Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Việt Nam học của tác giả Nguyễn Thị My (lớp K56 Việt Nam học, Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, do TS. Nguyễn Việt Hương hướng dẫn, năm 2015) tiếp cận chợ truyền thống dưới góc độ văn hóa học, nhân học đô thị và kinh tế - xã hội.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng Thăng Long – Hà Nội vốn là vùng đất Kẻ Chợ với mạng lưới chợ phong phú, phản ánh sinh động nếp sống dân cư và phương thức kinh tế nông nghiệp – thủ công nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, trước sức ép đô thị hóa và xu hướng thương mại hiện đại, các thiết chế mua sắm như siêu thị, trung tâm thương mại tăng nhanh, trong khi nhiều chợ truyền thống bị phá bỏ, xây mới hoặc cải tạo cao tầng. Nhiều mô hình cải tạo này bộc lộ bất cập, làm mai một các giá trị văn hóa cộng đồng và hoạt động buôn bán bị đình trệ. Chợ Bưởi là một trong những chợ cổ tiêu biểu của Hà Nội, vừa mang đặc trưng chợ phiên vùng ven đô, vừa là gạch nối kinh tế liên vùng giữa kinh thành và các vùng nông thôn phụ cận. Ngôi chợ đã được quy hoạch, xây mới và chuyển đổi cơ chế quản lý sang doanh nghiệp cổ phần, song hiệu quả hoạt động suy giảm nghiêm trọng.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua 3 nội dung:

  1. Làm nổi bật những nét đặc trưng và giá trị văn hóa của chợ truyền thống ở một đô thị lớn như Hà Nội, cụ thể hóa qua mô hình chợ Bưởi.
  2. Cung cấp cái nhìn bao quát về mạng lưới chợ truyền thống ở Hà Nội và đi sâu khảo sát diện mạo, hoạt động kinh doanh của chợ Bưởi truyền thống.
  3. Làm rõ sự biến đổi của chợ Bưởi trong tiến trình đô thị hóa của thủ đô, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của ngôi chợ truyền thống này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chợ truyền thống ở Hà Nội, tập trung khảo sát trường hợp điển hình là chợ Bưởi.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội, trọng tâm là vùng Kẻ Bưởi (phường Bưởi, quận Tây Hồ) và mối liên hệ với các tuyến giao thương liên vùng.
    • Thời gian: Khảo cứu từ lịch sử hình thành truyền thống (thời phong kiến, thời Pháp thuộc, thời bao cấp) đến thời điểm chuyển đổi mô hình (mốc chuyển đổi năm 2006) và khảo sát thực địa tại thời điểm năm 2014 – 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành và văn bản quy phạm pháp luật:

  • Khái niệm chợ và chợ truyền thống: Tác giả đối chiếu định nghĩa từ Đại từ điển Tiếng Việt (năm 2004), quan niệm thương mại theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương mại ("Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội"), góc nhìn kiến trúc – phong tục của KTS. Trần Bình ("nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ, tứ cận điền"), và nghiên cứu của các học giả chuyên ngành.
  • Khung phân loại chợ:
    • Theo tính chất pháp lý: Áp dụng Thông tư 15/TM-CSTTTN phân chia thành chợ hạng 1 (> 400 điểm kinh doanh), chợ hạng 2 (200 - 400 điểm kinh doanh), chợ hạng 3 (< 200 điểm kinh doanh).
    • Theo quy mô kết cấu: Chợ kiên cố (loại 1 diện tích trên 10.000 m², loại 2 diện tích từ 6.000 m² trở lên), bán kiên cố (loại 3, diện tích 3.000 – 5.000 m², niên hạn sử dụng dưới 10 năm), chợ tạm (lều quán không kiên cố).
    • Theo chức năng kinh doanh: Chợ tổng hợp và chợ chuyên doanh (ngành hàng chủ lực chiếm trên 60% doanh số).
    • Theo tính chất tổ chức và tập quán: Chợ đầu mối, chợ bán lẻ, chợ phiên, chợ ngày thường, chợ đen (thời bao cấp), chợ cóc, chợ di động (hàng rong), chợ đêm.
  • Đánh giá vai trò của chợ truyền thống: Phân tích trên 3 bình diện: kinh tế (kênh phân phối chính của nông sản, chiếm 20% – 30% tổng mức lưu chuyển bán lẻ cả nước theo thống kê của Bộ Công thương); xã hội (an sinh, việc làm cho lao động nhập cư, người mất đất nông nghiệp, kỹ năng trả giá); văn hóa (phản ánh tập quán vùng miền, nếp sinh hoạt "nửa thành nửa quê", gắn kết cộng đồng).

