Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ với đề tài "Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng vận động sau chấn thương khớp cổ chân cho vận động viên" do nghiên cứu sinh Nguyễn Mạnh Thắng thực hiện, thuộc ngành Giáo dục học, mã số 9140101, được bảo vệ năm 2019 tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của Hướng dẫn 1: GS.TS Lưu Quang Hiệp và Hướng dẫn 2: TS. Trần Hiếu.
Về tính cấp thiết, quá trình đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao đòi hỏi vận động viên phải tiếp nhận lượng vận động lớn, nâng cao trình độ thể lực, kỹ chiến thuật và tâm lý thi đấu. Các chức năng vận động thường xuyên chạm ngưỡng hoặc vượt ngưỡng chịu đựng sinh lý của cơ thể, dẫn đến nguy cơ chấn thương hệ vận động, trong đó chấn thương khớp cổ chân chiếm tỷ lệ rất phổ biến ở nhiều môn thể thao. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tình trạng quá tải, vi chấn thương tích tụ kéo dài gây thoái hóa bao khớp, dây chằng, cơ, gân, sụn và xương. Trong y học thể thao hiện đại, quan niệm tách rời giữa hai giai đoạn chữa trị và phục hồi đã được thay đổi; việc can thiệp hồi phục chức năng phải tiến hành đồng thời và sớm nhất có thể nhằm tránh biến chứng teo cơ, xơ dính khớp, rút ngắn thời gian đưa vận động viên trở lại thi đấu. Tiêu chuẩn lành bệnh đối với vận động viên chỉ thực sự đạt được khi họ tái hòa nhập tập luyện tích cực và đạt thành tích cao.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: tại Việt Nam, các đề tài nghiên cứu về chấn thương và phục hồi chức năng sau chấn thương cho vận động viên chưa được quan tâm đúng mức, nền y học thể thao còn chậm phát triển; việc lựa chọn, ứng dụng các phác đồ bài tập vận động kết hợp vật lý trị liệu phục hồi khớp cổ chân có cơ sở khoa học và định lượng lâm sàng cụ thể cho vận động viên vẫn còn bỏ ngỏ.
Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng chấn thương và phương pháp điều trị chấn thương khớp cổ chân của vận động viên, trên cơ sở đó chọn lựa phác đồ điều trị, phục hồi hiệu quả chức năng vận động của khớp cổ chân cho vận động viên.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:
- Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng chấn thương khớp cổ chân và thực trạng các bài tập phục hồi chức năng sau chấn thương khớp cổ chân cho vận động viên.
- Mục tiêu 2: Lựa chọn và xây dựng phác đồ các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng vận động sau chấn thương khớp cổ chân cho vận động viên.
- Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả tổ hợp các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng sau chấn thương khớp cổ chân cho vận động viên.
Giả thuyết khoa học: Chấn thương là hiện tượng thường gặp trong huấn luyện và thi đấu thể thao, ảnh hưởng trực tiếp tới tuổi thọ thể thao của vận động viên. Để thúc đẩy quá trình hồi phục, việc lựa chọn và ứng dụng các bài tập phục hồi giữ vai trò quyết định. Trên cơ sở đánh giá thực trạng chấn thương và thực trạng các bài tập phục hồi, việc lựa chọn và ứng dụng tổ hợp các bài tập theo hướng phối hợp các loại hình vật lý trị liệu sẽ đảm bảo tính khoa học, rút ngắn thời gian điều trị và mang lại hiệu quả tốt hơn trong hồi phục chấn thương khớp cổ chân cho vận động viên.
Đối tượng nghiên cứu: Các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng vận động sau chấn thương khớp cổ chân cho vận động viên.
Khách thể và phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Bệnh viện Thể thao Việt Nam (Hà Nội).
- Khách thể: Bệnh nhân, vận động viên và người tập thể thao khám, điều trị chấn thương khớp cổ chân; thực nghiệm lâm sàng được tiến hành trên 23 vận động viên (nhóm A gồm 13 người, nhóm B gồm 10 người).
