Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi nằm cách đất liền khoảng 30 km, là khu vực biển nhiệt đới tương đối xa bờ, ít chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn nước ngọt lục địa. Điều kiện tự nhiên với các rạn san hô, vách đá và nền đáy đặc thù tạo môi trường thuận lợi cho sự sinh trưởng của nhiều nhóm sinh vật biển, đặc biệt là các loài tảo biển (rong biển). Tảo biển giữ vai trò cấu trúc nền tảng sinh thái biển, đồng thời cung cấp nguồn lợi kinh tế, thực phẩm và dược liệu quan trọng cho cộng đồng cư dân địa phương.

Mặc dù vùng biển Lý Sơn đã được quan tâm nghiên cứu từ năm 1978 (giai đoạn 1980–1985, các đợt khảo sát năm 2001, 2009, 2010, và gần nhất là các năm 2017–2018 của Đỗ Anh Duy và cộng sự ghi nhận 143 loài rong biển), phần lớn các công trình trước đây chỉ khảo sát vào cuối mùa phát triển hoặc giới hạn trong từng thời điểm ngắn hạn. Do đó, việc theo dõi, cập nhật cơ cấu thành phần loài, biến động phân bố không gian và hiện trạng khai thác rong biển qua chu kỳ nhiều tháng là yêu cầu thực tiễn cấp thiết phục vụ công tác quản lý tài nguyên và bảo tồn biển.

Đề tài xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mục tiêu tổng quát: Đánh giá độ đa dạng và đặc điểm phân bố của một số loài tảo biển tại Khu bảo tồn biển Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá mức độ đa dạng các loài tảo biển tại Khu bảo tồn biển Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi;
    • Đánh giá đặc điểm phân bố của một số loài tảo biển tại Khu bảo tồn biển Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi;
    • Xây dựng bản đồ phân bố tảo biển tại Khu bảo tồn biển Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài rong biển (tảo biển kích thước lớn) hiện diện trên địa bàn huyện đảo Lý Sơn.
  • Phạm vi không gian: Vùng biển ven đảo Lý Sơn, bao gồm đảo Lớn (xã An Hải, xã An Vĩnh) và đảo Bé (xã An Bình), tỉnh Quảng Ngãi.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 7/2020 đến tháng 4/2021; thời gian khảo sát thực địa và thu mẫu ngoài hiện trường diễn ra từ tháng 11/2020 đến tháng 4/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu sử dụng các cơ sở phân loại học thực vật thủy sinh, tiêu chuẩn phân loại rong biển và hệ thống các văn bản pháp lý về bảo tồn tài nguyên sinh vật tại Việt Nam:

  • Khung phân loại và pháp lý: Khóa phân loại hình thái rong biển dựa theo tài liệu chuyên khảo "Rong câu Việt Nam: Nguồn lợi và sử dụng" (Lê Như Hậu, 2010); Sách Đỏ Việt Nam (2007); Quyết định số 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/7/2008 và Thông tư số 01/2011/TT-BNNPTNT ngày 05/01/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển.
  • Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu: Thu thập, xử lý các nguồn tư liệu thứ cấp đã công bố về thành phần loài, phân bố và hiện trạng khai thác rong biển ở Việt Nam, khu vực ven biển miền Trung và vùng biển đảo Lý Sơn.
  • Phương pháp điều tra thu mẫu ngoài thực địa: Điều tra vùng triều và dưới triều theo phương pháp mặt cắt thẳng góc với đường bờ. Trên mỗi mặt cắt bố trí 3 điểm thu mẫu tương ứng các tầng triều (cao triều, trung triều, thấp triều). Tại mỗi điểm, sử dụng ô tiêu chuẩn kích thước 0,5 m × 0,5 m (thu 3 mẫu đại diện/điểm). Mẫu tươi được cố định trong dung dịch nước biển chứa formaline 5%; mẫu khô được làm tiêu bản trên giấy croki và ép giấy báo. Khảo sát thực hiện trên 44 ô tiêu chuẩn, thu thập tổng cộng 150 mẫu rong.
  • Phương pháp định dạng loài: Sử dụng phương pháp hình thái so sánh, quan sát đặc điểm hiển vi và đối chiếu với khóa định loại chuyên ngành.
  • Phương pháp điều tra xã hội học/cộng đồng: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp cư dân địa phương bằng phiếu điều tra (15 phiếu) nhằm ghi nhận hiện trạng phân bố theo độ sâu, mùa vụ xuất hiện, sản lượng khai thác và nguyên nhân suy giảm nguồn lợi.
  • Phương pháp xây dựng bản đồ: Xử lý dữ liệu tọa độ không gian và phân bố loài bằng phần mềm MapInfo trên nền hệ tọa độ quốc gia VN-2000, tỉ lệ 1:25.000.

