Chương 1: Những vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý cho người dưới 18 tuổi. Chương 2: Thực trạng công tác trợ giúp pháp lý cho người dưới 18 tuổi qua thực tiễn tại địa bàn thành phố Hà Nội. 7 Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm về trợ giúp pháp lý cho người dưới 18 tuổi qua thực tiễn tại địa bàn thành phố Hà Nội. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 1.
Khái niệm trợ giúp pháp lý cho người dưới 18 tuổi 1. Khái niệm trợ giúp pháp lý Ở Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt, “trợ giúp pháp lý” là sự kết hợp của hai từ “giúp đỡ” và “pháp lý”. Trong Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý xuất bản năm 1999 tại nhà xuất bản Văn hóa – thông tin, giải thích “trợ giúp” được hiểu là “giúp đỡ, tài trợ, hỗ trợ, giúp đỡ ai đó làm việc gì, giúp đỡ những người đang gặp khó khăn cần được trợ giúp” [32]10. Trong Từ điển Từ ngữ Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Lân, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh biên soạn năm 2000, “giúp đỡ” được giải thích là “đóng góp sức lực, tiền bạc cho ai đó hoặc một công việc chung, giúp đỡ ai đó làm một việc gì đó mà không lấy tiền công”.
Cụm từ “trợ giúp” dù ở nghĩa nào cũng cần được hiểu theo nghĩa tích cực là hỗ trợ làm cho ai một việc gì đó để làm giảm bớt khó khăn hoặc cho ai cái gì đó mà người ấy đang cần. Cái cần trong hoạt động trợ giúp này là dịch vụ pháp lý. Hiểu về nội hàm của thuật ngữ này, một số tài liệu khác còn gọi là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hay “hỗ trợ tư pháp”. Như vậy, hiện nay với tầm quan trọng và có nhiều cách hiểu, các định nghĩa khác nhau về trợ giúp pháp lý, trong khuôn khổ đề tài này, nhóm tác giả lựa chọn khái niệm trợ giúp pháp lý trong Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017: “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật”.
Nhóm tác giả đề tài nghiên cứu khoa học có quan niệm đồng thuận với Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Khái niệm trợ giúp pháp lý cho người dưới 18 tuổi Người chưa thành niên là người đang học phổ thông, giáo dục cơ bản có nhận thức, nhận thức, đạo đức, trong đó có ý thức chấp hành luật. Tuổi vị thành niên là giai đoạn 10 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa - Thông tin, https://s.vn/Tj1Z 9 phát triển thể chất nhanh chóng, nhưng tinh thần chưa thực sự ổn định, thậm chí nổi loạn, thiếu kiểm soát cảm xúc có thể dẫn đến hành vi tự phát, thiếu kiểm soát có thể dẫn đến hành vi phạm tội. Khi phạm tội phần lớn họ đều là chủ quan hoặc không biết mình sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.
Ngoài ra, yếu tố gia đình, môi trường sống cũng có tác động rất lớn đến tâm sinh lý của đối tượng này. Tại khoản 3, khoản 5 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 quy định người được trợ giúp pháp lý là “trẻ em” và “người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi”. Đây là cơ sở pháp lý đã tạo cơ hội và những điều kiện cần thiết để cho nhóm đối tượng này được tiếp cận dịch vụ pháp lý. Trợ giúp viên pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý được quy định tại khoản 1 điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý 2017; Khoản 2 điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Trợ giúp viên pháp lý thực hiện công tác trợ giúp cho người dưới 18 tuổi. Công tác trợ giúp pháp lý cho người dưới 18 tuổi được hiểu là các cơ quan, nhà nước cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người dưới 18 tuổi trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, nhằm đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật của họ. Nội dung trợ giúp pháp lý cho người dưới 18 tuổi 1. Lĩnh vực hình sự Trợ giúp pháp lý là chính sách được nhiều nước quan tâm, coi đây là một thành tố cơ bản của một hệ thống tư pháp hình sự hoạt động hiệu quả dựa trên nguyên tắc pháp quyền.