- Nội dung: Giới hạn ở các dạng chấn thương khớp cổ chân kín, đánh giá phục hồi biên độ khớp, khả năng sinh hoạt và triệu chứng lâm sàng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp hệ thống cơ sở lý luận và tài liệu nghiên cứu chuyên ngành y sinh học thể dục thể thao:
Khái niệm chấn thương thể thao được trích dẫn theo Lyle J. Micheli và Mark Jenking (1995) cùng Ủy ban Olympic quốc tế (IOC): Chấn thương thể thao là tổn thương do hoạt động thể thao gây ra sự giới hạn hoặc tạm ngưng khả năng tham gia tập luyện, thi đấu của vận động viên. Tổn thương có thể do chấn thương đơn thuần hoặc vi chấn thương tích tụ kéo dài vì quá tải, bao gồm thể cấp tính và mãn tính.
Về phân loại mức độ chấn thương thể thao:
- Hệ thống theo dõi chấn thương thể thao Quốc gia Mỹ (National Athletic Injury/Illness Reporting System) phân loại theo thời gian gián đoạn thi đấu: loại nhẹ (giới hạn dưới 7 ngày), loại vừa (giới hạn từ 7 đến 21 ngày), loại nặng (giới hạn trên 21 ngày).
- Lyle J. Micheli và Mark Jenking (1995) phân loại dựa trên phản ứng cơ thể với vận động: chấn thương nhẹ (đau sau tập, co cứng cơ, không hoặc ít sưng nề, không bầm tím); chấn thương trung bình (đau liên tục trước và sau tập, chỉ tập được ở cường độ trung bình, sưng nề và bầm tím mức độ vừa); chấn thương nặng (đau liên tục kéo dài, đau chói khi ấn, sưng nề bầm tím rõ rệt, không thể tập luyện).
Về cơ chế sinh bệnh học: Alvarez và cộng sự (1987) phân tích 3 giai đoạn phản ứng của mô bị tổn thương (dây chằng, gân cơ, xương, sụn): giai đoạn viêm cấp tính (ngay sau chấn thương trong khoảng 72 giờ đầu) và giai đoạn bắt đầu liên kết xơ hóa (từ giờ thứ 72 kéo dài từ 6 tuần trở lên).
Về phân loại tổn thương khớp cổ chân trên lâm sàng: chia thành 3 độ chức năng:
- Độ 1: Rách một phần dây chằng nhưng không đủ mức gây bất ổn định khớp.
- Độ 2: Rách một phần dây chằng, vận động khớp bất thường khi chịu lực ép mạnh tác động vào khớp.
- Độ 3: Rách toàn bộ dây chằng gây bất ổn định thực sự khớp cổ chân.
Về tỷ lệ và đặc điểm chấn thương thường gặp: Phần lớn chấn thương thể thao là chấn thương kín (đụng dập, giãn dây chằng, đứt cơ, đứt dây chằng). Chấn thương đụng dập chiếm gần 50% chấn thương khớp, trong đó khớp gối chiếm 30%. Chấn thương tứ chi chiếm 80% là chấn thương khớp (chủ yếu là khớp gối và khớp cổ chân). Ở hầu hết các môn thể thao, chấn thương chi dưới chiếm tỷ lệ áp đảo (ngoại trừ thể dục dụng cụ có gần 70% rơi vào chi trên). Tỷ lệ sai khớp, gãy xương trong hoạt động thể thao cao hơn từ 8 đến 10 lần so với hoạt động phi thể thao. Các dạng tai biến cụ thể gồm sai khớp, gãy xương, bong gân, đau cơ và chuột rút được luận án tổng kết cơ chế và hướng dẫn xử trí ban đầu bằng phác đồ RICE (Rest - nghỉ ngơi, Ice - chườm lạnh, Compression - băng ép, Elevation - kê cao chi), nghiêm cấm dùng rượu xoa bóp hoặc cao nóng tác động tại chỗ trong giai đoạn cấp vì gây giãn mạch xuất huyết trầm trọng.
Về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây chấn thương thể thao:
- K.R. Lanese và cộng sự (1990) nghiên cứu tại Trung tâm huấn luyện quân đội Mỹ cho thấy tỷ lệ chấn thương giữa nam và nữ không có sự khác biệt có ý nghĩa.
- McKeag và cộng sự, David O. Hough và cộng sự (1993) chỉ ra tỷ lệ chấn thương khi thi đấu tăng từ 2 đến 4 lần so với lúc tập luyện.
