Tổng quan luận án
Hoạt động cho vay giữ vai trò trung tâm trong hệ thống ngân hàng thương mại và là nguồn cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế Việt Nam. Giai đoạn trước năm 2012 chứng kiến sự tăng trưởng tín dụng nhanh với tốc độ bình quân trên 21,70%/năm đi kèm tỷ lệ trích lập dự phòng tổn thất tín dụng gia tăng trên 1,43% (Dang 2019). Nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tái áp dụng công cụ giao chỉ tiêu (hạn mức) tăng trưởng tín dụng hàng năm dựa trên tình hình tài chính và năng lực hoạt động của từng ngân hàng. Dù các ngân hàng đã mở rộng các nguồn thu ngoài lãi, cho vay khách hàng vẫn chiếm tỷ trọng tài sản và thu nhập chi phối (Đặng Văn Dân 2018). Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây tại Việt Nam thường xem xét các yếu tố tác động đến hoạt động cho vay một cách đơn lẻ hoặc chắp vá, thiếu một hệ thống chỉ tiêu toàn diện. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (mã số 9 34 02 01) của tác giả Nguyễn Hoàng Diệu Hiền tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh (năm 2022) với đề tài "Ứng dụng mô hình CAMELS trong kiểm định các yếu tố tác động đến tăng trưởng cho vay của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam" được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này thông qua bộ khung giám sát chuẩn mực quốc tế CAMELS.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích thực nghiệm tác động của các nhân tố nội tại ngân hàng theo bộ khung CAMELS đối với tăng trưởng cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:
- Xác định các biến đại diện phù hợp cho từng nhân tố trong bộ khung CAMELS, qua đó đánh giá tình hình tài chính, hiệu quả hoạt động và mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
- Kiểm định và lượng hóa tác động của các nhân tố nội tại theo 6 cấu phần CAMELS (Mức độ an toàn vốn, Chất lượng tài sản, Hiệu quả quản lý, Khả năng sinh lời, Tính thanh khoản, Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường) đến tăng trưởng cho vay.
- Cung cấp các luận giải kinh tế cho các kết quả ước lượng thực nghiệm dựa trên bối cảnh thị trường và cơ chế điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các nhân tố tài chính nội tại theo khung CAMELS và tăng trưởng cho vay của các ngân hàng thương mại. Về phạm vi không gian, luận án khảo sát dữ liệu của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam (gồm ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, niêm yết và chưa niêm yết; loại trừ các ngân hàng sáp nhập, hợp nhất, bị mua lại bắt buộc hoặc đặt dưới diện kiểm soát đặc biệt). Về phạm vi thời gian, dữ liệu được thu thập từ năm 2007 đến năm 2019. Về phạm vi nghiệp vụ, tăng trưởng cho vay được đo lường qua dư nợ cho vay khách hàng, không bao gồm các khoản cấp tín dụng cho Chính phủ hay cho vay liên ngân hàng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong và ngoài nước xoay quanh tác động của các đặc tính ngân hàng đến việc mở rộng tín dụng:
- Vốn ngân hàng (C): Các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế ghi nhận vai trò của bộ đệm vốn như một tấm đệm chống sốc, hỗ trợ duy trì nguồn cung tín dụng ngay cả trong giai đoạn kinh tế biến động. Berger và cộng sự (2008) nhận thấy các ngân hàng thường chủ động duy trì vốn thực tế cao hơn vốn pháp định. Bitar và cộng sự (2018), Sorokina và cộng sự (2017), Khan và cộng sự (2017) thảo luận về sự thích ứng của ngân hàng trước các chuẩn mực an toàn vốn Basel.