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa trực tiếp tại chợ Bưởi và một số chợ trên địa bàn Hà Nội để thu thập dữ liệu về không gian, quy mô buôn bán, cách thức giao dịch và tương tác xã hội.
  • Phương pháp thống kê: Khai thác số liệu từ Tổng cục Thống kê, Bộ Công thương, niên giám và báo cáo quy hoạch thương mại thành phố Hà Nội.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu không gian, phương thức quản lý, mặt hàng giữa chợ Bưởi xưa và nay; so sánh mô hình chợ truyền thống thuần túy với mô hình chợ kết hợp trung tâm thương mại; so sánh chợ Bưởi với các chợ khác (chợ Mơ, chợ Cửa Nam, chợ Đồng Xuân, chợ Hàng Da).
  • Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu: Nghiên cứu nguồn tư liệu thứ cấp từ các công trình sử học, văn hóa học của Nguyễn Thừa Hỷ, Đào Duy Anh, Đỗ Thị Hảo, Tô Hoài, Lê Văn Kỳ, Huỳnh Thị Dung, Trần Chiến, Thạch Lam, Mai Thục, Hữu Ngọc...

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về chợ truyền thống, phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội – dân số tác động đến mạng lưới chợ tại Hà Nội và đánh giá hiện trạng mạng lưới chợ thủ đô:

  • Bối cảnh tự nhiên – nhân văn: Hà Nội có diện tích 3.328,9 km², khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, mạng lưới sông ngòi dày đặc (sông Hồng, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Nhuệ). Năm 2014, dân số Hà Nội đạt khoảng 7,2 triệu người, mật độ trung bình 2.100 người/km² (gấp 8–9 lần cả nước), trong đó nội thành chiếm 53,07% và ngoại thành chiếm 46,93%. Lượng lao động nhập cư lớn tạo ra nhu cầu mua bán bình dân và thúc đẩy mạng lưới chợ phát triển đa dạng.
  • Lịch sử mạng lưới chợ: Từ thế kỷ XVII, Thăng Long đã có 8 chợ lớn (Cửa Đông, Cửa Nam, Đình Ngang, Huyện, Bà Đá, Văn Cử, Bác Cử, Ông Nước). Đến thế kỷ XIX, phố phường tách biệt rõ rệt theo nghề và "phố cũng chính là chợ". Mạng lưới hiện đại tồn tại nhiều loại hình: chợ đầu mối nông sản (Long Biên, Đền Lừ, Dịch Vọng Hậu); chợ trung tâm lịch sử (Đồng Xuân); chợ phiên cổ (chợ Bưởi họp ngày 4 và 9, chợ Mơ họp ngày 2 và 7 âm lịch); chợ đêm khu phố cổ (tối thứ Sáu, thứ Bảy, Chủ nhật hàng tuần từ Hàng Đào đến Đồng Xuân).

Hiện trạng phân loại và cơ cấu mạng lưới chợ trên địa bàn Hà Nội được tác giả tổng hợp qua các bảng số liệu:

Tiêu chí phân loại Số lượng (chợ) Tỷ lệ (%) Ghi chú cụ thể
Tổng số chợ toàn thành phố 411 100% Gồm 3 chợ đầu mối nông sản lớn
Phân theo địa giới hành chính
- 10 quận nội thành 103 25,06% Bình quân 10,3 chợ/quận
- Các huyện ngoại thành 308 74,94% Bình quân 16,5 chợ/huyện
Phân theo phân hạng quản lý (380 chợ)
- Chợ hạng 1 12 3,16% Trên 400 điểm kinh doanh
- Chợ hạng 2 69 18,16% Từ 200 đến 400 điểm kinh doanh
- Chợ hạng 3 299 78,68% Dưới 200 điểm kinh doanh
Phân theo quy mô kết cấu xây dựng
- Chợ kiên cố 67 16,30% Tập trung ở Hoàn Kiếm, Tây Hồ, Đống Đa...
- Chợ bán kiên cố 213 51,70% Niên hạn sử dụng dưới 10 năm
- Chợ lều lán tạm 131 32,00% Sóc Sơn (70%), Ba Vì (65%), Chương Mỹ (71%)

Tác giả chỉ ra rằng diện tích đất chợ bình quân đầu người tại Hà Nội chỉ đạt 0,25 m²/người, bằng 50% chỉ tiêu bình quân của cả nước.

