Nghiên Cứu Ứng Dụng Phẫu Thuật Nội Soi Điều Trị Hội Chứng Ống Cổ Tay

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị hội chứng ống cổ tay research on application of, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Tác giả

Ma Ngọc Thành

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

170
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Phẫu thuật nội soi và hội chứng ống cổ tay

Phẫu thuật nội soi là một phương pháp hiện đại được ứng dụng trong điều trị hội chứng ống cổ tay (HCOCT). Phương pháp này giúp giảm thiểu xâm lấn, giảm đau và thời gian phục hồi nhanh hơn so với phẫu thuật mở truyền thống. HCOCT là tình trạng chèn ép dây thần kinh giữa trong ống cổ tay, gây ra các triệu chứng như tê, đau và giảm chức năng vận động bàn tay. Phẫu thuật nội soi được nghiên cứu và ứng dụng từ năm 1985, mang lại hiệu quả điều trị cao và ít biến chứng.

1.1. Kỹ thuật phẫu thuật nội soi

Kỹ thuật nội soi trong điều trị HCOCT bao gồm việc sử dụng camera và dụng cụ chuyên dụng để cắt dây chằng ngang cổ tay (DCNCT) mà không cần mở rộng vết mổ. Phương pháp này giúp bảo tồn các mô xung quanh, giảm nguy cơ tổn thương mạch máu và thần kinh. Các nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi có tỷ lệ thành công cao và thời gian phục hồi ngắn hơn so với phẫu thuật mở.

1.2. Hiệu quả điều trị

Hiệu quả điều trị của phẫu thuật nội soi được đánh giá qua sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng và kết quả điện sinh lý thần kinh. Các bệnh nhân sau phẫu thuật thường giảm đau, tê và phục hồi chức năng vận động bàn tay nhanh chóng. Tỷ lệ tái phát thấp và sẹo mổ nhỏ, mang lại tính thẩm mỹ cao.

II. Ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị HCOCT

Ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị HCOCT đã được nghiên cứu và triển khai rộng rãi tại nhiều cơ sở y tế. Phương pháp này không chỉ giúp giảm thiểu các biến chứng mà còn mang lại hiệu quả điều trị cao, đặc biệt là trong các trường hợp bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa. Phẫu thuật ít xâm lấn này cũng giúp bệnh nhân nhanh chóng trở lại sinh hoạt hàng ngày.

2.1. Chỉ định và chống chỉ định

Chỉ định cho phẫu thuật nội soi bao gồm các bệnh nhân có triệu chứng nặng, không đáp ứng với điều trị nội khoa hoặc có nguy cơ teo cơ. Chống chỉ định bao gồm các trường hợp có bệnh lý nền nghiêm trọng hoặc không thể thực hiện gây mê. Việc lựa chọn phương pháp điều trị cần dựa trên đánh giá toàn diện của bác sĩ chuyên khoa.

2.2. Phục hồi sau phẫu thuật

Phục hồi sau phẫu thuật là một quá trình quan trọng, bao gồm các bài tập vật lý trị liệu để phục hồi chức năng vận động bàn tay. Bệnh nhân cần tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ để tránh các biến chứng như nhiễm trùng hoặc tổn thương thần kinh. Thời gian phục hồi thường ngắn hơn so với phẫu thuật mở, giúp bệnh nhân sớm trở lại cuộc sống bình thường.

III. Giải pháp điều trị hiện đại cho HCOCT

Giải pháp điều trị hiện đại cho HCOCT bao gồm việc kết hợp phẫu thuật nội soi với các phương pháp chẩn đoán tiên tiến như siêu âm và điện sinh lý thần kinh. Các phương pháp này giúp chẩn đoán chính xác mức độ tổn thương và đưa ra phác đồ điều trị phù hợp. Phẫu thuật hiện đại không chỉ giúp giảm triệu chứng mà còn ngăn ngừa các biến chứng lâu dài.

3.1. Đánh giá kết quả điều trị

Đánh giá kết quả điều trị dựa trên sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng, kết quả điện sinh lý thần kinh và mức độ hài lòng của bệnh nhân. Các nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi mang lại hiệu quả cao trong việc giảm đau và phục hồi chức năng vận động bàn tay.