- Jones và cộng sự (1993), J. Knapik, Rebecca L. McCollam và cộng sự (1993, 1999) chứng minh mối tương quan tỷ lệ thuận giữa việc tăng khối lượng tập luyện khi cơ thể chưa thích nghi với sự gia tăng chấn thương; đồng thời yếu tố tâm lý hưng phấn giúp vận động viên ít chấn thương hơn.
- Dr. Lytt Gardner (1988) khẳng định giày tập không đạt chuẩn là yếu tố quan trọng gây tổn thương khớp; J. Knapik và cộng sự (2004) ghi nhận chấn thương xảy ra nhiều hơn trong điều kiện thời tiết nóng.
Về giải phẫu và sinh cơ học khớp cổ chân: Khớp cổ chân là khớp hoạt dịch kiểu bản lề liên kết giữa xương chày, xương mác và ròng rọc xương sên. Góc tạo bởi xương chày và mác tạo nên mộng cổ chân. Mặt khớp xương sên hình cái chêm với đường kính ngang trước rộng hơn đường kính sau: khi bàn chân gập mu, phần rộng của xương sên khớp chặt vào mộng chày mác tạo độ vững chắc cao; khi bàn chân gập lòng, phần hẹp ăn khớp làm khớp lỏng lẻo và giảm tính ổn định. Hệ thống dây chằng ngoài gồm: mác - sên trước, mác - gót, mác - sên sau. Hệ thống dây chằng trong gồm: dây chằng delta nông (chày - thuyền, chày - gót, chày - sên nông) và dây chằng delta sâu (chày - sên trước, chày - sên sau), phối hợp cùng dây chằng chày - mác sau và sên - mác.
Vị trí của luận án: Luận án kế thừa các nghiên cứu y sinh học thể thao quốc tế từ các quốc gia như CHLB Đức, Trung Quốc, Thái Lan, Singapore – nơi đã triển khai ứng dụng các bài tập co cơ tĩnh (Isometric) và đẳng tốc (Isokinetic) trên thiết bị hiện đại từ thập niên 1990; đồng thời lấp đầy khoảng trống dữ liệu thực nghiệm về xây dựng phác đồ phục hồi chức năng vận động kết hợp vật lý trị liệu tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm
- Khái niệm bài tập thể chất và bài tập thể lực: Trích dẫn theo Từ điển bách khoa Việt Nam và Nguyễn Toán. Bài tập thể chất là động tác vận động có ý thức làm phương tiện của giáo dục thể chất. Bài tập thể lực là tổ hợp động tác được hệ thống hóa theo quy trình khoa học phù hợp tâm sinh lý người tập. Phân loại cấu trúc kỹ thuật gồm: tính chu kỳ (chạy, bơi, đua thuyền), tính phi chu kỳ (ném tạ, ném đĩa), tính hỗn hợp (nhảy xa, nhảy cao), tổ hợp cố định (thể dục dụng cụ, võ thuật), tổ hợp linh hoạt (bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền) và tổ hợp nhiều môn thể thao.
- Phân loại sinh lý học thể dục thể thao theo Pharphell: Phân chia bài tập thành bài tập tĩnh và bài tập động. Bài tập động gồm bài tập chuẩn (định lượng, định tính) và bài tập không chuẩn; phân nhóm theo công suất: công suất tối đa, dưới tối đa, lớn và trung bình. Dưới góc độ sinh học cung cấp năng lượng, bài tập được chia theo 3 hệ thống: hệ phosphagen, hệ gluco-phân yếm khí và hệ oxy hóa.
- Lý thuyết thể dục chữa bệnh và phục hồi chức năng: Thể dục chữa bệnh dựa trên học thuyết sinh lý học thần kinh của I. Pavlov về việc huy động khả năng tự điều chỉnh, phục hoàn của hệ thần kinh nội tiết. Dương Xuân Đạm xác định phục hồi chức năng là bước thứ ba của y học hiện đại (Phòng bệnh - Chữa bệnh - Phục hồi chức năng), phối hợp đa chuyên ngành nhằm hạn chế di chứng tàn tật.
- Nguyên lý vận động trị liệu Isometric và Isokinetic:
- Isometric (co cơ tĩnh): Tăng cường sức mạnh cơ bắp ở trạng thái không đổi chiều dài sợi cơ, có thể áp dụng sớm ngay cả khi đang bất động khớp hoặc sau phẫu thuật để chống teo cơ.
