PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hoa và cây kiểng được xác định là một trong năm ngành hàng nông nghiệp chiến lược trong đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 (bao gồm lúa gạo, xoài, cá tra, vịt và hoa, kiểng). Hàng năm Đồng Tháp cung cấp hàng trăm loại hoa, kiểng cho người tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu. Những năm gần đây, diện tích hoa, kiểng ở Đồng Tháp đã không ngừng gia tăng từ 1.570 ha (năm 2018); trong đó, thành phố Sa Đéc chiếm diện tích lớn nhất trong toàn tỉnh, từ 400 ha (năm 2014) lên 526,98 ha năm 2018 (UBND TP.
Sa Đéc, 2018), con số này đã vượt quy hoạch về diện tích phát triển hoa kiểng của tỉnh đến năm 2020 khoảng 400 ha (UBND tỉnh Đồng Tháp, 2008). Thành phố Sa Đéc không chỉ là vùng sản xuất hoa, kiểng lớn nhất của tỉnh Đồng Tháp mà còn là một trong ba vùng sản xuất hoa, kiểng lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nằm trong xu hướng chung của ngành hoa, kiểng của tỉnh, nghề trồng hoa và cây kiểng ở Sa Đéc ngày càng gia tăng cả về diện tích và chủng loại. Hoa và cây kiểng ở đây được sản xuất quanh năm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường, nên thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng, từ các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, TP.
HCM đến các tỉnh miền Trung, thành phố Hà Nội và xuất khẩu tiểu ngạch sang Campuchia, Lào và Trung Quốc và hiện có bốn nhóm hoa, kiểng chính được trồng trên địa bàn gồm: (1) hoa tết, (2) kiểng cổ, bon sai, (3) kiểng công trình, (4) kiểng nội thất. So với các loại cây trồng khác, trồng hoa - kiểng có hiệu quả kinh tế cao, bình quân doanh thu 01 ha trồng hoa và cây kiểng đem lại lợi nhuận trong năm đạt khoảng 400 triệu đồng, hiệu quả gấp 6 – 7 lần so với trồng lúa (Sa Đéc bốn mùa khoe sắc (Nhựt Trang, 2017). Hoa và cây kiểng đang góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế, tạo thu nhập và giải quyết việc làm cho nhiều hộ nông dân trong tỉnh. Phát triển nghề trồng hoa, kiểng, thành phố Sa Đéc có nhiều thế mạnh cả về thời tiết, khí hậu, nguồn nước và con người.
Trồng hoa và cây kiểng là một nghề có 1 Luan van truyền thống lâu đời ở Sa Đéc (hơn 100 năm kinh nghiệm) (Nhựt trang, 2017), nên tích lũy được nhiều người có kinh nghiệm và tay nghề tốt, cùng sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phương; các hộ trồng hoa và cây kiểng của vùng đã từng bước đầu tư trồng hoa và cây kiểng tập trung với quy mô ngày càng mở rộng và sản xuất quanh năm. Tuy nhiên, nghề trồng hoa và cây kiểng ở Sa Đéc vẫn còn một số hạn chế như chưa tổ chức được ngành hàng từ sản xuất, dịch vụ cung ứng vật tư, kỹ thuật (khoa học công nghệ) và tiêu thụ sản phẩm; tổ chức sản xuất, kinh doanh hoa kiểng còn mang tính tự phát thiếu liên kết; chưa khai thác hết tiềm năng để tạo thu nhập từ các hoạt động dịch vụ khác của việc phát triển hoa kiểng. Những năm gần đây, nhu cầu sử dụng kiểng công trình ngày càng gia tăng trong các công trình xây dựng và nhất là các công trình công cộng, nhằm tạo vẻ mỹ quan cho đô thị và các công trình xây dựng hiện nay, góp phần vào việc thay đổi môi trường sống theo hướng tích cực, đưa con người hòa vào thiên nhiên và tránh bị ảnh hưởng bởi những tác động xấu do hiệu ứng đô thị hiện đại gây ra. Ngoài ra, theo mục tiêu về phát triển ngành hàng hoa, kiểng của tỉnh Đồng Tháp đã đặt ra trong đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh là: phát triển ngành hàng hoa kiểng thành ngành hàng chiến lược cấp tỉnh của Đồng Tháp theo hướng bền vững, có giá trị gia tăng cao thông qua tăng hiệu quả sản xuất.