3.2. Tương lai của phẫu thuật nội soi

Tương lai của phẫu thuật nội soi trong điều trị HCOCT hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển với sự cải tiến về kỹ thuật và thiết bị. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình phẫu thuật và giảm thiểu các biến chứng, mang lại hiệu quả điều trị tốt nhất cho bệnh nhân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị hội chứng ống cổ tay research on application of endoscopic carpal tunnel release for treatment of carpal tunnel syndrome

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng ống cổ tay (Carpal Tunnel Syndrome) đƣợc Sir James Paget mô tả đầu tiên từ năm 1854, là tình trạng bệnh lý chèn ép dây thần kinh ngoại biên hay gặp nhất [1], hội chứng này xảy ra khi thần kinh giữa bị chèn ép trong ống cổ tay. Hậu quả của việc chèn ép là gây ra đau, tê, giảm hoặc mất cảm giác vùng da bàn tay thuộc chi phối của thần kinh giữa, tạo cảm giác khó chịu cho ngƣời bệnh, mất ngủ, nặng hơn có thể gây teo cơ, giảm chức năng vận động bàn tay, nhất là động tác đối chiếu của ngón cái. Tỷ lệ mắc hội chứng ống cổ tay (HC OCT) ngày càng tăng lên do nhu cầu công việc có sử dụng nhiều cổ tay, các động tác tỉ mỉ, lặp đi lặp lại, kết hợp với sự hiểu biết của thầy thuốc và bệnh nhân đƣợc nâng cao, sự ra đời của các phƣơng pháp hiện đại nhƣ điện sinh lý thần kinh, siêu âm giúp cho việc phát hiện bệnh đƣợc sớm hơn [2],[3]. Ở nƣớc ta chƣa có thông kê chính thức nào về HCOCT.

Những thống kê ở Mỹ cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng ống cổ tay hàng năm khoảng 50/1000 ngƣời, ở nhóm nguy cơ cao tỷ lệ này có thể tăng lên gấp nhiều lần [2]. Hội chứng này hay gặp ở phụ nữ trung niên. Hầu hết các bệnh nhân mắc HC OCT là vô căn (chiếm 70%), số còn lại có thể do các nguyên nhân nội sinh hoặc ngoại sinh. Các nguyên nhân này làm gia tăng áp lực trong OCT, gây chèn ép thần kinh giữa [1],[4].

Khi bệnh nhân đƣợc phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì bệnh có thể khỏi hoàn toàn, ngƣợc lại nếu để muộn thì sẽ gây ra những tổn thƣơng và di chứng kéo dài làm ảnh hƣởng lớn đến sinh hoạt và công việc. Theo thống kê ở Mỹ, hàng năm có khoảng 200.000 ca phẫu thuật điều trị HCOCT, ngƣời lao động phải nghỉ việc để điều trị và phẫu thuật, ảnh hƣởng đến đời sống kinh tế, kèm theo đó là một khoản chi phí tƣơng đối lớn cho việc điều trị [5]. Điều trị nội khoa đƣợc chỉ định với những bệnh nhân đến trong giai đoạn sớm của bệnh, bệnh nhân đƣợc uống thuốc chống viêm hoặc tiêm 2 corticoid tại ống cổ tay kết hợp sử dụng nẹp cổ tay làm giảm triệu chứng nhanh, tuy nhiên tỷ lệ triệu chứng tái phát sớm khá cao [6],[7]. Điều trị phẫu thuật cắt dây chằng ngang cổ tay (DCNCT), giải phóng OCT là phƣơng pháp điều trị triệt để nhất, chỉ định khi bệnh nhân đến trong giai đoạn trung bình trở lên, điều trị nội khoa thất bại [7], phẫu thuật này đƣợc thực hiện đầu tiên bởi Sir James Learmonth từ năm 1929 (báo cáo năm 1933) [8],[9].

Các phƣơng pháp mổ mở truyền thống, mổ mở ít xâm lấn đƣợc áp dụng từ lâu. Trên thế giới phẫu thuật nội soi đƣợc nghiên cứu từ năm 1985, ứng dụng trên lâm sàng bởi Chow J C, Okutsu (1987), sau đó đã có nhiều báo cáo về phẫu thuật nội soi OCT, các báo cáo này cho kết quả khả quan: Chow.A (1990, 1992) [15],[16], Lewieky (1994) [17]… Qua các nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi có nhiều ƣu điểm: sẹo mổ nhỏ trên cổ tay thẩm mỹ, ít đau, thời gian hồi phục nhanh hơn, có thể triển khai rộng rãi ở các cơ sở y tế. Tuy nhiên cũng nhƣ các phƣơng pháp khác, phẫu thuật nội soi cũng có thể gặp những biến chứng: tổn thƣơng mạch máu, thần kinh, không cắt hết DCNCT… Ở Việt Nam phẫu thuật này mới đƣợc áp dụng, kết quả bƣớc đầu khả quan, tuy nhiên để phẫu thuật đƣợc an toàn và có hiệu quả điều trị cao cần có một nghiên cứu sâu hơn về giải phẫu vùng OCT trên xác ứng dụng trong phẫu thuật nội soi và đánh giá kết quả điều trị của phƣơng pháp này, cũng nhƣ đƣa ra chỉ định điều trị hợp lý. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị hội chứng ống cổ tay” với hai mục tiêu: 1.