Chương 2: Chợ Bưởi - Loại hình chợ truyền thống tiêu biểu của Hà Nội

Chương 2 đi sâu khảo sát trường hợp nghiên cứu chợ Bưởi:

  • Vùng Bưởi (Kẻ Bưởi): Vùng đất cổ ven hồ Tây và sông Tô Lịch, trung tâm thủ công nghiệp nổi tiếng với các làng nghề làm giấy dó (Nghĩa Đô, Yên Thái), dệt lĩnh (Trích Sài).
  • Lịch sử và vị trí: Chợ Bưởi nằm tại ngã ba giao cắt các tuyến đường Bưởi – Hoàng Hoa Thám – Lạc Long Quân, hình thành từ cửa ngõ Tây Bắc kinh thành Thăng Long, gắn liền với cả đường bộ và đường thủy cổ.
  • Tổ chức hoạt động kinh doanh buôn bán:
    • Thời gian họp: Chợ họp thường nhật phục vụ dân sinh, nhưng đặc sắc nhất là duy trì 6 phiên chợ chính trong tháng vào các ngày 4, 9, 14, 19, 24, 29 âm lịch.
    • Mặt hàng kinh doanh: Mang tính chuyên biệt độc đáo của chợ phiên nông nghiệp - sinh vật cảnh: hoa cây cảnh, cây giống nông nghiệp, con giống (chó, mèo, thỏ, gia cầm, chim cảnh, cá cảnh), dụng cụ nông nghiệp cổ truyền, kết hợp với sản phẩm thủ công làng nghề và hàng tiêu dùng dân sinh.
    • Cách thức buôn bán: Trả giá trực tiếp, giao lưu dân dã, phản ánh tâm thức mua sắm cộng đồng làng xã giữa lòng đô thị.
    • Tổ chức quản lý: Ban đầu do chính quyền cơ sở quản lý thông qua Ban quản lý chợ, đến năm 2006 chuyển giao sang Công ty Cổ phần Chợ Bưởi theo chủ trương doanh nghiệp hóa quản lý chợ.
  • Chợ Bưởi với đời sống cư dân: Chợ không chỉ cung ứng thực phẩm cho vùng Kẻ Bưởi mà là điểm kết nối kinh tế của cư dân nội đô, phục vụ thú chơi hoa, sinh vật cảnh tao nhã của người Hà Nội và cung cấp giống cây, vật nuôi cho nông dân các huyện lân cận.

Chương 3: Chợ Bưởi xưa và nay

Chương 3 tập trung phân tích sự biến đổi của chợ Bưởi và xu hướng chuyển đổi mô hình chợ truyền thống tại Hà Nội:

  • Bản sắc "nửa thành nửa quê": Chợ Bưởi truyền thống phản ánh rõ nét đặc trưng của xã hội nông nghiệp lúa nước chuyển tiếp sang đô thị. Dù không gian trước đây chỉ là những dãy lều quán lụp xụp, chợ vẫn giữ được không khí thanh bình, gắn bó mật thiết với nhịp sống cư dân.
  • Hiện tượng chuyển đổi mô hình chợ tại Hà Nội: Khóa luận đánh giá thực trạng hàng loạt dự án chuyển đổi chợ dân sinh thành trung tâm thương mại cao tầng (Cửa Nam, Hàng Da, Chợ Mơ, Chợ Bưởi, Minh Khai, Thượng Đình). Tác giả nhận định nhiều dự án sau khi hoàn thành rơi vào tình trạng "xác không hồn", vắng tiểu thương, diện tích bỏ trống hoặc phải cho thuê làm văn phòng, ngân hàng, gây lãng phí nguồn lực. Dự án chợ Mơ là trường hợp giữ được sự tiếp nối nhờ bố trí chợ truyền thống tại tầng hầm và bảo tồn được các phiên chợ mùng 2 và mùng 7 âm lịch. Một số dự án cải tạo chợ sang trung tâm thương mại đã phải tạm dừng giải tỏa hoặc đình chỉ thi công do tiểu thương phản đối, tiêu biểu như chợ Ngã Tư Sở và chợ Thành Công (tháng 11/2014).
  • Thực trạng chợ Bưởi sau chuyển đổi: Sau khi được xây mới thành công trình kiên cố và giao Công ty Cổ phần Chợ Bưởi quản lý từ năm 2006, hoạt động buôn bán sa sút nghiêm trọng. Chợ mất dần sự nhộn nhịp vốn có; các dãy quầy bố trí chưa thuận tiện cho thói quen ghé mua nhanh; bãi giữ xe bất tiện; các gánh hàng rong, bán cây con giống tràn ra vỉa hè đường Hoàng Hoa Thám gây mất trật tự và mỹ quan đô thị.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đề xuất cụ thể:

Kết quả nghiên cứu chính

  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng 411 chợ của Hà Nội: 10 quận nội thành chỉ có 103 chợ (25,06%), 308 chợ nằm ở ngoại thành (74,94%); tỷ lệ chợ lán tạm ở các huyện ngoại thành ở mức rất cao (Sóc Sơn 70%, Ba Vì 65%, Chương Mỹ 71%); chỉ tiêu diện tích đất chợ bình quân của Hà Nội (0,25 m²/người) chỉ bằng một nửa mức trung bình cả nước.
  • Xác định nguyên nhân thất bại của việc chuyển đổi chợ truyền thống thành trung tâm thương mại: Quy hoạch vị trí chưa hợp lý, khảo sát nhu cầu thị trường thiếu chính xác, thiết kế kiến trúc đóng kín không phù hợp với thói quen mua sắm tiện lợi của người dân đô thị, và áp dụng cơ chế quản lý doanh nghiệp thiếu đồng bộ.
  • Làm rõ tính chất hai mặt tại chợ Bưởi: Việc xây dựng kiên cố hóa xóa bỏ được cảnh lều quán dột nát, nhưng cơ chế vận hành của Công ty Cổ phần Chợ Bưởi chưa phát huy hiệu quả, chưa bố trí không gian thỏa đáng cho mặt hàng đặc thù (sinh vật cảnh, cây con giống) và các ngày họp phiên.

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất

Tác giả xây dựng 6 nhóm giải pháp bảo tồn và phát triển chợ truyền thống Hà Nội, định hướng trực tiếp vào trường hợp chợ Bưởi:

  1. Quy hoạch mạng lưới: Dừng việc chuyển đổi ồ ạt chợ dân sinh thành trung tâm thương mại; rà soát nhu cầu thực tế từng địa bàn; kiên quyết dẹp bỏ chợ tự phát không phù hợp để hướng tới văn minh đô thị.
  2. Chuyển đổi mô hình kinh doanh linh hoạt: Xem xét áp dụng mô hình hợp tác xã kinh doanh chợ bên cạnh mô hình doanh nghiệp, giúp tiểu thương làm chủ và gắn quyền lợi với sự tồn tại của chợ.
  3. Đổi mới quản lý và nhân lực: Ban hành nội quy, quy chuẩn; đào tạo chuyên môn, kỹ năng chăm sóc khách hàng và bổ sung nhân sự marketing chuyên trách cho Công ty Cổ phần Chợ Bưởi; phối hợp với Công an phường Bưởi sắp xếp hàng rong vào khuôn viên chợ.
  4. Cải tạo cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật: Đầu tư làm lại đường sá quanh chợ và sân trong; cải tạo mái vòm, cửa kính, lắp quạt thông gió; mở rộng diện tích khu vực chợ phiên; chuyển bãi gửi xe ra phía ngoài gần đường Hoàng Hoa Thám; bố trí bãi rác xa khu bán hàng; quy hoạch bãi đất trống tổ chức trò chơi dân gian vào ngày phiên.
  5. Xây dựng văn hóa kinh doanh: Tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng cháy chữa cháy; chấm dứt tình trạng chèo kéo, nói thách, xô xát; hướng dẫn tiểu thương kỹ năng trưng bày hàng hóa; khuyến khích người tiêu dùng không mua bán ở chợ cóc, chợ vỉa hè.
  6. Bảo tồn các giá trị văn hóa đặc sắc: Duy trì mô hình chợ truyền thống kết hợp không gian văn hóa vùng miền; bảo tồn nguyên vẹn hình thức họp chợ phiên ngày 4 và ngày 9 âm lịch; duy trì các ngành hàng thủ công truyền thống của vùng Kẻ Bưởi.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