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ giá trị sinh thái và kinh tế của hệ sinh thái tảo biển tại huyện đảo Lý Sơn. Chương này xác định rõ mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu đa dạng sinh học cho Khu bảo tồn biển Lý Sơn.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu về đa dạng và phân bố tảo biển trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam:

  • Trên thế giới: Thống kê khoảng 4.000 loài rong biển thuộc 3 nhóm chính (rong Nâu, rong Đỏ, rong Lục). Tổng kết lịch sử khảo sát tại Ấn Độ (từ mẫu vật Amphiroa năm 1672 đến danh lục 865 đơn vị phân loại), Peru (260 đơn vị phân loại với sự ưu thế của Rhodophyta), và Nhật Bản (với ít nhất 15 chi rong kinh tế).
  • Tại Việt Nam: Vùng biển Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển với khoảng 827 loài rong biển kích thước lớn (trong đó 121 loài có giá trị kinh tế, 65 loài làm thực phẩm, 56 loài dùng trong công nghiệp chiết xuất agar, alginate, carrageenan). Riêng vùng biển phía Nam có gần 500 loài. Dự án điều tra 19 vùng đảo (2010–2011) xác định 376 loài, trong đó đảo Lý Sơn ghi nhận số lượng loài cao nhất (125 loài). Tác giả tổng thuật các nghiên cứu riêng tại Lý Sơn từ năm 1978 đến các công trình của Đỗ Anh Duy và cộng sự (2017–2018 ghi nhận 143 loài thuộc 36 họ, 18 bộ của 4 ngành).

Chương 2: Đối tượng, nội dung, và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết vị trí địa lý vùng nghiên cứu, quy trình triển khai 4 nội dung kỹ thuật và các bước thực hiện phương pháp luận:

  • Bố trí 44 ô tiêu chuẩn (kích thước 0,5 m × 0,5 m) dọc các mặt cắt ven đảo Lớn và đảo Bé.
  • Quy trình xử lý và bảo quản 150 mẫu vật thu thập ngoài hiện trường (cố định formaline 5% cho mẫu ướt và ép tiêu bản giấy croki cho mẫu khô).
  • Kỹ thuật định danh hình thái so sánh và quy trình số hóa bản đồ phân bố bằng MapInfo ở tỉ lệ 1:25.000 (hệ tọa độ VN-2000).
  • Thiết kế phiếu khảo sát cộng đồng gồm các nội dung về thời gian phát triển, độ sâu, sản lượng thu hái và giá trị thương phẩm.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ số liệu phân tích định tính và định lượng thu được từ đợt khảo sát:

Ngành rong biển Tên khoa học Số lượng loài Tỷ lệ phần trăm (%)
Rong Đỏ Rhodophyta 15 53,5%
Rong Nâu Ochrophyta 7 25,0%
Rong Lục Chlorophyta 6 21,5%
Tổng cộng 3 ngành 28 100,0%
  • Cấu trúc phân loại: 28 loài đã ghi nhận phân bố trong 12 bộ và 13 họ. Bộ Ceramiales có số loài nhiều nhất (6 loài), kế tiếp là bộ Gelidiales (4 loài), Dictyotales (3 loài), Fucales (3 loài). Họ Rhodomelaceae chiếm ưu thế với 6 loài, họ Gelidiellaceae có 4 loài, họ Dictyotaceae và Sargassaceae mỗi họ có 3 loài. Nghiên cứu ghi nhận 01 loài mới bổ sung cho danh lục khu vực là Laurencia papillosa (ngành Rhodophyta, bộ Ceramiales, họ Rhodomelaceae).
  • Loài nguy cấp và loài ưu thế: Ghi nhận 01 loài nguy cấp nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh mục thủy sinh quý hiếm theo Quyết định 82/2008/QĐ-BNN là Hydropuntia eucheumatoides (rong Câu Chân Vịt, cấp EN). Các loài/nhóm ưu thế chiếm trên 80% sinh lượng gồm chi Sargassum (rong Mơ), Hydropuntia eucheumatoides, và các loài thuộc bộ Ulvales.
Tên loài Tên thông thường Giá trị kinh tế (Đơn giá khai thác) Công dụng / Giá trị sử dụng chính
Sargassum ilicifolium Rong Mơ Gai 10.000 đồng/kg Thực phẩm, hỗ trợ điều trị bướu cổ, ung bướu
Palisada parvipapillata Rong Bồng Bồng (Cum Cúm) 50.000 đồng/kg Chế biến gỏi, trộn thực phẩm, làm đẹp da
Hydropuntia eucheumatoides Rong Câu Chân Vịt 250.000 đồng/kg Nấu chè, làm đông sương, bồi bổ tăng cân
Ulva lactuca Rong Cải Biển (Mơ Xanh) 10.000 – 15.000 đồng/kg Nấu canh thực phẩm
Caulerpa lentillifera Rong Nho 100.000 đồng/kg Ăn tươi, nấu canh, nâng cao sức đề kháng
Gelidiella acerosa Rong Đông 5.000 đồng/kg Chiết xuất keo, nấu xu xoa (la xa)
  • Đặc điểm phân bố không gian và độ sâu: Số lượng loài tại các ô tiêu chuẩn dao động từ 2 đến 7 loài/ô. Về độ sâu, 22 loài phân bố ở vùng triều, 6 loài ở vùng dưới triều (có 4 loài xuất hiện ở cả hai vùng). Rong phân bố chủ yếu từ vùng trung triều đến độ sâu 3 m.
  • So sánh giữa đảo Lớn và đảo Bé: Đảo Lớn ghi nhận toàn bộ 28 loài, trong khi đảo Bé ghi nhận 16 loài. Có 12 loài chỉ xuất hiện tại đảo Lớn mà không bắt gặp tại đảo Bé (Acanthophora spicifera, Amansia rhodantha, Asparagopsis taxiformis, Caulerpa lentillifera, Caulerpa sertularioides, Chondrophycus tronoi, Dictyosphaeria cavernosa, Hormophysa cuneiformis, Padina gymnospora, Padina tetrastromatica, Parviphycus trinitatensis, Tricleocarpa fastigiata).
  • Tần suất xuất hiện trên ô tiêu chuẩn:
    • Tại đảo Lớn: Cao nhất là Gelidiella acerosa (12 lần), Palisada parvipapillata (11 lần), Sargassum ilicifolium (10 lần), Sargassum aquifolium (9 lần), Gracilaria arcuata (9 lần), Kappaphycus striatus (9 lần), Caulerpa lentillifera (8 lần), Ulva lactuca (8 lần), Ulva reticulata (7 lần).
    • Tại đảo Bé: Cao nhất là Sargassum aquifolium (4 lần) và Laurencia papillosa (4 lần).
  • Kết quả điều tra cộng đồng (n = 15): 100% người dân xác nhận rong phân bố quanh đảo (tập trung tại Đình Làng An Hải, Cây Đèn, phía sau Đồng Hộ, Thôn Tây, An Vĩnh); 87% ghi nhận độ sâu phân bố phổ biến 1–3 m, 13% ghi nhận 3–5 m; 82% xác định mùa phát triển mạnh nhất từ tháng 1 đến tháng 4 (18% cho rằng từ tháng 5 đến tháng 8). 100% người phỏng vấn đánh giá nguồn lợi rong biển giảm sút nghiêm trọng trong 5 năm gần đây do khai thác quá mức (dùng liềm tận thu, lặn hơi), sử dụng chất nổ khai thác cá và bão lũ (như bão số 9 Molave năm 2020). 100% người dân cho biết địa phương chưa có chính sách bảo vệ rong biển và chỉ có 10% người dân chủ động kiến nghị cần biện pháp bảo tồn.
  • Bản đồ phân bố: Bản đồ xây dựng trên MapInfo (1:25.000) chỉ ra xã An Hải có mật độ rong dày hơn xã An Vĩnh (khu vực An Vĩnh bị suy giảm do nạo vét, múc đất xây dựng cảng); Thôn Tây là nơi có mật độ phân bố dày nhất nhưng cũng chịu mức độ suy thoái cao nhất.