- Chất lượng tài sản (A): Roulet (2018), Altunbas và cộng sự (2010), Balgova và cộng sự (2016) chứng minh nợ xấu làm xói mòn vốn tự có và buộc ngân hàng thắt chặt cho vay. Về thực nghiệm, Hou và Dickinson (2007), Tracey và Leon (2011) xác định tác động phi tuyến tính và hiệu ứng ngưỡng của nợ xấu đến cho vay. Adesina (2019) khảo sát 361 ngân hàng tại 38 quốc gia châu Phi và khẳng định tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng làm giảm tăng trưởng cho vay ở mức ý nghĩa 1% (bảng tĩnh) và 5% (bảng động). Tại Việt Nam, Nguyen (2017) tìm thấy tác động tiêu cực của nợ xấu đến việc cấp tín dụng giai đoạn 2005–2015. Ngược lại, Bustamante và cộng sự (2019) quan sát thấy hiện tượng nợ xấu tác động dương đến tăng trưởng cho vay khi ngân hàng chấp nhận rủi ro cao để bù đắp lợi nhuận.
- Hiệu quả quản lý (M): Berger và DeYoung (1997) đặt nền móng với giả thuyết "quản lý kém" (bad management - quản lý lỏng lẻo khiến danh mục cho vay tăng nhanh nhưng phát sinh rủi ro nợ xấu sau đó) và giả thuyết "cắt giảm chi phí giám sát" (skimping hypothesis). Jeitschko và Jeung (2005) phát triển giả thuyết "rủi ro đạo đức" (moral hazard). Gambacorta (2008), Vo và cộng sự (2020), Havranek và cộng sự (2016), Shamshur và Weill (2019) chứng minh ngân hàng hoạt động hiệu quả về chi phí có khả năng tối ưu hóa lãi suất và mở rộng dư nợ bền vững.
- Lợi nhuận (E): Mankiw (1986), Bernanke và Gertler (1987), Holmstrom và Tirole (1997), Dell'Ariccia và Marquez (2006) phân tích lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng sinh lời cao trong việc giảm bất cân xứng thông tin và bổ sung vốn tự có. Nier và Zicchino (2006) chứng minh tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) tác động tích cực mạnh mẽ đến tăng trưởng cho vay. Tuy nhiên, Laidroo (2010), Adesina (2019), Caglayan và Xu (2016) chỉ ra trường hợp lợi nhuận cao gắn liền với việc thắt chặt điều kiện tín dụng, khiến quy mô cho vay tăng chậm lại.
- Tính thanh khoản (L) và Độ nhạy cảm rủi ro thị trường (S): Diamond và Rajan (2001), Cornett và cộng sự (2011), Gennaioli và cộng sự (2014) phân tích sự đánh đổi giữa dự trữ thanh khoản và cho vay sinh lời. Alper và cộng sự (2012), Altunbas và cộng sự (2009), Gambacorta (2005) ghi nhận thanh khoản dồi dào tạo điều kiện mở rộng dư nợ. Về rủi ro thị trường, biến động lãi suất tạo ra rủi ro tái định giá cho các tài sản nhạy cảm lãi suất.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện là: các công trình tại thị trường ngân hàng Việt Nam chưa có nghiên cứu nào ứng dụng toàn diện 6 thành phần của hệ thống CAMELS để kiểm định hành vi tăng trưởng cho vay. Đặc biệt, các yếu tố như năng lực quản lý chi phí và mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường trước đó chưa từng được đưa vào mô hình thực nghiệm định lượng tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên khung đánh giá giám sát CAMELS được Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) ban hành năm 1979 và bổ sung cấu phần thứ sáu năm 1997. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã chính thức nội luật hóa khung đánh giá này thông qua Thông tư số 52/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 (có hiệu lực từ 01/04/2019, thay thế Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN), quy định xếp hạng tổ chức tín dụng theo 6 tiêu chí với trọng số cụ thể:
| Tiêu chí CAMELS |
Cụm từ tiếng Anh |
Trọng số xếp hạng theo TT 52/2018/TT-NHNN |
| Vốn |
Capital Adequacy (C) |
20% |
| Chất lượng tài sản |
Asset Quality (A) |
30% |
| Quản trị điều hành / Hiệu quả quản lý |
Management (M) |
10% |
| Kết quả kinh doanh / Lợi nhuận |
Earnings (E) |
20% |
| Khả năng thanh khoản |
Liquidity (L) |
15% |
| Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường |
Sensitivity to Market Risk (S) |
5% |
Các ngân hàng được xếp thành 5 hạng: Tốt (A, điểm >= 4,5), Khá (B, điểm từ 3,5 đến dưới 4,5), Trung bình (C, điểm từ 2,5 đến dưới 3,5), Yếu (D, điểm từ 1,5 đến dưới 2,5), Yếu kém (E, điểm < 1,5).