- Isokinetic (vận động đẳng tốc): Thực hiện vận động với tốc độ góc ổn định định trước trên thiết bị chuyên dụng BIODEX, cho phép lượng hóa chính xác sức mạnh, sức bền và độ linh hoạt của khớp cổ chân.
- Cơ chế tác nhân vật lý trị liệu:
- Siêu âm điều trị (Ultrasound therapy): Sử dụng dải âm tần 0,7 - 3 MHz; mang lại tác dụng cơ học vi xoa bóp (micromassage) làm thay đổi 0,02% thể tích tế bào và tăng tính thấm màng; tác dụng nhiệt làm mềm sợi collagen của gân, bao khớp; tác dụng sinh học kích thích tái tạo mao mạch và giảm đau.
- Sóng ngắn (Short wave therapy): Tần số 3.10^8 Hz, bước sóng 100 - 10m; tạo nhiệt nội sinh sâu (endothermie), tăng tuần hoàn máu, tăng tính thực bào của bạch cầu, giãn cơ vân và giảm đau ứ trệ.
- Từ trường (Magnetotherapy): Chống viêm không nhiễm khuẩn, giảm phù nề, kích thích tân tạo vi mạch và thúc đẩy quá trình liền xương.
- Xoa bóp chữa bệnh: Thời gian thực hiện từ 5 đến 30 phút, giúp giảm căng thẳng tâm lý, tăng lưu thông tuần hoàn ngoại vi và loại trừ cảm giác đau.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án sử dụng 7 phương pháp nghiên cứu khoa học:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Khảo cứu các công trình y học thể thao, giải phẫu sinh lý và phục hồi chức năng trong và ngoài nước.
- Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu: Thu thập số liệu bệnh án bệnh nhân, người tập thể thao và vận động viên khám, điều trị tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam.
- Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu: Thực hiện qua 2 lần phỏng vấn chuyên gia để sàng lọc các bài tập và cấu trúc phác đồ; sử dụng hệ số kiểm định độ tin cậy nội tại và kiểm định Wilcoxon giữa hai lần phỏng vấn.
- Phương pháp quan sát mô tả lâm sàng: Đánh giá sưng nề, đau nhức, mức độ hạn chế vận động; thực hiện test ngăn kéo trước (đánh giá dịch chuyển quá mức của xương chày trên xương sên) và test nghiêng xương sên / ép lật trong (đánh giá sự toàn vẹn của dây chằng gót mác).
- Phương pháp ứng dụng bài tập phục hồi kết hợp vật lý trị liệu: Triển khai hệ thống bài tập phục hồi chức năng kết hợp các máy sóng ngắn, siêu âm, từ trường và thiết bị Isokinetic BIODEX.
- Phương pháp thử nghiệm lâm sàng: Tiến hành can thiệp so sánh trên 23 vận động viên chấn thương khớp cổ chân điều trị tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam (nhóm A gồm 13 vận động viên, nhóm B gồm 10 vận động viên).
- Phương pháp toán học thống kê: Tính toán tỷ lệ phần trăm, các đại lượng trung bình và sử dụng kiểm định phi tham số Wilcoxon để xử lý dữ liệu phiếu phỏng vấn và biến thiên chức năng trước - sau can thiệp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu gồm: các hồ sơ bệnh án hồi cứu và tiến cứu tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam; phiếu phỏng vấn các chuyên gia, huấn luyện viên, bác sĩ thể thao; biên bản kiểm tra lâm sàng và kết quả lượng giá chức năng vận động trên 23 vận động viên tham gia thử nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tập trung trình bày hệ thống cơ sở lý luận về chấn thương thể thao nói chung và chấn thương khớp cổ chân nói riêng ở vận động viên. Tác giả phân tích giải phẫu chi tiết khớp cổ chân: sự tiếp xúc giữa ròng rọc xương sên với mộng chày mác, hệ thống các dây chằng mác - sên trước, mác - gót, mác - sên sau, phức hợp dây chằng delta nông và sâu, rãnh gân cơ gấp ngón cái dài và các gân cơ xung quanh.