Vì những lý do trên nên việc nghiên cứu thực hiện đề tài: “phân tích chuỗi giá trị ngành hàng hoa và cây kiểng tại tỉnh Đồng Tháp” là rất cần thiết. Do giới hạn về thời gian, nhân lực và kinh phí, nên đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu chuỗi giá trị kiểng công trình của tỉnh Đồng Tháp. Các công trình nghiên cứu có liên quan (trong và ngoài nước) Ở Việt Nam các nghiên cũng đã có nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị và nhất là các sản phẩm nông sản như: Nghiên cứu sử dụng lý thuyết liên kết chuỗi của GTZ, kết hợp khung phân tích chuỗi giá trị của FAO để phân mối quan hệ giữa các tác nhân, phân tích chi phí và lợi nhuận, giá trị gia tăng và đóng góp của chuỗi giá trị của bưởi Da xanh Bến Tre. Qua đó, đã chỉ ra bưởi Da xanh là loại cây ăn quả, có giá trị kinh tế cao, chi phí trung gian rất thấp nhưng giá trị gia tăng cao; đồng thời, xác định tác nhân người sản xuất (nông 2 Luan van dân) có tổng thu nhập cao nhất, nhưng khi chia ra trung bình mỗi hộ lại có thu nhập rất thấp, chỉ cao hơn tác nhân cửa hàng bán lẻ, nguyên nhân là do quy mô canh tác nhỏ (diện tích vườn) nên thời gian có công ăn việc làm của người nông dân không nhiều; tác nhân bán lẻ mặt dù có thu nhập trung bình là thấp nhất nhưng họ còn kinh doanh nhiều mặt hàng khác nữa, nên tổng thu nhập của họ khá cao và tác nhân thu gom – sơ chế có thu nhập trung bình hàng năm là cao nhất, nguyên nhân do họ kinh doanh với quy mô lớn nhất trong chuỗi, số lượng cơ sở kinh doanh này không nhiều, nên phân bổ thu nhập của họ là cao nhất (Hoàng Văn Việt, 2014).
Theo Trương Hồng Võ Tuấn Kiệt và cộng sự (2015) cho rằng sự rút ngắn kênh thị trường mang lại hiệu quả cao hơn cho sự vận hành kênh thị trường (tiết kiệm chi phí, gia tăng lợi nhuận) đối với chuỗi giá trị xoài Cát Chu ở Đồng Tháp; tác nhân được hưởng lợi khi rút ngắn kênh thị trường là tác nhân liền kề trước và liền kề sau (lợi ích liên kết dọc); xã viên và nông dân bán xoài cho Hợp tác xã lại có chi phí tăng thêm thấp, gia tăng được lợi nhuận (lợi ích liên kết ngang). Tuy nhiên, đối với chuỗi giá trị sản phẩm Cúc ở Hưng Yên cũng cho rằng, việc đóng góp vai trò lớn nhất để tạo ra giá trị gia tăng là tác nhân sản xuất (67,55%), nhưng tác nhân bán buôn lại đạt giá trị ngày công cao nhất (194.770 đ/ngày công) và cho rằng tác nhân chính trong chuỗi này vẫn là người sản xuất (Phạm Bảo Dương và Trần Thị Thu Trang, 2013). Theo Nguyễn Phú Son (2014) nghiên cứu về chuỗi giá trị lúa gạo ở huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, với việc áp dụng phân tích mô hình “5 lực lượng cạnh tranh của Porter”, phân tích SWOT, phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị theo của GTZ, phân tích hiệu quả tài chính để phân tích kinh tế chuỗi. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong tổng lợi nhuận của toàn chuỗi, hộ sản xuất chiếm tỷ trọng cao nhất với 36,8% tương ứng với lợi nhuận 953 đồng/kg gạo, kế đến là cửa hàng hay đại lý bán sỉ gạo chiếm 27,1% tổng lợi nhuận toàn chuỗi, tương ứng đạt lợi nhuận 700 đồng/kg gạo, đứng thứ ba là nhà máy xay xát chiếm 17%, tức đạt lợi nhuận 440 đồng/kg gạo, kế đến là thương lái chiếm 15,2% tương ứng được lợi nhuận 394 đồng/kg gạo, và sau cùng là cửa hàng hay đại lý bán lẻ chiếm 3,9% tương ứng đạt lợi nhuận 100 đồng/kg gạo.
