Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng vạt da cân thượng đòn mở rộng có nối mạch tăng cường bằng nhánh xuyên động mạch cùng vai ngực trong điều trị sẹo co kéo vùng cằm cổ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu y học nghiên cứu ứng dụng vạt da cân thượng đòn mở rộng có nối mạch tăng cường bằng nhánh xuyên, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Tái tạo

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

259
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU SINH LÝ VÙNG CẰM CỔ

1.2. TỔNG QUAN CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ SẸO DI CHỨNG BỎNG VÙNG CẰM CỔ

1.3. VẠT DA NHÁNH XUYÊN TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VÙNG CẰM CỔ

1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG VẠT DA CÂN THƢỢNG ĐÒN TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VÙNG CẰM CỔ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.2. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

2.2.1. Nghiên cứu giải phẫu trên xác

2.2.2. Nghiên cứu giải phẫu trên MDCT

2.2.3. Nghiên cứu lâm sàng

2.3. PHƢƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

2.3.1. Nghiên cứu giải phẫu

2.3.2. Nghiên cứu hình ảnh chụp MDCT

2.3.3. Nghiên cứu lâm sàng

2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1. Nghiên cứu giải phẫu

2.4.2. Nghiên cứu chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò

2.4.3. Nghiên cứu lâm sàng

2.5. XỬ LÝ SỐ LIỆU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU

3.1.1. Kết quả khảo sát về động mạch thƣợng đòn

3.1.2. Kết quả khảo sát nhánh xuyên của động mạch cùng vai ngực

3.1.3. Kết quả chụp mạnh máu chọn lọc xác định vùng cấp máu của động mạch thƣợng đòn

3.1.4. Kết quả chụp mạnh máu chọn lọc xác định vùng cấp máu của nhánh xuyên động mạch cùng vai ngực

3.1.5. Kết quả chụp mạnh máu chọn lọc xác định sự giao thoa mạng mạch của động mạch thƣợng đòn và nhánh xuyên da của động mạch cùng vai ngực

3.2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐỘNG MẠCH CÙNG VAI NGỰC TRÊN PHIM CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH ĐA DÃY ĐẦU DÒ

3.2.1. Đặc điểm tuổi, giới của đối tƣợng khảo sát

3.2.2. Vị trí xuất phát của nhánh xuyên

3.2.3. Tƣơng quan vị trí nguyên ủy nhánh xuyên động mạch cùng vai ngực so với các mốc giải phẫu lân cận

3.2.4. Chiều dài nhánh xuyên động mạch cùng vai ngực

3.2.5. Đƣờng kính nhánh xuyên động mạch cùng vai ngực

3.2.6. Hƣớng đi của nhánh xuyên động mạch cùng vai ngực trong da

3.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG VẠT DA CÂN THƢỢNG ĐÒN NỐI MẠCH VI PHẪU TẠI ĐẦU XA

3.3.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân

3.3.2. Kết quả trong và sau phẫu thuật

3.3.3. Đánh giá kết quả

3.3.4. Thất bại và biến chứng

3.4. NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU HỆ THỐNG MẠCH MÁU CỦA VẠT DA CÂN THƢỢNG ĐÒN VÀ ĐỘNG MẠCH CÙNG VAI NGỰC

3.4.1. Nguồn cấp máu cho vạt da cân thƣợng đòn đầu trung tâm là động mạch thƣợng đòn

3.4.2. Nguồn cấp máu cho vạt tại đầu xa - nhánh xuyên của động mạch cùng vai ngực

3.4.3. Vùng cấp máu và khả năng giao thoa giữa các nhánh xuyên động mạch cùng vai ngực và động mạch thƣợng đòn

3.5. NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG

3.5.1. Đặc điểm lâm sàng

3.5.2. Lý do chọn vạt

3.5.3. Cơ sở khoa học về độ tin cậy của vạt da cân thƣợng đòn nối mạch vi phẫu tại đầu xa

3.5.4. Thiết kế vạt

3.5.5. Về giải phóng sẹo vùng cằm cổ và xác định nguồn mạch nhận

3.5.6. Phẫu tích vạt da cân thƣợng đòn và cuống mạch cùng vai ngực

3.5.7. Về xử trí nơi cho vạt

3.5.8. Chăm sóc và theo dõi sau phẫu thuật

3.5.9. Về đánh giá kết quả

3.5.10. Về thất bại và biến chứng

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH

CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu ứng dụng vạt da cân thượng đòn

Nghiên cứu ứng dụng vạt da cân thượng đòn trong điều trị sẹo co kéo vùng cằm cổ đã thu hút sự quan tâm của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực phẫu thuật tạo hình. Vạt da này không chỉ đáp ứng yêu cầu về thẩm mỹ mà còn đảm bảo chức năng vận động cho vùng cổ. Việc áp dụng vạt da cân thượng đòn mở rộng có nối mạch tăng cường bằng nhánh xuyên động mạch cùng vai ngực hứa hẹn mang lại những kết quả khả quan trong điều trị sẹo co kéo.