Xác định các chỉ số giải phẫu ứng dụng của ống cổ tay trên xác người Việt trưởng thành 2. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị hội chứng ống cổ tay tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm giải phẫu ống cổ tay và liên quan Ống cổ tay là một cấu tạo hình ống ở mặt trƣớc cổ tay.

Đƣợc tạo nên bởi phía sau và hai bên là các xƣơng vùng cổ tay, phía trƣớc là dây chằng ngang cổ tay (transverse carpal ligament) hay còn gọi là mạc hãm gân gấp (flexor retinaculum) [18]. Đây là các thành phần không co giãn, nên thể tích trong ống cổ tay tƣơng đối hằng định. Trong OCT có thần kinh giữa, gân gấp dài ngón cái, gân gấp nông và sâu các ngón 2,3,4,5 đi qua. Các gân đƣợc nằm trong hai bao hoạt dịch quay và trụ [19].

Hình thể ống cổ tay - OCT là đƣờng hầm nối khoang gấp của mặt trƣớc cẳng tay với ô giữa gan bàn tay. - Chiều rộng của OCT (theo chiều ngang) trung bình là 25 mm, trong đó đầu gần là 20 mm vùng hẹp nhất ở ngang mức mỏm xƣơng móc, và đầu xa là 26 mm. Chiều sâu khoảng 12 mm ở đầu gần và 13 mm ở đầu xa. Chiều sâu tại điểm hẹp nhất là 10 mm ở ngang mức xƣơng móc, vì vùng này là vùng gồ lên của xƣơng cổ tay ở mặt sau và phần dày nhất của DCNCT ở trƣớc.

- Chiều dài (theo chiều trên dƣới) khoảng từ 20 mm đến 25 mm. Thể tích của ống cổ tay khoảng 5ml và thay đổi tùy thuộc vào kích thƣớc của bàn tay, thƣờng nhỏ hơn ở nữ giới. Khu vực cắt ngang qua ống cổ tay có diện tích khoảng 185 mm2 và chiếm khoảng 20% tổng diện tích mặt cắt ngang của cổ tay [18],[20].1: Thiết đồ cắt qua phía gần của ống cổ tay [20].2: Thiết đồ cắt qua phía xa ống cổ tay [20]. - Các xƣơng cổ tay không cố định mà có sự vận động khi cổ tay gấp duỗi [21].

Khi gấp cổ tay diện tích cắt ngang của OCT phía gần tăng 20%, nhƣng phía xa bị đè ép hẹp lại, khi duỗi thể tích OCT hẹp lại, nhất là khi duỗi tối đa khi đó xƣơng nguyệt sẽ đè ép vào trong OCT. Chính vì vậy mà áp lực trong OCT tăng lên, tăng cao nhất khi cẳng tay sấp và cổ tay gấp 900 [22],[23],[24]. Đây là cơ cở cho nghiệm pháp Phalen và Phalen ngƣợc trên lâm sàng [25],[26],[27]. Cấu tạo xương vùng cổ tay [19],[28] Hình 1.3: Cấu tạo xương vùng cổ tay [28] Gồm có 8 xƣơng xếp thành 2 hàng.

Bốn xƣơng hàng trên theo thứ tự từ ngoài vào trong: xƣơng thuyền, xƣơng nguyệt, xƣơng tháp, xƣơng đậu. Bốn xƣơng hàng dƣới theo thứ tự từ ngoài vào trong: xƣơng thang, xƣơng thê, xƣơng cả, xƣơng móc. Các xƣơng cổ tay tạo thành một hình lòng máng lõm ở giữa gọi là rãnh cổ tay và nhô lên 2 bờ (hình 1; 2): - Bờ ngoài là củ xƣơng thuyền và củ xƣơng thang - Bờ trong là xƣơng đậu và móc của xƣơng móc Nối giữa 2 bờ có một mạc rộng, chắc khỏe gọi là dây chằng ngang cổ tay (hay mạc hãm gân gấp) biến rãnh cổ tay thành OCT: cho các gân gấp và thần kinh đi qua. Phía trên có khớp quay cổ tay gồm đầu dƣới xƣơng quay với xƣơng thuyền và xƣơng nguyệt.