Biến phụ thuộc của mô hình là Tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng năm $t$ ($LOANGROWTH_{i,t}$), đo bằng phần trăm thay đổi của dư nợ cho vay khách hàng năm $t$ so với năm $t-1$:
$$LOANGROWTH_{i,t} = \frac{\text{Dư nợ cho vay}{i,t} - \text{Dư nợ cho vay}{i,t-1}}{\text{Dư nợ cho vay}_{i,t-1}}$$
Các biến giải thích và biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu gồm:
- Nhóm Vốn (C): Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA), Hệ số an toàn vốn (CAR).
- Nhóm Chất lượng tài sản (A): Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (NPL), Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho vay trên tổng dư nợ (LLP).
- Nhóm Hiệu quả quản lý (M): Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản bình quân (OEA), Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động (CIR).
- Nhóm Lợi nhuận (E): Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), Biên lãi ròng (NIM).
- Nhóm Thanh khoản (L): Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản (LIQ), Tỷ lệ cho vay khách hàng trên vốn huy động (LDR).
- Nhóm Nhạy cảm rủi ro thị trường (S): Tỷ lệ khe hở nhạy cảm lãi suất (chênh lệch tài sản nhạy cảm lãi suất và nợ phải trả nhạy cảm lãi suất) trên tổng tài sản (GAP).
- Nhóm biến kiểm soát vĩ mô: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và Tỷ lệ lạm phát (INF), thu thập từ cơ sở dữ liệu Chỉ số Phát triển Thế giới (WDI) của Ngân hàng Thế giới.
Mô hình kinh tế lượng tổng quát có dạng:
$$LOANGROWTH_{i,t} = \alpha + \beta_0 LOANGROWTH_{i,t-1} + \sum \beta_k CAMELS_{k,i,t} + \sum \gamma_m MACRO_{m,t} + \mu_i + \varepsilon_{i,t}$$
Về kỹ thuật phân tích:
- Phương pháp ước lượng chính: Phương pháp Moment Tổng quát dạng hệ thống (System GMM) áp dụng cho mô hình bảng động nhằm xử lý triệt để hiện tượng nội sinh bắt nguồn từ biến trễ của biến phụ thuộc ($LOANGROWTH_{i,t-1}$) và tính đồng thời giữa các chỉ tiêu tài chính. Luận án thực hiện kiểm định Arellano-Bond đối với tự tương quan sai số bậc 1 và bậc 2 (AR(1), AR(2)) và kiểm định Hansen/Sargan về tính hợp lệ của biến công cụ.
- Kiểm định tính vững (Robustness Check): Luận án chuyển sang mô hình bảng tĩnh với các phương pháp ước lượng Mô hình Tác động Cố định (FEM) và Mô hình Tác động Ngẫu nhiên (REM) thông qua Bình phương Tối thiểu Thông thường (OLS) và Bình phương Tối thiểu Tổng quát (GLS); đồng thời kiểm tra tính nhất quán bằng cách hồi quy riêng rẽ từng nhóm biến và hồi quy đồng thời cả 6 biến CAMELS với nhiều chỉ tiêu thay thế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương mở đầu trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam sau giai đoạn tăng trưởng nóng. Chương 1 xác định rõ mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi dữ liệu (31 ngân hàng thương mại giai đoạn 2007–2019), các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn, cùng cấu trúc tổng thể gồm 5 chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu có liên quan
Chương 2 cung cấp nền tảng lý thuyết chuyên sâu về hoạt động cấp tín dụng và bản chất của tăng trưởng cho vay. Tác giả phân tích nguồn gốc hình thành và các thuộc tính kỹ thuật của hệ thống đánh giá PATROL (Ý), ORAP (Pháp) và CAMELS (Mỹ). Chương này tổng hợp các lý thuyết kinh tế giải thích mối quan hệ giữa 6 cấu phần CAMELS và tăng trưởng tín dụng: lý thuyết phòng vệ rủi ro vốn, lý thuyết tổn thất tín dụng, giả thuyết quản lý kém và rủi ro đạo đức, lý thuyết truyền dẫn chi phí huy động vốn, động cơ nắm giữ thanh khoản và rủi ro tái định giá lãi suất. Tác giả chỉ ra các khoảng trống tri thức trong các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.
Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Chương 3 thiết lập khung nghiên cứu định lượng. Tác giả định nghĩa công thức toán học và chiều tác động kỳ vọng cho từng biến số trong 6 nhóm CAMELS và nhóm biến vĩ mô. Quy trình xử lý dữ liệu bảng không cân bằng từ 31 ngân hàng được mô tả chi tiết, giải thích rõ tiêu chí loại trừ các ngân hàng sáp nhập/mua lại bắt buộc để tránh nhiễu cấu trúc. Chương này trình bày chi tiết thuật toán ước lượng System GMM (mô hình bảng động chính) cùng các thủ tục kiểm định tính hợp lệ của biến công cụ và kiểm định hiện tượng tự tương quan AR(1), AR(2), cũng như phương pháp OLS/GLS trên mô hình bảng tĩnh FEM/REM phục vụ kiểm định độ nhạy.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm. Tác giả trình bày thống kê mô tả, ma trận hệ số tương quan giữa các biến, và các bảng kết quả hồi quy GMM (cho từng nhân tố CAMELS riêng lẻ và mô hình kết hợp đầy đủ 16 phương trình hồi quy từ Bảng 4.5 đến Bảng 4.10) cùng kết quả kiểm tra tính vững OLS/GLS (từ Bảng 4.11 đến Bảng 4.14).
Các kết quả định lượng chính gồm:
- Mức độ an toàn vốn: Hệ số biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu (ETA) mang dấu dương có ý nghĩa thống kê. Bộ đệm vốn dày tạo năng lực hấp thụ rủi ro, thúc đẩy ngân hàng tự tin mở rộng dư nợ.
- Chất lượng tài sản: Tỷ lệ nợ xấu (NPL) và tỷ lệ trích lập dự phòng (LLP) có hệ số âm có ý nghĩa thống kê cao. Rủi ro tín dụng gia tăng buộc các ngân hàng phải thắt chặt tiêu chuẩn cấp tín dụng và ưu tiên xử lý nợ xấu thay vì giải ngân mới.
- Hiệu quả quản lý: Hệ số tỷ lệ chi phí hoạt động (OEA, CIR) mang dấu dương có ý nghĩa thống kê. Kết quả này phản ánh rằng các ngân hàng có hiệu quả quản lý chi phí kém (chi phí trên tài sản hoặc chi phí trên thu nhập cao) lại có tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay nhanh hơn. Hiện tượng này minh chứng cho giả thuyết "quản lý kém" và "rủi ro đạo đức": nhà quản lý yếu kém buông lỏng thẩm định tín dụng để tăng trưởng quy mô nóng nhằm bù đắp chi phí ngắn hạn.
- Khả năng sinh lời: Chỉ tiêu sinh lời (ROA, ROE, NIM) có tác động tích cực cùng chiều đến tăng trưởng cho vay. Khả năng sinh lời cao giúp ngân hàng tích lũy lợi nhuận giữ lại, hạ thấp chi phí vốn và củng cố vị thế cạnh tranh để mở rộng thị phần.
- Tính thanh khoản: Tỷ lệ thanh khoản (LIQ) có tương quan dương với tăng trưởng cho vay. Dự trữ thanh khoản đầy đủ đảm bảo nguồn vốn sẵn sàng giải ngân cho các dự án mới mà không chịu rủi ro mất cân đối kỳ hạn.
- Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường: Biến chênh lệch nhạy cảm lãi suất (GAP) có tác động ngược chiều (âm) đến tăng trưởng cho vay. Khi khe hở lãi suất lớn, rủi ro biến động lãi suất trên thị trường kìm hãm kế hoạch cấp tín dụng do ngân hàng e ngại tổn thất biên lãi ròng.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 đúc kết các phát hiện chính từ kết quả định lượng và đề xuất hệ thống giải pháp cho Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Đối với cơ quan quản lý, luận án kiến nghị duy trì và tinh chỉnh cơ chế giao hạn mức tăng trưởng tín dụng dựa trên các trụ cột định lượng của CAMELS. Đối với các ngân hàng thương mại, luận án nhấn mạnh việc tăng cường bộ đệm vốn, nâng cao năng lực thẩm định tín dụng, kiểm soát chi phí vận hành và quản trị khe hở lãi suất. Chương 5 cũng nêu rõ các giới hạn của nghiên cứu và gợi ý hướng phát triển tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đem lại các đóng góp mới về phương diện học thuật và thực tiễn quản lý:
- Đóng góp về lý luận và học thuật: Luận án là công trình tiên phong tại Việt Nam ứng dụng toàn diện bộ khung CAMELS 6 yếu tố vào mô hình kinh tế lượng bảng động (System GMM) để giải thích hành vi tăng trưởng cho vay. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định sự tồn tại của giả thuyết "quản lý kém" (bad management) và "rủi ro đạo đức" (moral hazard) trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam khi ghi nhận các ngân hàng có chi phí quản lý kém hiệu quả có xu hướng mở rộng tín dụng nhanh hơn. Đồng thời, nghiên cứu lấp đầy khoảng trống về đo lường tác động của rủi ro lãi suất (cấu phần S) đến việc mở rộng tín dụng tại một thị trường tài chính mới nổi.
- Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách:
- Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Cung cấp cơ sở khoa học và định lượng giúp cơ quan quản lý phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm một cách minh bạch, dựa trên điểm số sức khỏe tài chính nội tại theo Thông tư 52/2018/TT-NHNN thay vì phân bổ hành chính thuần túy.
- Đối với các ngân hàng thương mại: Chỉ rõ yêu cầu tăng cường vốn tự có theo chuẩn mực Basel, siết chặt quy trình thẩm định để kiểm soát nợ xấu, cơ cấu lại chi phí quản lý nhằm triệt tiêu động cơ tăng trưởng tín dụng thiếu an toàn, và chủ động phòng ngừa rủi ro biến động lãi suất thị trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ các giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở năm 2019, chưa bao quát tác động của các cú sốc vĩ mô bất thường giai đoạn sau năm 2019 (đặc biệt là đại dịch COVID-19 và biến động kinh tế toàn cầu).
- Mẫu nghiên cứu giới hạn ở 31 ngân hàng thương mại và loại trừ nhóm ngân hàng yếu kém thuộc diện kiểm soát đặc biệt/sáp nhập bắt buộc, do đó chưa phản ánh toàn bộ các trường hợp tái cơ cấu đặc thù.
- Nghiên cứu đo lường tăng trưởng cho vay khách hàng nói chung, chưa phân tách chi tiết theo từng phân khúc cụ thể (cho vay doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay bán lẻ/hộ gia đình) do hạn chế công bố thông tin trên báo cáo tài chính.
- Biến hiệu quả quản lý chủ yếu đo bằng các chỉ tiêu kế toán chi phí; các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể ứng dụng kỹ thuật phân tích bao dữ liệu (DEA) hoặc phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) để lượng hóa hiệu quả biên tối ưu.
Giá trị tham khảo
Nội dung và kết quả của luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước): Tham khảo mô hình định lượng và kết quả kiểm định để hoàn thiện cơ chế thanh tra, giám sát an toàn vi mô, và chuẩn hóa công thức cấp hạn mức tín dụng định kỳ.