Nghiên cứu chuỗi giá trị trong lĩnh vực trồng trọt cũng được tác giả Nguyễn Phú Son (2014) đề cập trong nghiên cứu giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị ớt tỉnh Đồng 3 Luan van tháp, tác giả đã đề xuất giải pháp phát triển liên kết ngang bằng cách xây dựng tổ hợp tác và hợp tác xã ớt nhằm cử người đại diện ra thương lượng giá khi bán với giá cao hơn bởi vì có nhiều người bán và ít người mua nên mua với giá khác nhau giữa các hộ trồng ớt. Theo Đoàn Minh Vương và cộng sự (2015) đã khảo sát về chuỗi giá trị trên cây Thanh Long của huyện Chợ Gạo, Tiền Giang và cho rằng đây làm sản phẩm có lợi thế cạnh tranh về điều kiện tự nhiên và chất lượng so với các vùng khác trong tỉnh. Chuỗi này có 5 tác nhân tham gia thị trường chuỗi giá trị (nông dân, thương lái, người bán sĩ (chợ đầu mối), người bán lẻ và công ty xuất khẩu), với tỷ lệ xuất khẩu chiếm 71,3% (trong đó có 80% được xuất sang Trung Quốc); đồng thời đã chỉ ra những hạn chế bất cập trong chuỗi này là: Trong sản xuất và tiêu thụ còn thiếu thông tin thị trường, giá bán chưa ổn định, lệ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc; nông dân sản xuất nhỏ lẻ, thiếu hợp tác, sản xuất theo GAP còn hạn chế, chất lượng chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường, giá thấp vào mùa thuận, thiếu hậu cần sơ chế và chế biến để nâng cao giá trị gia tăng cho Thanh Long. Ngày nay, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, việc hợp tác giao thương hàng hóa là tất yếu, nên việc thúc đẩy chuỗi liên kết trong xuất khẩu rau quả tươi cũng là vấn đề được đặt ra.
Theo Từ Minh Thiện (2016) cho thấy có 2 hình thức chuỗi liên kết trong nông nghiệp của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là liên kết ngang (là hình thức chuỗi liên kết các tác nhân trong cùng một khâu của chuỗi giá trị) và liên kết dọc (là hình thức liên kết các tác nhân trong các khâu khác nhau của chuỗi giá trị). Hiện nay, trong nông nghiệp có cả hai hình thức liên kết ngang và liên kết dọc. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng về kiểng công trình ở tỉnh Đồng Tháp - Phân tích cấu trúc của chuỗi giá trị kiểng công trình ở tỉnh Đồng Tháp, sự vận hành của chuỗi giá trị cũng như các quan hệ kinh tế, thương mại giữa các tác nhân tham gia chuỗi giá trị. - Đề xuất các giải pháp để phát triển chuỗi giá trị kiểng công trình ở Đồng Tháp.
Đối tượng nghiên cứu Do giới hạn về thời gian, nhân lực nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vào nhóm kiểng công trình. Tuy nhiên, kiểng công trình có rất nhiều loại như: cây kiểng công trình, các loại cỏ công trình và các loại hoa phục vụ theo yêu cầu của các công trình ở trong và ngoài tỉnh, nhất là các công trình nhà nước.