1.1. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý vùng cằm cổ

Vùng cằm cổ có cấu trúc giải phẫu phức tạp với nhiều cơ và mạch máu. Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng phục hồi và thẩm mỹ sau phẫu thuật. Các cơ vùng cằm cổ giúp cho cổ vận động linh hoạt, tạo điều kiện cho việc áp dụng các phương pháp điều trị hiệu quả.

1.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng vạt da cân thượng đòn

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng vạt da cân thượng đòn có thể đáp ứng tốt các yêu cầu về thẩm mỹ và chức năng. Việc áp dụng vạt da này trong điều trị sẹo co kéo vùng cằm cổ đã được thực hiện tại nhiều cơ sở y tế, mang lại kết quả khả quan cho bệnh nhân.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị sẹo co kéo vùng cằm cổ

Sẹo co kéo vùng cằm cổ là một trong những di chứng bỏng phổ biến, gây ra nhiều khó khăn trong điều trị. Vùng cằm cổ không chỉ có vai trò thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng đến chức năng vận động. Do đó, việc điều trị sẹo co kéo cần phải được thực hiện một cách cẩn thận và khoa học.

2.1. Những khó khăn trong điều trị sẹo di chứng bỏng

Sẹo co kéo thường gây ra những rối loạn chức năng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến khả năng lao động và tâm lý người bệnh. Việc điều trị sẹo co kéo cần phải xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo hiệu quả và thẩm mỹ.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị

Các yếu tố như kích thước sẹo, vị trí và tình trạng da xung quanh đều ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp là rất quan trọng để đạt được kết quả tốt nhất.

III. Phương pháp điều trị sẹo co kéo hiệu quả

Để điều trị sẹo co kéo vùng cằm cổ, nhiều phương pháp đã được áp dụng, trong đó có vạt da cân thượng đòn. Phương pháp này không chỉ giúp phục hồi chức năng mà còn mang lại tính thẩm mỹ cao cho vùng điều trị.

3.1. Cắt khâu trực tiếp và ghép da

Cắt - khâu trực tiếp chỉ áp dụng cho những sẹo nhỏ, trong khi ghép da tự do có thể được sử dụng cho các tổn thương lớn hơn. Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng cần được cân nhắc.

3.2. Kỹ thuật giãn tổ chức trong điều trị

Kỹ thuật giãn tổ chức đã được áp dụng để tạo ra đủ da cho việc che phủ tổn thương. Phương pháp này tuy hiệu quả nhưng có thể kéo dài thời gian điều trị và chi phí.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu ứng dụng vạt da cân thượng đòn đã cho thấy những kết quả khả quan trong điều trị sẹo co kéo vùng cằm cổ. Việc áp dụng phương pháp này không chỉ giúp phục hồi chức năng mà còn cải thiện đáng kể về mặt thẩm mỹ cho bệnh nhân.

4.1. Đánh giá hiệu quả điều trị

Kết quả điều trị cho thấy sự cải thiện rõ rệt về chức năng và thẩm mỹ sau khi áp dụng vạt da cân thượng đòn. Bệnh nhân đã có thể trở lại với cuộc sống bình thường sau phẫu thuật.

4.2. Những trường hợp thành công điển hình

Nhiều trường hợp bệnh nhân đã đạt được kết quả tốt sau khi điều trị bằng vạt da cân thượng đòn. Những trường hợp này đã được ghi nhận và phân tích để rút ra bài học cho các nghiên cứu tiếp theo.

V. Kết luận và triển vọng tương lai

Nghiên cứu ứng dụng vạt da cân thượng đòn trong điều trị sẹo co kéo vùng cằm cổ mở ra nhiều triển vọng cho lĩnh vực phẫu thuật tạo hình. Việc tiếp tục nghiên cứu và cải tiến các phương pháp điều trị sẽ giúp nâng cao hiệu quả và thẩm mỹ cho bệnh nhân.