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp các kết quả chính về thành phần loài (28 loài), hiện trạng phân bố, tính chất suy thoái nguồn lợi và đưa ra 4 nhóm kiến nghị cụ thể cho cơ quan quản lý tại địa phương.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập danh lục 28 loài rong biển tại huyện đảo Lý Sơn thuộc 3 ngành (Rhodophyta: 15 loài; Ochrophyta: 7 loài; Chlorophyta: 6 loài), 12 bộ và 13 họ.
  • Xác định sự có mặt của 01 loài nguy cấp cần bảo vệ nghiêm ngặt (Hydropuntia eucheumatoides - cấp EN) và 6 loài có giá trị kinh tế trực tiếp phục vụ đời sống dân sinh.
  • Phân tích chi tiết tần suất xuất hiện và phân vùng sinh thái giữa đảo Lớn (28 loài) và đảo Bé (16 loài).
  • Thu thập số liệu điều tra cộng đồng phản ánh chính xác chu kỳ mùa vụ sinh trưởng (tháng 1 – tháng 4) và hiện trạng khai thác kinh tế (thu nhập trung bình 250.000 đồng/hộ/ngày khai thác; sản lượng khai thác tự nhiên 30–40 kg rong Đông/ngày, 4–5 kg rong Bồng Bồng/ngày).
  • Xây dựng thành công bản đồ phân bố 28 loài rong biển tại Khu bảo tồn biển Lý Sơn tỉ lệ 1:25.000 trên phần mềm MapInfo (hệ tọa độ VN-2000).

Kiến nghị của tác giả

  1. Chính quyền địa phương và các cơ quan ban ngành tại Lý Sơn cần ban hành các chính sách kiểm soát, hạn chế hoạt động khai thác rong biển tự nhiên mang tính hủy diệt.
  2. Ứng dụng và phát triển bản đồ nền phân bố rong biển để quản lý không gian và khoanh vùng bảo tồn các bãi rạn quan trọng.
  3. Tăng cường công tác giám sát, khảo sát định kỳ nhằm tiếp tục phát hiện các loài mới và theo dõi biến động quần xã.
  4. Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của hệ sinh thái rong biển đối với nguồn lợi thủy sản ven bờ.

Đóng góp về mặt khoa học

Bổ sung thêm 01 loài mới chưa từng được ghi nhận tại vùng biển đảo Lý Sơn trong các công trình trước đây là loài Laurencia papillosa (ngành Rong Đỏ, bộ Ceramiales, họ Rhodomelaceae). Cung cấp dẫn liệu thực địa cập nhật năm 2020–2021 về sự suy giảm số lượng loài ghi nhận được so với giai đoạn trước (từ 143 loài xuống 28 loài bắt gặp trong đợt khảo sát), làm cơ sở cảnh báo hiện trạng suy thoái tài nguyên sinh vật biển.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số lượng loài định danh trong đợt khảo sát (28 loài) thấp hơn đáng kể so với các công trình điều tra tổng thể dài hạn trước đây (như công trình 143 loài của Đỗ Anh Duy và cs., 2017–2018), do giới hạn về số lượng ô tiêu chuẩn (44 ô) và thời gian thu mẫu thực địa tập trung từ tháng 11 đến tháng 4. Dung lượng mẫu điều tra xã hội học còn nhỏ (15 phiếu phỏng vấn).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi và chu kỳ lấy mẫu liên tục trong nhiều năm; bổ sung các phương pháp phân tích sinh học phân tử kết hợp với hình thái học để nâng cao độ chính xác định loại; nghiên cứu sâu hơn về sinh khối, trữ lượng tức thời và khả năng di thực, nuôi trồng nhân tạo các loài có giá trị kinh tế như rong Câu Chân Vịt, rong Bồng Bồng.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận cung cấp nguồn tư liệu thực địa có giá trị chuyên môn cho:

  • Sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Sinh học biển, Sinh thái học, Hải dương học khi tìm kiếm số liệu thứ cấp và phương pháp điều tra thực địa vùng triều ven đảo.
  • Cán bộ quản lý Khu bảo tồn biển Lý Sơn và Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Ngãi: Tham khảo dữ liệu bản đồ phân bố (tỉ lệ 1:25.000) và danh mục các loài kinh tế, loài nguy cấp phục vụ công tác quy hoạch phân khu bảo tồn và kiểm soát khai thác.
  • Các phần đáng tham khảo nhất: Bảng danh mục thành phần loài chi tiết kèm tên tác giả danh pháp (Bảng 3.1), biểu đồ tần suất xuất hiện từng loài trên ô tiêu chuẩn tại đảo Lớn và đảo Bé, cùng hệ thống hình ảnh tiêu bản hình thái rong biển tại phần Phụ lục.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu loài rong biển tại đảo Lý Sơn và tỷ lệ giữa các ngành như thế nào?
Nghiên cứu ghi nhận được 28 loài thuộc 3 ngành, 12 bộ và 13 họ. Trong đó, ngành rong Đỏ (Rhodophyta) chiếm ưu thế lớn nhất với 15 loài (53,5%), tiếp theo là ngành rong Nâu (Ochrophyta) với 7 loài (25,0%), và ít nhất là ngành rong Lục (Chlorophyta) với 6 loài (21,5%).

2. Đề tài phát hiện loài nào mới so với các nghiên cứu trước đây tại đảo Lý Sơn?
Tác giả xác định được 01 loài mới chưa từng được công bố tại khu vực này trong các tài liệu trước là loài Laurencia papillosa Kützing, thuộc ngành Rong Đỏ (Rhodophyta), bộ Rong Lông Hồng (Ceramiales), họ Rhodomelaceae.

3. Loài rong biển nào tại Lý Sơn được xếp vào danh mục nguy cấp, quý hiếm?
Đó là loài Hydropuntia eucheumatoides (rong Câu Chân Vịt), được xếp ở mức độ đe dọa EN (Nguy cấp) theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh mục loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ theo Quyết định số 82/2008/QĐ-BNN và Thông tư 01/2011/TT-BNNPTNT.

4. Loài rong biển nào có tần suất xuất hiện cao nhất tại đảo Lớn và đảo Bé?
Tại đảo Lớn, loài xuất hiện nhiều nhất là Gelidiella acerosa (rong Đông) với tần suất 12 lần trên các ô tiêu chuẩn, tiếp theo là Palisada parvipapillata (11 lần). Tại đảo Bé, hai loài có tần suất cao nhất là Sargassum aquifolium và Laurencia papillosa (cùng xuất hiện 4 lần).

5. Người dân địa phương khai thác rong biển tập trung vào thời gian nào và những nguyên nhân nào làm suy giảm nguồn lợi?
Theo kết quả khảo sát 15 hộ dân, 82% xác nhận rong phát triển mạnh và được khai thác nhiều nhất từ tháng 1 đến tháng 4. Nguồn lợi rong biển suy giảm trong 5 năm gần đây xuất phát từ 3 nguyên nhân: khai thác quá mức (dùng liềm tận thu, lặn hơi), sử dụng phương tiện hủy diệt (chất nổ, lưới cá làm hư hại nền rạn), và tác động tiêu cực của thiên tai bão lũ hàng năm (điển hình như bão số 9 Molave năm 2020).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Văn Thạnh đã tổng hợp và đánh giá có hệ thống về hiện trạng đa dạng sinh học và đặc điểm phân bố của 28 loài rong biển tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Thông qua việc kết hợp các phương pháp điều tra mặt cắt ô tiêu chuẩn, định loại hình thái, khảo sát cộng đồng và số hóa bản đồ MapInfo tỉ lệ 1:25.000, nghiên cứu đã làm rõ sự khác biệt về thành phần loài giữa đảo Lớn (28 loài) và đảo Bé (16 loài), ghi nhận 01 loài nguy cấp (Hydropuntia eucheumatoides) cùng 01 loài mới bổ sung cho danh lục khu vực (Laurencia papillosa). Các dữ liệu về sinh thái, độ sâu và nguyên nhân suy thoái nguồn lợi cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác quy hoạch, quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh vật tại Khu bảo tồn biển Lý Sơn.