Mở đầu - Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu - Chƣơng 2. Nội dung, đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Kết luận và Kiến nghị - Danh mục các công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án - Tài liệu tham khảo - Phần Phụ lục.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ BIỂN VIỆT NAM VÀ VÙNG BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN Những ghi chép thành văn về các loài thủy sinh vật, bao gồm các loài cá, trai, ốc,. của Việt Nam đƣợc tìm thấy trong công trình của Lê Quý Đôn từ năm 1773.
Việc nghiên cứu về thủy sinh vật biển nói chung và cá biển nói riêng của Việt Nam đƣợc các nhà khoa học phƣơng Tây khởi sự rất sớm và sau đó các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục thực hiện [67]. Những nghiên cứu lớn trên vùng thềm lục địa Biển Đông 1. Thời kỳ trước năm 1954 Trong thời kỳ này, các nghiên cứu tập trung vào việc điều tra khu hệ, đánh giá năng suất, sản lƣợng khai thác của các nghề lƣới kéo đáy. Kết quả đã đƣợc công bố trong nhiều công trình nghiên cứu.
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu trong giai đoạn này phần lớn là sự đóng góp của các nhà khoa học nƣớc ngoài với các nhà khoa học Pháp là trung tâm. Nghiên cứu đầu tiên phải kể đến là đợt khảo sát của đoàn thám hiểm đứng đầu là Cook (cuối thế kỷ 18), Sauvage (1877),. Vào đầu thế kỷ 20, trong thời kì Pháp thuộc, những nghiên cứu về địa chất hải dƣơng, hải văn, thủy sinh vật và nghề cá đƣợc triển khai trên vùng thềm lục địa Biển Đông và các biển kế cận khá nhiều. Những công trình nghiên cứu đầu tiên về khu hệ cá đã đƣợc công bố là của Pellegrin (1905) mô tả khoảng 100 loài cá phân bố ở vùng biển vịnh Hạ Long và của Chabannaud (1926) với nghiên cứu về hình thái một số loài thuộc họ cá Mù làn, trong đó chủ yếu là các kết quả điều tra khu hệ cá ở biển Trung Bộ, Nam Bộ và vịnh Thái Lan [64,65,67].
Một trong những sự kiện quan trọng của giai đoạn này là sự ra đời của Viện Hải dƣơng học Đông Dƣơng vào năm 1922 (nay là Viện Hải dƣơng học, Nha Trang). Từ khi thành lập, trong quá trình hoạt động của mình gắn liền với tàu De Lanessan có trọng tải 700 tấn (1000 CV) đến trƣớc Đại chiến lần thứ II (1922- 1939), Viện đã công bố 49 công trình, đại bộ phận là các công trình tập trung vào thủy sinh vật và nghề cá biển; trong đó nổi bật là công trình của Chevey vào năm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1934 đã tổng kết toàn bộ các kết quả nghiên cứu trong giai đoạn 1925-1929 của Viện Hải dƣơng học Đông Dƣơng [64,65,67]. Tổng hợp các kết quả từ những công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật biển năm 1928-1929, 1929-1930, Krempf (1930) đã tập hợp đƣợc danh lục gồm 961 loài cá biển thuộc 457 giống, 162 họ, 28 bộ, trong đó có khoảng hơn 400 loài cá rạn san hô tại vùng biển Việt Nam [64,65,67]. Vào năm 1927, Nhật Bản đã sử dụng tàu Hakuho Maru (333 BRT) để thực hiện chƣơng trình đánh cá thử nghiệm tại vịnh Bắc Bộ.
Chƣơng trình này tiếp tục mở rộng và số lƣợng tàu tham gia thử nghiệm lên tới 20 chiếc vào năm 1937. Một số kết quả của chƣơng trình này đƣợc công bố trong công trình của Shindo vào năm 1937 [64,65,67]. Cũng tại khu vực biển vịnh Bắc Bộ, trƣớc đó vào năm 1926, Gruvel cũng đã công bố công trình nghiên cứu về khu hệ và mô tả một số loài cá [64,65,67]. Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975 Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc (1954), đội ngũ các nhà khoa học trong các lĩnh vực khoa học nói chung hay trong sinh học, thủy sinh học nói riêng đƣợc hình thành và ngày càng trƣởng thành.