Nội dung chương tổng quan các phương pháp can thiệp hiện hành: điều trị bảo tồn, ngoại khoa (phẫu thuật nội soi khớp) và vận động trị liệu. Luận án phân tích cơ chế phục hồi cơ học qua các bài tập co cơ tĩnh (Isometric) và vận động đẳng tốc (Isokinetic), đồng thời làm rõ cơ chế tác dụng sinh lý của các phương pháp vật lý trị liệu gồm siêu âm điều trị tần số 0,7 - 3 MHz, sóng ngắn tần số 3.10^8 Hz, từ trường trị liệu và liệu pháp xoa bóp (5 - 30 phút).
Bên cạnh đó, chương 1 giới thiệu khái quát về Bệnh viện Thể thao Việt Nam: được nâng cấp từ Trung tâm Y học thể thao theo Quyết định số 1171/2006/QĐ-UBTDTT ngày 30/6/2006 của Ủy ban TDTT và tách khỏi Viện Khoa học TDTT theo Quyết định số 771/QĐ-BVHTTDL ngày 21/02/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Đây là bệnh viện đa khoa hạng II trực thuộc Tổng cục TDTT với quy mô 100 giường bệnh tại Hà Nội, thực hiện khám chữa bệnh, phục hồi chức năng chuyên sâu cho vận động viên, cán bộ ngành thể dục thể thao và nhân dân.
Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết thiết kế và quy trình triển khai nghiên cứu thông qua 7 phương pháp khoa học đã xác lập. Nội dung quy định tiêu chuẩn lựa chọn khách thể nghiên cứu, các bước tiến hành phỏng vấn chuyên gia bằng phiếu qua 2 vòng lấy ý kiến để lựa chọn bài tập, cũng như quy trình kiểm tra các dấu hiệu lâm sàng.
Các chỉ tiêu lượng giá chức năng được chuẩn hóa gồm:
- Đo biên độ vận động khớp (ROM): các chuyển động gấp lòng, gấp mu, vặn trong và vặn ngoài của khớp cổ chân.
- Các nghiệm pháp lâm sàng: test ngăn kéo kiểm tra sự lỏng lẻo trước - sau của xương chày trên xương sên, test nghiêng xương sên đánh giá dây chằng gót mác.
- Đánh giá khả năng hồi phục sinh hoạt theo Bảng lượng giá chức năng sinh hoạt của người bệnh tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam.
- Thiết kế thử nghiệm lâm sàng chia 23 vận động viên thành 2 nhóm can thiệp: nhóm A (n = 13) và nhóm B (n = 10).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm qua 3 nội dung trọng tâm:
-
Đánh giá thực trạng chấn thương khớp cổ chân: Phân tích số liệu bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam theo các nhóm bệnh học, lứa tuổi, giới tính và mức độ tổn thương dây chằng từ độ 1 đến độ 3.
-
Lựa chọn và xây dựng phác đồ bài tập kết hợp vật lý trị liệu:
- Kết quả phỏng vấn chuyên gia qua 2 lần cho thấy sự đồng thuận cao (được kiểm định bằng hệ số độ tin cậy nội tại và kiểm định Wilcoxon, phản ánh ở Bảng 3.4, Bảng 3.5, Bảng 3.6).
- Danh mục bài tập được tuyển chọn và phân thành các mức độ: bài tập vận động thụ động/có trợ giúp của nhân viên lý liệu; bài tập biên độ khớp chủ động và co cơ tĩnh (Isometric) phòng ngừa teo cơ; bài tập mức 3 tăng cường sức mạnh gân cơ cẳng chân, gân gót, tập cảm giác cơ khớp (cảm thụ bản thể), bài tập đứng một chân chịu trọng lượng cơ thể, bài tập nhảy hộp (Plyometrics), kết hợp tập trên máy Isokinetic BIODEX.
- Phác đồ vật lý trị liệu phối hợp đồng thời gồm: chiếu sóng ngắn nội nhiệt, siêu âm điều trị làm mềm mô liên kết collagen, từ trường trị liệu và xoa bóp cơ học.
- Ứng dụng và đánh giá hiệu quả thử nghiệm lâm sàng trên 23 vận động viên:
- Đặc điểm đối tượng: phân bố theo độ tuổi, giới tính (Bảng 3.7: n = 23), theo môn thể thao tập luyện (Bảng 3.8), vị trí chấn thương chân phải hoặc chân trái (Bảng 3.9), dạng tổn thương đơn thuần hay phối hợp (Bảng 3.10).