Ngày 20/12/2012, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua bản “Các Nguyên tắc và hướng dẫn tiếp cận TGPL trong tư pháp hình sự”, với 14 nguyên tắc và 18 hướng dẫn. Theo đó, TGPL được thừa nhận là thành tố cơ bản trong hệ thống tư pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền, là cơ sở cho việc thụ hưởng các quyền khác, bao gồm quyền có phiên tòa xét xử công bằng và là một sự bảo đảm quan trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và niềm tin của công chúng đối với tiến bộ của hệ thống tư pháp hình sự. Luật TGPL năm 2017 chỉ đưa ra khái niệm chung về TGPL chứ không có khái niệm riêng cho TGPL trong lĩnh vực hình sự. Theo quy định của Liên hợp quốc, TGPL trong lĩnh vực tư pháp hình sự “bao gồm tư vấn pháp lý, hỗ trợ và đại diện cho người bị tạm giam, bị bắt hoặc bị tù giam, bị tình nghi hay bị cáo buộc, hoặc bị buộc tội và cho các 10 nạn nhân, nhân chứng trong quá trình tố tụng hình sự, được cung cấp miễn phí cho những người không có đủ điều kiện hoặc khi lợi ích của công lý đòi hỏi như vậy.
Hơn nữa, “trợ giúp pháp lý” cũng có chủ đích bao hàm các khái niệm về giáo dục pháp luật, tiếp cận thông tin pháp lý và các dịch vụ khác được cung cấp cho các đối tượng thông qua các cơ chế giải quyết tranh chấp và quá trình tư pháp phục hồi”. Khái niệm này đã đề cập khá chi tiết về các hình thức TGPL, đối tượng đưuọc TGPL và mục đích của TGPL trong hình sự. TGPL đề cập nhiều nhất đến lĩnh vực TTHS, nhóm tác giả làm rõ hơn về TTHS. Thực hiện TGPL trong hoạt động TTHS được thực hiện thông qua quá trình người thực hiện TGPL phối hợp với người tiến hành tố tụng, vì vậy nó luôn được đặt trong mối quan hệ giữa người thực hiện TGPL – đối tượng được TGPL – Cơ quan tiến hành tố tụng.
Vì vậy, bên cạnh việc đảm bảo tất cả các nguyên tắc của hoạt động TGPL, TGPL rtong hoạt động tố tụng cần phải chú trọng cả những nguyên tắc đối với cả đội ngũ người tiến hành tố tụng đó chính là đảm bảo những nguyên tắc trong tố tụng hình sự. Thứ nhất, cụ thể hóa một số nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là: Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Thứ hai, xuất phát từ chính sách bảo đảm quyền con người, quyền công dân, chính sách xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, chính sách dân tộc và ưu đãi xã hội của Đảng và Nhà nước. Hoạt động TGPL trong TTHS được thực hiện thông qua 3 hình thức: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng (khoản 2 Điều 27 Luật TGPL 2017).
Đây là những hình thức chủ yếu được thực hiện xuyên suốt chính sách TGPL. Hình thức tham gia tố tụng là hình thức TGPL cơ bản nhất và được thực hiện nhiều nhất. Theo đó, người TGPL đóng vai trò là đại diện chính thức cho người cần TGPL (người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thụ hưởng sự TGPL). Hình thức này đặc biệt là hình thức tham gia tranh tụng trong hoạt động xét xử của Tòa án là hình thức chủ yếu và là hình thức đang được chú trọng đầu tư về kinh phí, con người và chất lượng dịch vụ nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của các đối tượng được TGPL trong TTHS.
Bên cạnh hình thức tham gia tố tụng, hình thức tư vấn pháp luật do người thực hiện TGPL tiến hành, với những hoạt động như “hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến tranh chấp, khiếu nại, vướng mắc pháp luật; hướng dẫn giúp các bên đi đến hòa giải, thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc”. Đây là hình 11 thức thể hiện rõ tính thường xuyên của TGPL. Tư vấn pháp luật được tiến hành khi xuất hiện các vụ việc pháp luật cụ thể và có yêu cầu của người được TGPL. Cuối cùng, đại diện ngoài tố tụng là hình thức TGPL do luật sư và TGVPL tiến hành, thông qua các văn bản cử đại diện ngoài đại diện ngoài tố tụng cho các đối tượng được thụ hưởng TGPL trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phạm vị đại diện chỉ trong yêu cầu của những đối tượng trên.
Theo đó, khi đảm nhận việc đại diện ngoài tố tụng, luật sư, TGVPL sẽ thay mặt các đối tượng được thụ hưởng TGPL tham gia, thực hiện các hoạt động, giao dịch dân sự, thương mại, hành chính. với các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác[19] [10] 11 12. Bộ luật hình sự năm 2015 quy định rõ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi: Người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong một số tội danh.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Ngoài ra, Bộ luật hình sự có chính sách hình sự riêng đối với người dưới 18 tuổi nhằm bảo vệ người dưới 18 tuổi khi họ là đối tượng bị tội phạm xâm hại, đồng thời cũng quy định trách nhiệm hình sự nhưng theo hướng giảm nhẹ đối với người dưới 18 tuổi khi họ chính là người thực hiện tội phạm.