Lúc này, tuy đất nƣớc vẫn bị chia cắt nhƣng hoạt động nghiên cứu biển vẫn đƣợc tiến hành trên cả hai miền. + Ở miền Bắc, lúc này một số cơ quan nghiên cứu biển cũng đã đƣợc thành lập, nhƣ Trạm Nghiên cứu Biển thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nƣớc thành lập vào tháng 7/1959, đến năm 1967 chuyển thành Viện Nghiên cứu Biển và nay là Viện Tài nguyên và Môi trƣờng Biển, Hải Phòng. Tiếp đó, vào năm 1961, Trạm Nghiên cứu cá biển thuộc Vụ Ngƣ nghiệp, Bộ Nông Lâm đƣợc thành lập (về sau trở thành Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng vào năm 1975),. cùng với sự ra đời và hoạt động của các cơ sở đào tạo nguồn lực nhƣ Trƣờng Trung cấp Nông Lâm (ở Chèm), Khoa Sinh vật (sau là Khoa Sinh học) - Trƣờng Đại học Tổng hợp Hà Nội, Khoa Thủy sản của Đại học Nông nghiệp I Hà Nội.
Từ năm 1959 đến 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hợp tác với Trung Quốc thực hiện chƣơng trình hợp tác “Việt-Trung” nghiên cứu tổng hợp vịnh Bắc Bộ do Trạm Nghiên cứu Biển và Viện Nghiên cứu Hải dƣơng Trung Quốc thực hiện. Chƣơng trình hợp tác đã tiến hành nghiên cứu xác định các bãi cá đáy, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguồn lợi cá đáy và gần đáy cũng nhƣ nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số loài cá đáy phục vụ cho sự phát triển nghề cá vịnh Bắc bộ trên các tàu Tiền Phong (250 CV) và tàu Hải Điều (1000 CV) [64,65,67]. Cũng vào thời điểm đó (1960-1961), nƣớc ta còn thực hiện chƣơng trình hợp tác “Việt-Xô” nghiên cứu vịnh Bắc Bộ do Trạm Nghiên cứu cá biển Việt Nam và Viện Nghiên cứu Nghề cá - Hải dƣơng học Thái Bình Dƣơng (Viện TINRO), Liên Xô thực hiện. Một trong những kết quả thu đƣợc trong hai chƣơng trình hợp tác Việt-Trung và Việt-Xô là đã thành lập hai bản danh sách cá vịnh Bắc Bộ với 608 loài (Trần Nho Xy và Nguyễn Nhật Thi, 1965) và 748 loài (Besednov, 1967) bên cạnh các phát hiện bƣớc đầu về các quy luật phân bố và khu tập trung cá, đặc điểm sinh học của một số loài cá kinh tế chủ yếu và đặc điểm của các yếu tố khí tƣợng hải văn [64,65,67].
Ngoài ra, trong năm 1963, 1964, Trạm Nghiên cứu cá biển đã sử dụng hai tàu Việt-Đức (90 CV) nghiên cứu nguồn lợi phía Tây vịnh Bắc Bộ [64,65,67]. Trong giai đoạn 1967-1972, công tác nghiên cứu biển ở miền Bắc không tiến hành đƣợc do chiến tranh phá hoại của Mỹ. Vào thời gian này, Trạm Nghiên cứu cá biển đã tổ chức các đội điều tra và tổng kết kinh nghiệm quần chúng đánh cá ven bờ ở tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Quảng Bình [64,65,67]. Năm 1971, dựa trên tƣ liệu hiện có, Viện Nghiên cứu Biển đã công bố Danh lục cá vịnh Bắc Bộ bao gồm 961 loài thuộc 457 giống, 162 họ và 28 bộ.
