Đặt vấn đề Rươi biển Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages là một nguồn lợi thuỷ sản phong phú của Việt Nam. Rươi biển là loài động vật không xương sống, thuộc lớp giun nhiều tơ (Polycheata), sinh sống chủ yếu ở vùng nước lợ, có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn đối với hệ sinh thái cũng như đời sống của con người. Rươi biển có thành phần dinh dưỡng cao chứa 84% nước, 11,3% protit, 3,2 % chất béo, 0,18% phosphor. là nguồn thực phẩm cung cấp cho nhu cầu của người tiêu dùng với giá trị cao.
Ngoài những giá trị về mặt thực phẩm, rươi còn có giá trị về mặt sinh thái do thức ăn của rươi chủ yếu là mùn bã hữu cơ, các động thực vật, nên nó đóng vai trò quan trọng trong chu trình chuyển hóa vật chất. Đã có nhiều tác giả đã nghiên cứu về rươi, nhưng còn thiếu các nghiên cứu đồng bộ về điều kiện sinh thái với sự phát triển của nó đặc biệt là các ảnh hưởng này đến công tác bảo tồn rươi tại chỗ trong điều kiện tự nhiên. Hơn nữa, các kết quả còn chưa chỉ rõ mức độ tác động ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tại các sinh cảnh vùng đến sự tồn tại và phát triển của rươi. Đặc biệt các yếu tố đó liên quan đến công tác bảo tồn tại chỗ nguồn rươi của vùng.
Vì vậy, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sinh khối của rươi (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages) tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương” là rất cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được thực trạng một số yếu tố môi trường chính của đất (độ mặn, pH, thành phần cơ giới nền đáy, tổng Cacbon hữu cơ, tổng Phospho) liên quan đến sinh khối rươi. - Xác định được thực trạng một số yếu tố môi trường chính của nước (nhiệt độ, độ mặn, pH) liên quan đến sinh khối rươi. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu hiện trạng khai thác rươi tại KVNC - Điều tra mật độ, sinh khối của rươi tại KVNC 1 Luan van - Nghiên cứu đặc điểm tính chất lý, hóa học của nước tại KVNC - Nghiên cứu đặc điểm tính chất lý, hóa học của đất tại KVNC - Đánh giá mối tương quan giữa một số yếu tố môi trường (các chỉ số lý, hóa học của đất và nước) với mật độ và sinh khối rươi tại KVNC.
2 Luan van CHƢƠNG I. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về địa điểm nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Tứ Kỳ nằm phía Đông Nam tỉnh Hải Dương, vị trí địa lý từ 106015‟ đến 106027‟ kinh độ đông và 21048‟ đến 21055‟ vĩ độ bắc.
- Phía Bắc giáp thành phố Hải Dương; - Phía Tây giáp huyện Gia Lộc; - Phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Thanh Hà; Đông Nam giáp thành phố Hải Phòng; - Phía Tây Nam giáp huyện Ninh Giang. Tứ Kỳ nằm dọc theo trục tỉnh lộ 391 nối quốc lộ 5 (Hà Nội – Hải Phòng) và quốc lộ 10 (Hải Phòng - Thái Bình), trung tâm huyện cách Hà Nội 60 km về phía Đông Nam, cách Hải Phòng 35 km, cách trung tâm thành phố Hải Dương 17 km [17]. 3 Luan van Hình 1. Bản đồ hành chính huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải dƣơng (Nguồn: Trung tâm Công nghệ thông tin tỉnh Hải Dương) 4 Luan van 1.
Điều kiện tự nhiên 1. Điều kiện khí hậu Tứ Kỳ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc trưng nóng ẩm, mưa vào mùa hè và hanh khô vào mùa đông. Sự thay đổi nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá lớn, nhiệt độ trung bình khoảng 230C, tháng nóng nhất (tháng 6; 7) lên đến 360-370C, và tháng lạnh nhất xuống tới 60 - 70C (tháng 12;1). Tổng lượng nhiệt cả năm là 8.
Độ ẩm trung bình hàng năm là 80-85%, cao nhất là 99% và thấp nhất là 81%. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1500 - 1650 mm, năm cao nhất lên tới 2311 mm và năm thấp nhất là 1154 mm và phân bố rất không đều theo thời gian. Lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8, 9 (tháng 8 có lượng mưa cao nhất 416 mm). Trong khi đó, tháng 12 lượng mưa thấp nhất, chỉ đạt 11mm, cá biệt có những năm chỉ đạt 5mm [17].
Điều kiện thủy văn Tứ Kỳ nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình, sông Luộc và hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải (gồm sông Tứ Kỳ và sông Cầu Xe). Trên địa bàn huyện Tứ Kỳ có 02 sông lớn chảy qua là sông Thái Bình (đoạn qua Tứ Kỳ là 28,5 km), sông Luộc (đoạn qua Tứ Kỳ là 20 km). Nước thuỷ triều theo cửa sông Văn Úc và cửa sông Thái Bình ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống thuỷ văn cũng như môi trường thiên nhiên củ a huyện. Bên cạnh các sông lớn, huyện còn có trên 57,5 km sông thuộc hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải, đây lại là điểm cuối của hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải nên toàn bộ nước dồn về Tứ Kỳ để đổ ra sông Thái Bình (qua cống Cầu Xe) và ra sông Luộc (qua cống An Thổ).
Do hầu hết hệ thống bơm tiêu úng của một phần Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương đổ nước ra sông Bắc Hưng Hải, nên vào mùa mưa nhiều nước thượng nguồn đổ về kết hợp với triều cường làm cho hệ thống bờ kênh Bắc Hưng Hải và hệ thống Đê ở Tứ Kỳ chịu áp lực lớn như đê sông Thái Bình và đê sông Luộc [17]. Địa hình, địa mạo Tứ Kỳ là huyện thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Địa hình đất đai tương đối bằng phẳng có hướng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, cốt đất phổ biến từ 1m – 2m. Xét về tiểu vùng địa hình không đồng đều, cao thấp xen kẽ nhau giữa vùng cao và bãi thấp, bị nhiễm mặn.