- Ban điều hành và bộ phận quản trị rủi ro các NHTM: Tham khảo mối liên hệ giữa các tỷ lệ an toàn vốn, nợ xấu, thanh khoản và khe hở nhạy cảm lãi suất để hoạch định chiến lược kinh doanh và cân đối cấu trúc bảng cân đối kế toán.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo phương pháp xây dựng biến số CAMELS, kỹ thuật ước lượng mô hình bảng động System GMM, và quy trình kiểm định tính vững trong nghiên cứu ngân hàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Bộ khung CAMELS được Ngân hàng Nhà nước quy định đánh giá với các trọng số như thế nào?
Theo Thông tư số 52/2018/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, hệ thống tiêu chí xếp hạng gồm 6 cấu phần với trọng số: Chất lượng tài sản (30%), Vốn (20%), Kết quả hoạt động kinh doanh (20%), Khả năng thanh khoản (15%), Quản trị điều hành (10%), và Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (5%).
2. Mẫu nghiên cứu và giai đoạn khảo sát của luận án được xác định như thế nào?
Luận án sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam (gồm cả ngân hàng nhà nước và cổ phần tư nhân, niêm yết và chưa niêm yết) trong giai đoạn 13 năm từ năm 2007 đến năm 2019, kết hợp với dữ liệu vĩ mô (GDP, lạm phát) từ Ngân hàng Thế giới (WDI).
3. Kết quả hồi quy cho thấy hiệu quả quản lý tác động đến tăng trưởng cho vay như thế nào?
Kết quả hồi quy GMM cho thấy tỷ lệ chi phí hoạt động (OEA, CIR) có hệ số dương có ý nghĩa thống kê với tăng trưởng cho vay. Điều này chỉ ra rằng các ngân hàng có chi phí quản lý kém hiệu quả có xu hướng đẩy mạnh tăng trưởng dư nợ cho vay nhanh hơn, ủng hộ giả thuyết "quản lý kém" (bad management) và "rủi ro đạo đức" (moral hazard).
4. Yếu tố nhạy cảm với rủi ro thị trường được đo lường bằng chỉ tiêu nào và có tác động ra sao?
Yếu tố nhạy cảm với rủi ro thị trường (S) được đo lường bằng tỷ lệ chênh lệch tài sản – nợ phải trả nhạy cảm lãi suất trên tổng tài sản (GAP). Kết quả thực nghiệm cho thấy biến này có tác động âm đến tăng trưởng cho vay, do các ngân hàng có khe hở nhạy cảm lãi suất cao lo ngại rủi ro biến động lãi suất nên chủ động kìm hãm mở rộng tín dụng.
5. Luận án thực hiện các bước nào để đảm bảo tính vững của kết quả ước lượng?
Luận án thực hiện 3 quy trình kiểm định tính vững: (i) Sử dụng nhiều biến số thay thế cho cùng một tiêu chí CAMELS; (ii) Kết hợp kiểm định từng nhân tố riêng lẻ và kết hợp toàn bộ 6 nhân tố trên cùng phương trình hồi quy; (iii) Chuyển đổi từ phương pháp bảng động System GMM sang mô hình bảng tĩnh FEM/REM ước lượng bằng OLS/GLS.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Hoàng Diệu Hiền đã ứng dụng toàn diện bộ khung 6 cấu phần CAMELS để phân tích các nhân tố nội tại tác động đến tăng trưởng cho vay của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2007–2019 bằng phương pháp System GMM. Kết quả thực nghiệm khẳng định vốn, khả năng sinh lời và thanh khoản thúc đẩy tăng trưởng cho vay, trong khi rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất kìm hãm việc mở rộng dư nợ. Phát hiện về mối quan hệ cùng chiều giữa chi phí hoạt động và tăng trưởng cho vay phản ánh rõ hiện tượng rủi ro đạo đức và quản lý kém tại các ngân hàng thương mại. Các kết quả này cung cấp cơ sở khoa học cho Ngân hàng Nhà nước trong việc hoàn thiện chính sách phân bổ hạn mức tín dụng và giúp các ngân hàng thương mại nâng cao năng lực quản trị rủi ro.