Bên cạnh đó, kết quả của các đợt khảo sát của chƣơng trình hợp tác Việt-Xô đã đƣợc tổng kết trong một chuyên khảo kinh điển và có giá trị khoa học lớn với tên là “Động vật giới vịnh Bắc bộ và điều kiện sống của nó” dƣới sự chỉ đạo của giáo sƣ E. Gurijanova vào năm 1972; và đến năm 1976, công trình nổi tiếng này đƣợc dịch và xuất bản bằng tiếng Việt trong tập “Sinh vật biển và nghề cá biển Việt Nam” [47,64,65,67]. + Ở các khu vực biển miền Trung, Nam bộ và vịnh Thái Lan, từ năm 1959- 1961, chƣơng trình hợp tác giữa Viện Hải dƣơng Scripps California (Hoa Kỳ) và Hải quân Thái Lan với chính quyền Sài Gòn (chƣơng trình NAGA) đã sử dụng tàu điều tra Stranger của Mỹ tiến hành điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên và đánh giá nguồn lợi thủy sinh vật Biển Đông và vịnh Thái Lan. Kết quả của chƣơng trình hợp 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác nđƣợc tổng kết trong ấn phẩm “Scientific result of marine investigation of the South China Sea and the Gult of Thailand 1959-1961” (Wyrky K.
Từ năm 1969 đến 1972, dƣới sự tài trợ của Chƣơng trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) và Tổ chức Nông lƣơng Thế giới (FAO), các nghiên cứu ngƣ nghiệp cũng đƣợc tiến hành nhằm giúp cho sự phát triển của nghề cá Nam Việt Nam từ phía đông đảo Hải Nam đến vịnh Thái Lan. Đó là hoạt động khảo sát của Kyokuyo Co Ltd. với 2 tàu Kyoshin Maru 52 (1000 CV) và tàu Hữu nghị (380 CV) [64,65,67]. Các kết quả của các chuyến khảo sát này đã đƣợc công bố trong 6 tập về “Nguồn lợi cá biển miền Nam Việt Nam” (từ tập 1 đến 6, Sài Gòn, 1975).
Giai đoạn 1968-1971 còn có chƣơng trình khảo sát nghề cá miền duyên hải Nam Việt Nam nhằm tìm kiếm ngƣ trƣờng, mở rộng khai thác ra vùng khơi Biển Đông. Tập hợp các kết quả nghiên cứu này, J. Thời kỳ từ năm 1975 đến nay Sau khi đất nƣớc thống nhất, công tác điều tra nghiên cứu biển càng đƣợc quan tâm và đẩy mạnh hơn, ngoài việc vẫn chú trọng vào điều tra khu hệ còn có các điều tra cụ thể về nghề cá cũng nhƣ các nghiên cứu về sinh học, sinh thái cá, ngƣ trƣờng, nguồn lợi và dự báo khai thác. Có thể tóm tắt một số mốc thời gian và các công trình quan trọng nhƣ sau: Trƣớc hết là đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi cá nổi ven bờ vịnh Bắc Bộ” đƣợc tiến hành với sự phối hợp của Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng và Viện Hải dƣơng học, Nha Trang (1974-1976).
Kết quả của Đề tài này đã cung cấp thêm những số liệu đáng tin cậy về điều kiện tự nhiên, môi trƣờng biển, các bãi đẻ, đặc điểm sinh học của một số loài cá kinh tế ở vịnh Bắc Bộ để Bùi Đình Chung tổng hợp vào năm 1976 [64,65,67]. Năm 1977-1978, Viện Nghiên cứu Hải sản đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Biển Bergen, Na Uy tổ chức 9 chuyến điều tra nguồn lợi cá nổi bằng máy dò thủy âm (EK 500 - 38, 50 và 120 kHz) [64,65,67] trên tàu nghiên cứu Biển Đông tại vùng biển vịnh Bắc Bộ. Đây là chƣơng trình đánh giá trữ lƣợng nguồn lợi cá nổi 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng phƣơng pháp thủy âm đầu tiên đƣợc thực hiện trên quy mô lớn ở Việt Nam. Kết quả của các chuyến điều tra này đã đƣa ra đƣợc các đánh giá bƣớc đầu về trữ lƣợng, phân bố của các đàn cá nổi nhỏ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ.
Nghiên cứu nổi bật trong thời kỳ này là đề tài “Điều tra nguồn lợi cá tầng giữa và tầng trên ở vùng biển Thuận Hải - Minh Hải”, giai đoạn 1978-1980.