Tác giả tự nhận định rằng các tài liệu trước đây (của Đỗ Thị Hảo, Tô Hoài, Lê Văn Kỳ, Lam Khê...) chủ yếu dừng ở mức ghi chép tản mạn, ký sự hoặc khảo cứu lịch sử vùng Bưởi trước năm 1945, thiếu tài liệu về tổ chức quản lý và diện mạo chợ Bưởi đương đại. Khóa luận này đóng góp một công trình nghiên cứu hệ thống, cập nhật số liệu thực tế về chợ Bưởi trong giai đoạn đô thị hóa và tái thiết chợ sau năm 2006.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả chỉ rõ nguồn tư liệu thành văn về chợ Bưởi thời xưa còn ít và thiếu tính hệ thống; nguồn tư liệu hình ảnh lịch sử về chợ Bưởi cổ rất hạn chế, chỉ thu thập được một vài bức ảnh qua tài liệu cá nhân và mạng Internet. Bên cạnh đó, việc ghi chép cơ chế tổ chức quản lý chợ trước thời kỳ đổi mới chưa thật đầy đủ. Trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp cử nhân, tác giả chỉ đi sâu khảo sát một trường hợp đơn lẻ là chợ Bưởi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Dựa trên phạm vi và hạn chế nêu trên, hướng mở của đề tài là mở rộng điều tra xã hội học định lượng về biến động doanh thu, đời sống kinh tế của các hộ tiểu thương tại chợ Bưởi sau cải tạo; đồng thời triển khai nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa chợ Bưởi với hệ thống các chợ phiên sinh vật cảnh, chợ phiên nông nghiệp khác ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Lịch sử, Nhân học đô thị: Cung cấp khung lý thuyết, cách tiếp cận điền dã kết hợp liên ngành về thiết chế chợ truyền thống; phương pháp đối chiếu giữa tư liệu thư tịch cổ và thực địa hiện đại.
  • Các nhà nghiên cứu kinh tế thương mại và quy hoạch đô thị: Tham khảo hệ thống dữ liệu thống kê chi tiết về 411 chợ của Hà Nội tại thời điểm 2014 – 2015, đặc biệt là các phân tích thực chứng về nguyên nhân thất bại của các dự án biến chợ truyền thống thành trung tâm thương mại cao tầng.
  • Ban quản lý chợ và doanh nghiệp quản lý khai thác chợ: Tham khảo bộ đề xuất 6 nhóm giải pháp thực tế về cải tạo luồng tuyến giao thông, thiết kế bãi xe, hệ thống thông gió và tổ chức phiên chợ sinh vật cảnh tại chợ Bưởi.

Câu hỏi thường gặp

Chợ Bưởi họp vào những ngày nào trong tháng và mặt hàng buôn bán đặc trưng nhất là gì?

Chợ Bưởi họp thường nhật để phục vụ nhu cầu sinh hoạt dân sinh của cư dân địa phương. Tuy nhiên, nét văn hóa đặc trưng nhất là chợ họp 6 phiên chính trong mỗi tháng âm lịch vào các ngày: mùng 4, mùng 9, ngày 14, 19, 24 và 29. Mặt hàng kinh doanh truyền thống và nổi bật nhất trong các ngày phiên là hoa cây cảnh, cây giống nông nghiệp, con giống (chó, mèo, gia cầm, chim cảnh, cá cảnh), công cụ nông cụ cày cuốc cấy hái và sản phẩm thủ công làng nghề truyền thống vùng Kẻ Bưởi.

Chợ Bưởi đã trải qua quá trình chuyển đổi mô hình quản lý và xây dựng như thế nào?