Tuy vậy, so với các huyện nằm trong vùng đất phù sa sông Thái Bình đây vẫn là huyện có địa hình tương đối bằng phẳng. Được sự bồi lắng phù sa của sông Thái Bình và sông Hồng dưới hình thức pha trộn nên đất đai của huyện Tứ Kỳ mang đầy đủ các tính chất của phù sa được bồi đắp lâu đời, đất có màu xám, có cấu trúc hạt nhẹ, xen với đất thịt nhẹ, tầng canh tác từ 10 – 15 cm, thuận tiện cho việc thâm canh cây lúa nước, cây ăn quả và các loại rau màu thực phẩm khác [17]. Các nguồn tài nguyên a. Tài nguyên đất Diện tích tự nhiên của huyện là 17.019,01 ha, chiếm 9,77% diện tích tự nhiên của tỉnh Hải Dương.
Đất được hình thành do sự bồi lắng phù sa của sông Thái Bình và sông Hồng, do đó mang đặc tính của đất phù sa, địa hình tương đối bằng phẳng mầu mỡ phù hợp với việc trồng cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Ngoài lúa gạo, các sản phẩm nông nghiệp khác của huyện khá phong phú như rau, quả, cá nước ngọt… - Đất phù sa được bồi hàng năm trung tính ít chua (Pb): Đất có thành phần cơ giới nhẹ, giàu dinh dưỡng, hàm lượng mùn và lân tổng số khá, lân dễ tiêu từ trung bình đến giàu. Loại đất này rất thích hợp với cây rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày, tuy nhiên hàng năm thường bị ngập úng vào mùa mưa lũ. - Đất phù sa không được bồi, không glây (P): Đây là loại đất chính trong huyện, phân bố trên các chân đất cao, vàn cao và vàn.
Đặc điểm của đất có hàm lượng mùn từ trung bình đến khá, lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu khá, thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt trung bình. Loại đất này thích hợp cho việc trồng lúa, rau màu các loại và cây công nghiệp ngắn ngày. - Đất phù sa không được bồi, glây (Pg): Loại đất này phân bố ở địa hình vàn, vàn thấp và thấp trũng, tiêu nước khó khăn. Đây là loại đất chủ yếu canh tác hai vụ 6 Luan van lúa, do điều kiện ngập nước nhiều nên thiếu ôxy, vi sinh vật yếm khí hoạt động mạnh, quá trình khử ôxy mạnh nên đất có màu xám xanh.
Loại đất này có ưu thế trồng hai vụ lúa song cần có biện pháp để giảm sự phát triển của quá trình glây và quá trình chua hoá [17]. Tài nguyên nước Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt Tứ Kỳ chủ yếu do 2 con sông chính cung cấp, đó là sông Thái Bình, sông Luộc và một hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải chạy quanh và bao bọc lấy Tứ Kỳ với trên 100 km bờ đê. Nguồn nước ngầm: Theo kết quả khảo sát sơ bộ nước ngầm có trữ lượng lớn, phân bố ở độ sâu 15-25 m, song chất lượng không được tốt vì có nhiều tạp chất nhất là chất sắt. Nguồn nước ngầm hiện chưa khai thác, đây là nguồn nước dự trữ cho phát triển trong tương lai [17].
Điều kiện kinh tế - xã hội 1. Dân số, lao động Dân số huyện là 159.487 người, mật độ dân số là 937 người/km2 và được phân bố tương đối đồng đều giữa các xã trong huyện [1]. Trong đó: Số lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp là 64.846 người, chiếm 72,20%, ngành công nghiệp và xây dựng 13.654 người chiếm 15,20%, ngành dịch vụ, thương mại là 11.320 người, chiếm 12,6% [1]. Nông nghiệp Tỷ trọng giữa các ngành kinh tế có sự chuyển dịch: tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm (từ 54% năm 2016 xuống còn 45% năm 2017), tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng (từ 17% năm 2016 lên 23% năm 2017), tỷ trọng ngành dịch vụ thương mại tăng (từ 29% năm 2005 lên 32% năm 2010).
Tuy ngành nông nghiệp giảm về tỷ trọng trong cơ cấu nhưng giá trị sản xuất tăng đều qua các năm: năm 2010 đạt 1. Thu nhập bình quân/người/năm từ 4,2 triệu đồng/người/năm (2014) tăng lên 9,25 triệu đồng/người/năm (2016) [18]. Công nghiệp Cơ cấu công nghiệp – TTCN huyện Tứ Kỳ thiên về công nghiệp nhỏ và tiểu thủ công nghiệp, tập trung chủ yếu vào một số ngành công nghiệp như công nghiệp khai thác (1,6%), công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước 0,93%, còn lại là công nghiệp chế biến chiếm 97,47% bao gồm các ngành: sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại, đồ gỗ, may mặc, thực phẩm và đồ uống. Thương mại, dịch vụ Khối ngành dịch vụ trong những năm gần đây phát triển mạnh chiếm tỷ trọng lớn (38,66%) trong cơ cấu GDP của khu vực, tốc độ tăng trưởng bình quân 12% năm.
Mạng lưới chợ và cơ sở thương mại tập trung chủ yếu ở trục trung tâm của thị trấn ( ven đường 191). Buôn bán đường dài là thế mạnh của thị trấn do có tuyến đường 10 tiện liên hệ với các vùng kinh tế phía Đông Nam là Hải Phòng và Thái Bình.