- Triệu chứng lâm sàng khi nhập viện (Bảng 3.11): các vận động viên đều có biểu hiện đau chói, sưng nề, hạn chế biên độ vận động và giảm cơ lực.
- Kết quả cải thiện thời gian điều trị của vận động viên nhóm A (Bảng 3.13) và nhóm B (Bảng 3.14).
- Kết quả phục hồi tầm vận động (ROM) khớp cổ chân: phục hồi tầm vận động gấp lòng, gấp mu của nhóm A (Bảng 3.17: n = 13) và nhóm B (Bảng 3.19: n = 10); phục hồi tầm vận động vặn trong, vặn ngoài của nhóm A (Bảng 3.18) và nhóm B (Bảng 3.20).
- Kết quả đánh giá theo Bảng lượng giá chức năng sinh hoạt của người bệnh tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam: nhóm A (Bảng 3.15, Biểu đồ 3.7) và nhóm B (Biểu đồ 3.8) ghi nhận mức tăng điểm chức năng sinh hoạt rõ rệt sau đợt can thiệp.
- Đánh giá kết quả triệu chứng lâm sàng khi xuất viện (Bảng 3.21: n = 23): hết tình trạng sưng nề, giảm đau rõ rệt, biên độ khớp mở rộng và khớp cổ chân đạt độ vững chắc cần thiết.
Bảng tổng hợp các bảng số liệu và nội dung theo dõi lâm sàng trong Chương 3 của luận án:
| Số hiệu bảng |
Nội dung chỉ tiêu theo dõi trong luận án |
Cỡ mẫu (n) |
| Bảng 3.2 |
Đặc điểm bệnh học và mức độ chấn thương khớp cổ chân |
Khảo sát thực trạng |
| Bảng 3.4 |
Tỷ lệ thành phần các đối tượng phỏng vấn chuyên gia |
Chuyên gia |
| Bảng 3.5 & 3.6 |
Kết quả qua hai lần phỏng vấn và kiểm định Wilcoxon |
Chuyên gia |
| Bảng 3.7 |
Tỷ lệ phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới |
n = 23 |
| Bảng 3.8 |
Tỷ lệ phân bố vận động viên theo môn thể thao và giới |
n = 23 |
| Bảng 3.9 |
Tỷ lệ phân bố vị trí chấn thương khớp cổ chân theo giới |
n = 23 |
| Bảng 3.10 |
Tỷ lệ bệnh nhân bị tổn thương đơn thuần hay phối hợp theo giới |
n = 23 |
| Bảng 3.11 |
Triệu chứng lâm sàng của vận động viên khi nhập viện |
n = 23 |
| Bảng 3.12 |
Đặc điểm bệnh học và mức độ chấn thương khớp cổ chân |
n = 23 |
| Bảng 3.13 & 3.14 |
Thời gian điều trị của vận động viên nhóm A và nhóm B |
Nhóm A (n=13), Nhóm B (n=10) |
| Bảng 3.15 |
Bảng lượng giá chức năng sinh hoạt của vận động viên nhóm A |
n = 13 |
| Bảng 3.17 & 3.19 |
Phục hồi tầm vận động gấp lòng, gấp mu nhóm A và nhóm B |
Nhóm A (n=13), Nhóm B (n=10) |
| Bảng 3.18 & 3.20 |
Phục hồi tầm vận động vặn trong, vặn ngoài nhóm A và nhóm B |
Nhóm A (n=13), Nhóm B (n=10) |
| Bảng 3.21 |
Triệu chứng lâm sàng của vận động viên khi xuất viện |
n = 23 |
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về chấn thương thể thao và phục hồi chức năng vận động khớp cổ chân, kết hợp giữa lý luận huấn luyện thể thao (các bài tập thể chất, bài tập thể lực) và y sinh học thể thao (các bài tập co cơ tĩnh Isometric, vận động đẳng tốc Isokinetic và các phương pháp vật lý trị liệu).
- Khẳng định tính đúng đắn của quan điểm kết hợp đồng thời chữa trị và phục hồi sớm, thay thế cho quan điểm tách rời điều trị bảo tồn/ngoại khoa với vận động trị liệu.