Trước đây, chợ Bưởi hoạt động theo mô hình chợ truyền thống với các dãy quán, lều lán lụp xụp do địa phương quản lý thông qua Ban quản lý chợ. Nằm trong dự án quy hoạch chợ của thành phố Hà Nội, chợ Bưởi đã được đầu tư xây dựng mới khang trang, kiên cố. Từ năm 2006, chợ chuyển đổi hình thức quản lý từ mô hình Ban quản lý nhà nước sang mô hình doanh nghiệp do Công ty Cổ phần Chợ Bưởi trực tiếp quản lý và khai thác kinh doanh.

Thực trạng mạng lưới chợ tại Hà Nội được tác giả thống kê như thế nào?

Tại thời điểm nghiên cứu, thành phố Hà Nội có 411 chợ, bao gồm 3 chợ đầu mối lớn (Long Biên, Đền Lừ, Dịch Vọng Hậu) cung cấp 70% – 80% rau quả tươi cho thành phố. Trong 380 chợ đã phân hạng, có 12 chợ hạng 1, 69 chợ hạng 2 và 299 chợ hạng 3. Về phân bố địa lý, 10 quận nội thành có 103 chợ (chiếm 25,06%), trong khi các huyện ngoại thành có tới 308 chợ (chiếm 74,94%). Về chất lượng công trình, toàn thành phố có 67 chợ kiên cố (16,3%), 213 chợ bán kiên cố (51,7%) và 131 chợ lán tạm (32%), trong đó tỷ lệ chợ lán tạm tập trung rất cao ở các huyện ngoại thành như Sóc Sơn (70%), Ba Vì (65%), Chương Mỹ (71%). Diện tích đất chợ bình quân chỉ đạt 0,25 m²/người, bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước.

Vì sao tác giả cho rằng nhiều dự án cải tạo chợ truyền thống thành trung tâm thương mại ở Hà Nội hoạt động kém hiệu quả?

Khóa luận chỉ ra rằng các dự án cải tạo như chợ Cửa Nam, Hàng Da, Thượng Đình, Minh Khai rơi vào tình trạng "xác không hồn", vắng tiểu thương và khách hàng là do: công tác quy hoạch, lựa chọn vị trí chưa hợp lý; điều tra nhu cầu thị trường khu vực thiếu chính xác; vị trí chợ mới gây khó khăn cho việc dừng đỗ xe và giao thông; thiết kế kiến trúc cao tầng đóng kín không tương thích với tập quán ghé mua nhanh, lựa chọn hàng tươi sống và trả giá trực tiếp của người dân đô thị. Ngược lại, trung tâm thương mại chợ Mơ hoạt động khả quan hơn nhờ bố trí chợ truyền thống ở tầng hầm, miễn phí gửi xe và giữ được các phiên chợ mùng 2 và mùng 7 âm lịch.

Tác giả đề xuất những can thiệp vật chất – kỹ thuật cụ thể nào cho chợ Bưởi?

Để khắc phục tình trạng buôn bán tiêu điều sau xây mới, tác giả đề xuất: làm lại mặt đường quanh chợ và sân trong để đảm bảo khô ráo, sạch sẽ; cải tạo hệ thống vòm che, vách kính và bổ sung quạt thông gió; mở rộng diện tích dành riêng cho khu vực chợ phiên; ưu tiên ngành hàng thủ công vùng Bưởi; đưa bãi gửi xe ra phía ngoài gần đường Hoàng Hoa Thám để thuận tiện tiếp cận; bố trí bãi rác cách xa quầy bán hàng; và quy hoạch phần đất trống trong khuôn viên chợ để tổ chức trò chơi dân gian vào các ngày phiên.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị My đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực trạng mạng lưới chợ truyền thống Hà Nội, đồng thời phân tích sâu sắc trường hợp nghiên cứu chợ Bưởi trong giai đoạn đô thị hóa. Công trình chỉ ra những bất cập thực tế trong việc kiên cố hóa và chuyển đổi cơ chế quản lý chợ sang doanh nghiệp cổ phần từ năm 2006, khiến chợ Bưởi suy giảm sức hút dù vẫn duy trì các phiên chợ ngày 4 và ngày 9 âm lịch. Hệ thống 6 nhóm giải pháp do tác giả đề xuất mang tính đồng bộ, đóng góp tư liệu và luận cứ thiết thực cho công tác bảo tồn không gian văn hóa chợ phiên truyền thống giữa lòng đô thị Hà Nội hiện đại.