5.1. Tương lai của nghiên cứu vạt da trong phẫu thuật

Nghiên cứu về vạt da sẽ tiếp tục được mở rộng để tìm ra những phương pháp mới, hiệu quả hơn trong điều trị sẹo co kéo. Các nghiên cứu này sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu lâm sàng để đánh giá hiệu quả lâu dài của vạt da cân thượng đòn trong điều trị sẹo co kéo. Việc này sẽ giúp xác định rõ hơn về tính khả thi và ứng dụng của phương pháp này trong thực tiễn.

27/07/2025
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng vạt da cân thượng đòn mở rộng có nối mạch tăng cường bằng nhánh xuyên động mạch cùng vai ngực trong điều trị sẹo co kéo vùng cằm cổ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sẹo di chứng bỏng vùng cằm cổ mặt chiếm từ 10­15% trong tổng số các di chứng bỏng [1], [2]. Do vùng cằm cổ không chỉ là một vùng có chức năng và giải phẫu quan trọng, mà còn có vai trò thẩm mỹ trong giao tiếp xã hội của con ngƣời, nên tổn thƣơng bỏng vùng này thƣờng gây ra những rối loạn chức năng nghiêm trọng, ảnh hƣởng sâu sắc đến khả năng lao động, tâm lý ngƣời bệnh [3]. Do tính chất đặc thù của da vùng cằm cổ, chất liệu thay thế sau khi cắt bỏ sẹo phải đảm bảo các tiêu chí: đủ rộng để che phủ, trả lại sự vận động vùng cổ, đủ mỏng, mềm mại để tái tạo các đƣờng nét tự nhiên vùng cằm cổ, hòa đồng về màu sắc với tổ chức da lành xung quanh. Với các yêu cầu đó, các vạt da lân cận vùng cằm cổ luôn là những lựa chọn đƣợc ƣu tiên hàng đầu trong tạo hình tổn khuyết rộng vùng cằm cổ [2], [3].

Đến nay, nhiều vạt da lân cận vùng cằm cổ đã đƣợc các tác giả thông báo và sử dụng, ví dụ: vạt cổ nông [4], vạt da cơ lƣng to [5], vạt da cơ ngực lớn [6]. Mặc dù các vạt này có thể đạt đƣợc yêu cầu về phục hồi chức năng nhƣng chƣa đạt yêu cầu thẩm mỹ, vì vạt dầy và kích thƣớc hạn chế, không đủ che phủ khuyết tổn khi cắt bỏ sẹo rộng vùng cằm cổ. Vạt da cân thƣợng đòn do Lamberty B. công bố lần đầu tiên năm 1979 [7] là một lựa chọn hiếm hoi đảm bảo yêu cầu thẩm mỹ bởi nó đạt đƣợc độ mỏng phù hợp, mang lại tính mềm mại, hòa đồng với da lành lân cận vùng cằm cổ.

Một ƣu điểm rõ rệt của vạt da cân thƣợng đòn so với các vạt da lân cận khác khi tạo hình vùng cằm cổ đó là vạt này có thể tái tạo lại toàn bộ chiều cao của cổ trong phạm vi vận động. Tuy nhiên, hạn chế của loại vạt này kích thƣớc của vạt da còn hạn chế do phụ thuộc vào vùng cấp máu của vạt nên chƣa thể đáp ứng đƣợc những tổn khuyết rộng hết cả 1 đơn vị thẩm mỹ vùng cằm cổ. Ở Bệnh Viện Bỏng Quốc Gia Lê Hữu Trác đã đƣợc ứng dụng vạt da cân thƣợng đòn khá nhiều trong điều trị tạo hình vùng cằm cổ. Cùng với sự phát triển và nghiên cứu đầy đủ về nhánh xuyên trong hai thập kỷ vừa qua, trên cơ sở rút kinh nghiệm những thành công và thất bại của các tác giả trong nƣớc và trên thế giới và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, chúng tôi đề xuất ý tƣởng mới là sử dụng nhánh xuyên tại đầu xa của vạt da cân thƣợng đòn nối mạch vi phẫu tại đâu xa nhằm tăng kích thƣớc của vạt để đáp ứng yêu cầu che phủ khuyết rộng toàn bộ vùng cằm cổ.