- Làm rõ cơ sở giải phẫu chức năng và cơ chế sinh bệnh học của khớp cổ chân liên quan đến cấu trúc mộng chày mác và diện khớp xương sên làm cơ sở định hướng các bài tập vận động.
Về mặt thực tiễn:
- Khảo sát và đánh giá bức tranh thực trạng về tình hình, đặc điểm chấn thương khớp cổ chân ở các bệnh nhân, vận động viên đến khám và điều trị tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam.
- Lựa chọn và xây dựng được phác đồ tổ hợp các bài tập thể lực chuyên biệt kết hợp vật lý trị liệu (sóng ngắn, siêu âm, từ trường, xoa bóp, máy BIODEX) được kiểm định qua ý kiến chuyên gia.
- Đánh giá hiệu quả lâm sàng trên 23 vận động viên: chứng minh phác đồ can thiệp giúp rút ngắn thời gian điều trị, phục hồi tầm vận động gấp lòng, gấp mu, vặn trong, vặn ngoài của khớp cổ chân, cải thiện các chỉ số trong bảng lượng giá chức năng sinh hoạt và loại trừ các triệu chứng sưng đau khi xuất viện.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Đưa phác đồ các bài tập kết hợp vật lý trị liệu vào quy trình điều trị và phục hồi chức năng chính thức cho vận động viên tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam và các cơ sở y tế thể thao trên cả nước.
- Trang bị đồng bộ các phương tiện vật lý trị liệu và máy tập Isokinetic BIODEX tại các trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia.
- Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ thể thao, chuyên gia phục hồi chức năng và huấn luyện viên trong việc kiểm soát lượng vận động khi vận động viên tái hòa nhập tập luyện.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Khách thể thử nghiệm lâm sàng có quy mô mẫu còn khiêm tốn (tổng số n = 23 vận động viên, trong đó nhóm A gồm 13 người và nhóm B gồm 10 người), do đối tượng là vận động viên thể thao thành tích cao bị chấn thương khớp cổ chân đến điều trị nội trú trong khoảng thời gian nghiên cứu tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam.
- Nghiên cứu chưa theo dõi dọc được diễn biến phong độ thi đấu đỉnh cao lâu dài của vận động viên sau khi xuất viện trở lại các giải đấu quốc tế nhiều năm tiếp theo.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô thử nghiệm phác đồ can thiệp trên nhóm đối tượng người tập thể dục thể thao phong trào và nhân dân có chấn thương khớp cổ chân.
- Xây dựng các phác đồ bài tập vận động phục hồi phân hóa chuyên sâu theo tính chất cơ sinh học của từng môn thể thao cụ thể (như điền kinh, bóng đá, bóng chuyền, thể dục dụng cụ).
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng chuyên môn:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Giáo dục học, Huấn luyện thể thao, Y sinh học thể dục thể thao và Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng: Luận án cung cấp mô hình nghiên cứu kết hợp giữa khoa học sư phạm thể dục thể thao và y học thực nghiệm lâm sàng, phương pháp xử lý số liệu chuyên gia qua kiểm định Wilcoxon.
- Bác sĩ thể thao, kỹ thuật viên phục hồi chức năng tại các câu lạc bộ, trung tâm huấn luyện thể thao: Cung cấp quy trình bài tập cụ thể từ co cơ tĩnh (Isometric) đến đẳng tốc (Isokinetic) trên máy BIODEX và thông số điều trị vật lý trị liệu (tần số siêu âm 0,7 - 3 MHz, tần số sóng ngắn 3.10^8 Hz, thời gian xoa bóp 5 - 30 phút).
- Huấn luyện viên và vận động viên: Nắm rõ các nguyên nhân gây chấn thương (quá tải, vi chấn thương, khởi động không đúng, sân bãi và giày tập), các test đánh giá lâm sàng (test ngăn kéo trước, test nghiêng xương sên) và nguyên tắc sơ cứu ban đầu bằng phác đồ RICE, tránh dùng dầu nóng gây biến chứng.
- Nhà quản lý thể thao và lãnh đạo Bệnh viện Thể thao Việt Nam: Tham khảo cơ sở thực tiễn để định hướng đầu tư thiết bị phục hồi chức năng và xây dựng chiến lược chăm sóc sức khỏe y học thể thao toàn diện.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án trích dẫn phân loại mức độ chấn thương thể thao theo những tiêu chuẩn nào?