Phía dƣới khối xƣơng cổ tay tiếp khớp với nền các xƣơng bàn tay. 6 Các chấn thƣơng vùng cổ tay hay gặp nhƣ gẫy xƣơng thuyền, có thể kèm theo trật xƣơng nguyệt, gẫy đầu dƣới xƣơng quay không nắn chỉnh tốt có thể gây nên hiện tƣợng chèn ép trong ống cổ tay. Dây chằng ngang cổ tay (DCNCT) Dây chằng ngang cổ tay (transverse carpal ligament) hay còn gọi là Mạc hãm gân gấp (flexor retinaculum), đây là hai thuật ngữ đồng nghĩa [29],[30],[31] là một tổ chức xơ sợi nối từ bờ ngoài là củ xƣơng thuyền và củ xƣơng thang tới bờ trong là xƣơng đậu và móc của xƣơng móc, giới hạn trên tƣơng ứng với đầu dƣới 2 xƣơng cẳng tay, giới hạn dƣới tƣơng ứng với nền xƣơng đốt bàn III.4: Dây chằng ngang cổ tay (DCNCT) [18].4 cho ta thấy đây là dây chằng nằm ngang, cấu tạo bởi tổ chức xơ khỏe, chắc nằm chính giữa mặt trƣớc cổ tay, góp phần giữ vòm mặt trƣớc cổ tay. Chức năng của nó giống nhƣ một ròng rọc (pulley) của gân gấp, tuy nhiên khi đã cắt DCNCT, chức năng gấp duỗi của gân chỉ bị ảnh hƣởng trong tƣ thế gấp cổ tay với mức độ nhỏ, mà phần lớn các tƣ thế trong sinh hoạt tƣ thế cổ tay ở tƣ thế trung gian hoặc duỗi.

Hai bên của DCNCT là ô mô cái và ô mô út. Phía trƣớc là cân nông cổ tay và da. Cân nông cổ tay là tổ chức xơ có 7 hƣớng chạy dọc, phía trên liên tiếp với gân gan tay dài, phía dƣới liên tiếp với cân nông bàn tay. Chiều ngang từ bờ trụ đến bờ quay của DCNCT trung bình là 22 mm.

Chiều dài trung bình theo chiều trên dƣới là 26 mm. Chỗ dày nhất là 1. Phía gần và phía xa trung bình 0. Kích thƣớc này tùy thuộc vào từng cá nhân và chủng tộc, dây chằng đƣợc đo khi cắt hay để nguyên [20].

DCNCT có hệ thống các mạch máu nhỏ nuôi dƣỡng. Mặt trƣớc có các mạch nhỏ tách từ nhánh cùng của động mạch trụ và nhánh gan tay của động mạch quay. Mặt sau có các mạch tách từ cung mạch gan tay nông. Tuy nhiên cácnày mạch rất này nhỏ, rất nhỏ,gây không nhất là máu chảy ở vùng trung tâm của dây chằng, vì thế không khi cắt.

gây chảy máu khi cắt. Dây chằng ngang cổ tay ( TCL) Hình 1.5: Hệ thống mạch máu của DCNCT [18] 1. Các thành phần trong OCT 1. Các gân đi trong OCT [19] Gồm có 9 gân: gân gấp dài ngón cái, gân gấp sâu các ngón (4 gân), gân gấp nông các ngón (4 gân).6: Các gân đi trong ống cổ tay [28] 1.

Thần kinh giữa - Thần kinh giữa là một dây thần kinh hỗn hợp cả vận động và cảm giác ở chi trên [19]. - Cấu tạo: đƣợc tạo bởi 2 rễ: rễ ngoài và rễ trong đều xuất phát từ đám rối thần kinh cánh tay, thần kinh giữa đi từ hõm nách đến cánh tay, cẳng tay, chui qua ống cổ tay xuống chi phối cảm giác và vận động các cơ bàn tay. Trƣớc khi đi qua OCT dây thần kinh giữa tách ra nhánh cảm giác da bàn tay chạy dƣới da và chi phối cảm giác vùng ô mô cái, nhánh này không bị ảnh hƣởng trong HCOCT nhƣng lại dễ bị tổn thƣơng khi phẫu thuật điều trị hội chứng này [18],[20],[32].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị hội chứng ống cổ tay hiệu quả" trình bày những kết quả nghiên cứu về việc áp dụng phương pháp phẫu thuật nội soi trong điều trị hội chứng ống cổ tay, một tình trạng gây đau và khó chịu cho bệnh nhân. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra tính hiệu quả của phương pháp phẫu thuật nội soi mà còn nhấn mạnh những lợi ích như thời gian hồi phục nhanh hơn, giảm thiểu đau đớn và nguy cơ biến chứng so với các phương pháp phẫu thuật truyền thống.

Để mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng của phẫu thuật nội soi trong các lĩnh vực khác, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị tắc ruột sau mổ, nơi khám phá ứng dụng của phẫu thuật nội soi trong điều trị tắc ruột, hay Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực và ổ bụng điều trị ung thư thực quản ngực, cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về tiềm năng của phẫu thuật nội soi trong y học hiện đại.