Phƣơng pháp này dựa trên cơ sở ứng dụng dạng vạt “microcharge” của Hyakusoku H. và cộng sự năm 1994 [8] cho các vạt ở vị trí khác trên cơ thể, còn vạt da cân thƣợng đòn nối mạch vi phẫu tại đầu xa điều trị sẹo co kéo cằm cổ thì chƣa có thông báo nào trong nƣớc và thế giới. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên đây, chúng tôi tiến hành đề tài : “Nghiên cứu ứng dụng vạt da cân thƣợng đòn mở rộng có nối mạch tăng cƣờng bằng nhánh xuyên động mạch cùng vai ngực trong điều trị sẹo co kéo vùng cằm cổ” Nhằm 2 mục tiêu: 3. Khảo sát đặc điểm giải phẫu mạch máu và vùng cấp máu của động mạch thƣợng đòn và nhánh xuyên của động mạch cùng vai ngực qua nghiên cứu giải phẫu và chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò (MDCT).Đánh giá hiệu quả ứng dụng vạt da cân thƣợng đòn mở rộng có nối mạch tăng cƣờng bằng nhánh xuyên động mạch cùng vai ngực trong điều trị sẹo co kéo vùng cằm cổ.

CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU SINH LÝ VÙNG CẰM CỔ 1. Đặc điểm giải phẫu vùng cằm cổ Về giải phẫu định khu: vùng cằm cổ có thể đƣợc phân chia làm ba vùng ­ Vùng dƣới cằm­ vùng dƣới hàm hai bên đƣợc xác định bởi giới hạn trên là bờ dƣới xƣơng hàm dƣới, bờ dƣới là giới hạn trên của vùng cổ trƣớc, giới hạn bên là phía trƣớc cơ ức đòn chũm [3]. ­ Vùng cổ trƣớc: Giới hạn trên là xƣơng móng, ở dƣới là bờ trên xƣơng ức và xƣơng đòn, hai bên là bờ sau cơ ức đòn chũm.

­ Vùng cổ bên: giới hạn từ bờ sau cơ ức đòn chũm tới bờ trên cơ thang. Về cấu trúc giải phẫu + Da vùng cổ rất rộng, mỏng, đàn hồi, có thể căng ra và cũng có thể trùng lại rất nhiều, di động đặc biệt là da vùng cổ trƣớc [3]. Dƣới da là lớp cơ bám da rộng bao phủ toàn bộ vùng cằm cổ. + Các cơ vùng cằm cổ xếp làm 3 lớp: Lớp nông có cơ ức đòn chũm và cơ bậc thang.

Lớp giữa gồm 4 cơ dƣới móng. Lớp sâu có các cơ bên và trƣớc cột sống. Các cơ vùng dƣới hàm­ dƣới cằm, gồm các cơ trên móng [3]. + Các cân ở cổ: Mỗi lớp cơ ở cổ đều có một cân che phủ, có 3 cân cổ: cân cổ nông, cân cổ giữa và cân cổ sâu [3].

+ Các động mạch cấp máu cho vùng cằm cổ đều tách gián tiếp hoặc trực tiếp từ động mạch dƣới đòn, động mạch cảnh ngoài: động mạch mặt, động mạch dƣới hàm, động mạch giáp trên và động mạch cổ ngang [3]. + Tĩnh mạch: Gồm các tĩnh mạch cảnh trong, tĩnh mạch cảnh ngoài cùng với các tĩnh mạch cảnh khác và các nhánh tĩnh mạch cùng tên đi kèm với các động mạch. Các tĩnh mạch đã đều đổ vào hội lƣu Pirôgôp. Các tĩnh mạch ở cổ nối tiếp rộng rói với nhau không những ở cùng một bên mà cả với bên đối diện nên có thể thay thế cho nhau nếu một tĩnh mạch bị tắc hay bị thắt [3].

+ Thần kinh chi phối: chi phối cảm giác do các dây thần kinh cổ, chi phối vận động do dây XII, XI, dây cổ II. Chức năng sinh lý vùng cằm cổ Hoạt động của các nhóm cơ ở cằm cổ giúp cho cổ vận động linh hoạt theo không gian 3 chiều: cúi, gập, ngửa, quay phải, quay trái, nghiêng phải, nghiêng trái [3]. Các vận động này đa dạng, kéo theo sự vận động linh hoạt của da. Vận động cổ theo hai trục chính: + Trục ngang (nhìn nghiêng): ­ Khi đầu ở tƣ thế giải phẫu, chiều cao cổ trung bình với nam là 18cm, với nữ là 16cm.

­ Khi cúi đầu, cằm có thể gập tới hõm ức với góc tối đa: 70 º. ­ Khi ngửa đầu, có thể nhìn lên với góc ngửa tối đa: 80 º. Nhƣ vậy, góc vận động trung bình của cổ theo trục ngang đạt tới 150 º. Vận động nghiêng sang phải hoặc sang trái, tại có thể gập sát vai cùng bên với góc: 25 độ mỗi bên.