Trả lời: Luận án trích dẫn 2 tiêu chuẩn: Hệ thống theo dõi chấn thương thể thao Quốc gia Mỹ (phân loại theo số ngày gián đoạn thi đấu: nhẹ dưới 7 ngày, vừa từ 7 - 21 ngày, nặng trên 21 ngày) và tiêu chuẩn của Lyle J. Micheli - Mark Jenking (phân loại theo đáp ứng vận động thành 3 mức: nhẹ, trung bình, nặng dựa trên cảm giác đau, mức độ co cứng cơ, sưng nề và bầm tím).
-
Đặc điểm cơ sinh học của diện khớp xương sên ảnh hưởng như thế nào đến độ vững của khớp cổ chân?
Trả lời: Xương sên có mặt khớp hình cái chêm, đường kính ngang trước rộng hơn đường kính sau. Khi bàn chân ở tư thế gập mu, phần rộng nhất của xương sên ăn khớp khít khao vào mộng chày mác giúp tăng độ ổn định của khớp. Khi bàn chân gập lòng, phần hẹp của xương sên ăn khớp vào mộng làm khớp lỏng lẻo hơn, khiến tính ổn định giảm xuống và dễ bị chấn thương.
-
Các tác nhân vật lý trị liệu nào được lựa chọn phối hợp và thông số kỹ thuật ra sao?
Trả lời: Các phương pháp gồm: Siêu âm điều trị (tần số 0,7 - 3 MHz, tạo vi xoa bóp làm thay đổi 0,02% thể tích tế bào, làm mềm sợi collagen); Sóng ngắn (tần số 3.10^8 Hz, bước sóng 100 - 10m, tạo nhiệt nội sinh làm giãn mạch, giảm trương lực cơ); Từ trường trị liệu (chống viêm, giảm phù nề, kích thích tân tạo vi mạch và liền xương); Xoa bóp chữa bệnh (thời gian 5 - 30 phút nhằm giảm căng thẳng và tăng tuần hoàn ngoại vi).
-
Thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên đối tượng nào và đo lường những chỉ tiêu chức năng nào?
Trả lời: Thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên 23 vận động viên chấn thương khớp cổ chân tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam (nhóm A gồm 13 người, nhóm B gồm 10 người). Các chỉ tiêu theo dõi gồm: thời gian điều trị; điểm số theo Bảng lượng giá chức năng sinh hoạt của người bệnh tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam; tầm vận động (ROM) khớp cổ chân (gấp lòng, gấp mu, vặn trong, vặn ngoài); và các triệu chứng lâm sàng (đau, sưng nề, bầm tím) khi nhập viện và xuất viện.
-
Bệnh viện Thể thao Việt Nam được thành lập và hoạt động theo những căn cứ pháp lý nào được nêu trong luận án?
Trả lời: Bệnh viện được nâng cấp từ Trung tâm Y học thể thao theo Quyết định số 1171/2006/QĐ-UBTDTT ngày 30/6/2006 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban TDTT Nguyễn Danh Thái; bắt đầu hoạt động từ ngày 10/5/2006 với quy mô 100 giường bệnh, là bệnh viện đa khoa hạng II trực thuộc Tổng cục TDTT. Đến năm 2008, bệnh viện tách khỏi Viện Khoa học TDTT theo Quyết định số 771/QĐ-BVHTTDL ngày 21/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Mạnh Thắng là công trình nghiên cứu chuyên ngành Giáo dục học kết hợp y sinh học thể dục thể thao, giải quyết vấn đề phục hồi chức năng vận động khớp cổ chân cho vận động viên tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích giải phẫu chức năng, khảo sát thực trạng tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam và phỏng vấn chuyên gia, luận án đã xây dựng phác đồ kết hợp giữa bài tập thể chất từ tĩnh lực (Isometric) đến đẳng tốc (Isokinetic) với các phương pháp vật lý trị liệu. Kết quả thử nghiệm lâm sàng trên 23 vận động viên đã chứng minh hiệu quả của phác đồ trong việc rút ngắn thời gian điều trị, khôi phục tầm vận động khớp, giảm triệu chứng đau sưng và nâng cao khả năng sinh hoạt vận động. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn hữu ích cho công tác đào tạo, chăm sóc y tế và phục hồi thể lực cho vận động viên thành tích cao.