đổi mới, tản văn mới bat đầu bước vào giai đoạn “lên ngôi”.
Tản văn lúc đó đã có chỗ đứng trong đời sống văn học đương đại. Năm 2005, nhà văn Đỗ Chu đã nhận được giải thưởng văn học của Hội nhà văn Việt Nam với tác phâm Tản mạn trước đèn, tản văn nở rộ trong thời kì đó: Tan mạn trước đèn (Đỗ Chu), Nhân trường hợp chị thỏ bông (Thảo Hảo), Ngau hứng sáng, trưa, chiêu, tối (Ta Duy Anh), Ngày mai của những ngày mai (Nguyễn Ngọc Tư). Ưu điểm của tản văn chính là ngắn gọn, súc tích, giàu cảm xúc. Chính vì thé nó thu hút được người đọc trong cuộc sống hối hả thời hiện đại nay.
Tản văn dần trở thành một thể loại văn học phổ biến, dễ tiếp cận và hoà nhập một cách dễ 14 dàng với đời sống con người. Chính vì lẽ đó, nó thu hút được đông đảo đội ngũ sáng tác.Trong thời đại công nghệ hoá, hiện đại hoá, bat kì ai cũng có thé viết tan văn trên mạng cá nhân của mình. Từ dân chuyên văn đến dân không chuyên đều có thể thoả sức sáng tác tản văn. Nhiều tác giả đã nhận được “trái ngọt” từ thể loại tản văn như Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thuý, Trung Sỹ, Uông Triều, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Truong Quy,.Tan văn như một mảnh đất mau mỡ cho giới tác giả văn chương thoả sức thử sức.
Ngay cả những cây bút trẻ cũng chọn tản văn như một thê loại chính để khắng định tên tuổi của mình như: Hamlet Trương, Iris Cao, Nguyễn Ngọc Thạch, Phan Ý Yên, Can Vân Khánh.Thê loại tản văn còn thu hút cả những người không thuộc ngành văn chương như: nhà sử học Cao Huy Thuần, nhà khảo cô học Nguyễn Thị Hậu, họa sỹ Phan Cam Thuong, nhac sy Duong Thụ, đạo diễn điện ảnh Việt Linh. đều là những cây bút tan văn rất độc đáo. Tuy nhiên, tản văn là thé văn dé viết nhưng khó hay. Đề đạt được thành tựu từ thể loại tản văn, các nhà văn cũng phải lao động hăng say, không ngừng nghỉ.
Ngày nay, với dung lượng về tác phẩm và số lượng người đọc, sáng tác đạt tới mức đỉnh cao đã chứng minh cho tầm quan trọng của tản văn trong đời sống văn học đương đại. Tản văn có lẽ chính là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người hiện đại trở nên xúc cảm hơn. Tạp văn Tap văn là một thé loại có nhiều nét tương đồng so với tan văn nhưng vẫn có nét độc đáo riêng. Tuy nhiên đây là một thể loại văn học khá đặc biệt, không thuần nhất cho nên hiện nay vẫn chưa có định nghĩa chính xác về tạp văn.
Có rất nhiều ý kiến, quan điểm trái chiều nhau về khái niệm tạp văn. Ở Việt Nam, thé loại tạp văn, tản văn được hình thành khá sớm và ngày nay đang nhận được sự quan tâm của độc giả. Không chỉ tản văn mà tạp văn cũng đã có tần suất xuất hiện tương đối cao và có sự thường xuyên hơn trên các ấn phẩm, tờ báo, tạp chí văn học. Có rất nhiều nhà văn gây được an tượng mạnh qua thé loại 15 tạp văn như: Nguyễn Khải, Đỗ Chu, Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc Tư.
Đặc biệt, Nguyễn Việt Hà với các tuyên tập: Dan bà uống rượu, Nhà văn thì chơi với ai, Mặt của đàn ông, Con giai phố cổ với số lượng bài viết khá lớn cung cấp cho người đọc cái nhìn mới đa diện, nhiều chiều về con người và cuộc song. Giống với tản văn, tạp văn cũng có độ dài vừa phải, tương đối ngắn gon, xúc tích nhưng lại không kém phần lắng đọng, sâu lắng. Trong tạp văn, người đọc thấy được những hình ảnh, bức tranh sống động về cuộc sống, về con người nhưng lại an chứa những vấn đề lớn mang tính chính trị xã hội. Người ta gọi tạp văn là “viện bảo tàng của cuộc sông” chính vì đề tài tạp văn vô cùng phong phú đa dạng hầu như đề cập đến mọi vấn đề trong xã hội.
Đề tài nổi bật của tản văn không thể không nhắc đến đề tài về văn hóa, phát triển và giáo dục. Thông qua tạp văn, các tác giả cho người đọc hình dung được hoạt cảnh đang là vấn đề nóng, gây nhức nhối của xã hội Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của tạp văn là tinh thời sự, chính luận; các tác gia đã dựa vào đó dé thé hiện, bộc lộ ý kiến của bản thân về van dé dang nói tới, bài trừ hoặc khen ngợi đều rõ ràng, công khai.