TỔNG QUAN CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ SẸO DI CHỨNG BỎNG VÙNG CẰM CỔ 1. Những khó khăn trong điều trị sẹo di chứng bỏng vùng cằm cổ Trên thực tế sẹo di chứng bỏng vùng cằm cổ là một bệnh cảnh lâm sàng hay gặp, chiếm 10­15% trong tổng số các di chứng bỏng [1]. Theo Trần Thiết Sơn, bỏng chiếm 5­10% trong số các cấp cứu ngoại khoa và để lại di chứng nặng nề, không chỉ ảnh hƣởng về mặt thẩm mỹ và chức năng mà còn gây ra những rối loạn tâm lý và ảnh hƣởng khả năng hòa nhập cộng đồng, tuy vậy, có rất ít tác giả đề cập tới việc ảnh hƣởng của nó tới chất lƣợng cuộc sống cũng nhƣ những khó khăn khi điều trị, đặc biệt với các trƣờng hợp sẹo rộng, co kéo phức tạp [9]. Do vùng cằm­ cổ không chỉ là một vùng có chức năng và giải phẫu quan trọng, mà còn có vai trò thẩm mỹ trong giao tiếp xã hội của con ngƣời, nên tổn thƣơng bỏng vùng này thƣờng gây ra những rối loạn chức năng nghiêm trọng, ảnh hƣởng sâu sắc đến khả năng lao động, tâm lý ngƣời bệnh.

Rất nhiều trƣờng hợp sau bỏng trở nên tàn phế, không thể tự kiếm sống để nuôi chính bản thân mình, sống luôn phải dựa vào sự giúp đỡ của gia đình, ngƣời thân. Nhiều ngƣời phải thay đổi nghề nghiệp cho phù hợp với hoàn cảnh. Do tính chất đặc thù vùng cằm cổ, chất liệu thay thế phải đủ rộng để che phủ, trả lại sự vận động vùng cổ mà phải đạt đƣợc độ mỏng, mềm mại cần thiết cũng nhƣ hòa đồng về màu sắc với tổ chức da lành xung quanh, cho nên vạt da luôn là chất liệu tạo hình đƣợc các tác giả quan tâm và lựa chọn mà đặc biệt là các vạt da lân cận vùng cằm cổ [2]. Khi tiến hành tạo hình vùng cằm cổ, các phẫu thuật viên tạo hình phải đối mặt với rất nhiều thách thức khác nhau: Trƣớc tiên, vùng cằm cổ là một vùng có biên độ vận động rất lớn theo các hƣớng trong không gian ba chiều.

Chỉ cần một tổ chức sẹo có kích thƣớc nhỏ nhƣng sau khi cắt bỏ, sự co kéo về các hƣớng của mép da lành xung quanh làm cho kích thƣớc của tổn khuyết tăng lên, có thể tới gấp 2, gấp 3 lần kích thƣớc tổn khuyết ban đầu. Nên không thể căn cứ vào kích thƣớc của sẹo ban đầu mà xác định đƣợc ngay kích thƣớc của chất liệu tạo hình đƣợc sử dụng. Thứ hai, đây là vùng có yêu cầu về mặt thẩm mỹ rất lớn, chỉ cần sẹo nhỏ hoặc một đƣờng khâu cũng gây mất thẩm mỹ nghiêm trọng, dễ bị lộ, ảnh hƣởng nhiều đến tâm lý ngƣời bệnh. Hơn nữa, vùng này còn có góc cằm cổ là đƣờng nét tự nhiên tạo bởi xƣơng hàm dƣới và các tổ chức cơ, cân, da phía trên.

Đây cũng là vấn đề khó để tái tạo hoàn chỉnh khi tiến hành tạo hình vùng cằm cổ. Các phƣơng pháp điều trị sẹo di chứng bỏng vùng cằm cổ 1. Cắt ­ khâu trực tiếp Chỉ áp dụng đối với những sẹo nhỏ mà không có sự thiếu hụt về chiều cao cằm­cổ, da xung quanh sẹo có thể xê dịch dễ dàng mà không làm biến dạng hay lệch lạc các cấu trúc giải phẫu xung quanh [2]. Ghép da tự do Đƣợc áp dụng rộng rãi vào đầu thế kỷ XIX cho các loại di chứng bỏng (Boronio.

Tuỳ vào độ dày của mảnh ghép các tác giả chia thành hai loại: ghép da mỏng và ghép da dày toàn bộ. ­ Ghép da mỏng: Đƣợc Brown đề xuất vào năm 1929 nhƣng phải đến năm 1939 việc ghép da tự do mới đƣợc áp dụng vào vùng cổ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