Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ hóa học với đề tài "Nghiên cứu chế tạo, tính năng của vật liệu tổ hợp trên cơ sở polyme tự nhiên và thăm dò ứng dụng trong lĩnh vực bảo quản rau quả sau thu hoạch" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lương thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (chuyên ngành Hóa hữu cơ, mã số: 9 44 01 14), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Thu Hà và GS. Nguyễn Văn Khôi, hoàn thành năm 2022.

Về tính cấp thiết, tác giả phân tích thực trạng nguồn cung dầu mỏ cạn kiệt, biến động giá cả và vấn đề biến đổi khí hậu đã thúc đẩy việc phát triển vật liệu polyme tự nhiên có khả năng phân hủy sinh học và tái tạo. Trong lĩnh vực nông nghiệp, tổn thất rau quả sau thu hoạch do quá trình trao đổi chất, hô hấp và vi sinh vật gây hại chiếm tỷ lệ từ 20% đến 80%. Tại Việt Nam, khí hậu nhiệt đới tạo ra sản lượng nông sản thu hoạch quanh năm, đòi hỏi các công nghệ bảo quản phù hợp nhằm nâng cao chất lượng và phục vụ xuất khẩu. Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là các màng phủ đơn thành phần (như màng HPMC nguyên chất hoặc màng sáp đơn lẻ) bộc lộ nhiều nhược điểm về cơ lý, khả năng cản ẩm kém hoặc độ giòn cao. Đồng thời, các nghiên cứu trong nước về hệ vật liệu tổ hợp đa cấu tử dạng nhũ tương nước kết hợp hoạt chất kháng khuẩn tự nhiên nhằm bảo quản nông sản sau thu hoạch vẫn chưa được tiến hành một cách có hệ thống.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm:

  1. Chế tạo và xác định được cấu trúc, tính chất của một số vật liệu tổ hợp dạng màng trên cơ sở polyme tự nhiên.
  2. Thăm dò ứng dụng vật liệu tổ hợp trên cơ sở polyme tự nhiên để bảo quản rau quả sau thu hoạch.

Nội dung nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Chế tạo và nghiên cứu cấu trúc, tính chất của màng vật liệu tổ hợp trên cơ sở HPMC/sáp ong.
  2. Chế tạo và nghiên cứu cấu trúc, tính chất của màng vật liệu tổ hợp trên cơ sở HPMC/shellac.
  3. Nghiên cứu chế tạo màng vật liệu tổ hợp trên cơ sở HPMC có tính năng kháng khuẩn.
  4. Nghiên cứu thăm dò ứng dụng màng vật liệu tổ hợp trên cơ sở HPMC kháng khuẩn để bảo quản rau quả (chanh không hạt, cà chua cherry).

Đối tượng nghiên cứu là polyme tự nhiên hydroxypropyl metyl xenlulozơ (HPMC E15), sáp ong (Beeswax E901), nhựa cánh kiến đỏ (Shellac E904); các chất hóa dẻo (glyxerin, propylen glycol, polyetylen glycol 400, sorbitol, axit citric); chất nhũ hóa (axit stearic, axit oleic, axit lauric); phụ gia kháng khuẩn tự nhiên (tinh dầu Thymol, tinh dầu Oregano). Đối tượng rau quả khảo nghiệm gồm chanh không hạt thu hoạch tại xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (cây 4 năm tuổi, độ vàng vỏ 20–30%, độ Brix 7,3–9) và cà chua cherry thu hoạch tại thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (đỉnh quả xuất hiện màu vàng/hồng khoảng 10%). Phạm vi thực nghiệm thực hiện tại các phòng thí nghiệm chuyên ngành tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn trước năm 2022. Điều kiện bảo quản khảo nghiệm đối với chanh không hạt là nhiệt độ 8–10°C, độ ẩm 90–95%; đối với cà chua cherry là nhiệt độ 10–12°C, độ ẩm 90–95%.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về màng polyme sinh học ứng dụng trong bảo quản rau quả. Đối với hướng nghiên cứu màng tổ hợp HPMC và sáp ong (BW), María Llanos Navarro – Tarazaga và cộng sự (2007) khảo sát màng HPMC/BW/Shellac trên cam "Valencia" và quýt "Marisol", xác định tỷ lệ HPMC:Glyxerin tối ưu lần lượt là 18%:11% và 11%:18%. Năm 2008, nhóm tác giả này nghiên cứu ảnh hưởng của chất nhũ hóa, ghi nhận tỷ lệ BW/axit oleic (OA) 1:0,5 tạo màng composit có độ bền dẻo thích hợp trên quýt "Ortanique". Năm 2011, họ tiếp tục công bố tỷ lệ 20g BW/100g chất khô giúp giảm thoát hơi nước và thấm oxy khi bảo quản mận "Angeleno" ở nhiệt độ lạnh. Sule Gunaydin và cộng sự (2017) khảo sát lớp phủ HPMC/BW kết hợp chất kháng nấm với nhũ tương 7% chất rắn, glyxerin và axit stearic nhằm kiểm soát hao hụt khối lượng quả mận "Friar". Formiga AS. và cộng sự (2019) xác định màng HPMC kết hợp 20% BW có hiệu quả bảo quản tốt nhất cho ổi đỏ "Pedro Sato".

Đối với hướng nghiên cứu màng HPMC kết hợp shellac, Sontaya Limmatvapirat và cộng sự (2008) ứng dụng shellac kết hợp succinic anhydride làm màng dẫn truyền thuốc nhằm cải thiện độ hòa tan và cơ lý. Sana Asrar (2012) dùng axit citric làm xúc tác axit với tỷ lệ Shellac:axit citric là 1000:1 để cải thiện khả năng trộn hợp giữa HPMC và shellac, giảm độ thấm hơi nước (WVP). Youngjae Byun và cộng sự (2012) khảo sát chất nhũ hóa axit lauric (LA) với tỷ lệ Shellac:LA tối ưu 20:1, giúp màng HPMC/shellac giảm WVP từ 6% đến 11%. Silvia A. Valencia–Chamorro và cộng sự (2009) bảo quản cam "Valencia" bằng màng HPMC kết hợp sáp ong, shellac và chất kháng nấm ở 5°C trong 60 ngày. Bahareh Saberi và cộng sự (2017) nghiên cứu màng tinh bột đậu gum guar kết hợp 40% shellac, 1% axit stearic và 0,3% Tween–20. Về tinh dầu kháng khuẩn, Choi và cộng sự (2016) phủ màng HPMC chứa 2% tinh dầu Oregano trên mận; Sánchez–González và cộng sự khảo sát màng HPMC chứa tinh dầu cây trà và cam bergamot; Jae Yeol Lee và cộng sự bổ sung 5,0% (v/v) tinh dầu Oregano vào màng HPMC để ức chế Salmonella typhimurium; Emiroglu và cộng sự ghi nhận tinh dầu Thymol và Oregano kiểm soát hiệu quả Escherichia coli O157:H7.

Tại Việt Nam, các tác giả đã tiếp cận việc tạo màng bảo quản quả tươi: Phạm Thị Thu Hà nghiên cứu màng shellac bảo quản mận trong 3 tuần; Nguyễn Thùy Châu và cộng sự chế tạo composit HPMC/Sh/BW kéo dài thời gian bảo quản cam trên 30 ngày; Nguyễn Duy Lâm và cộng sự dùng HPMC bổ sung 6% nano sáp carnauba và 80 ppm nano bạc bảo quản xoài Cát Chu; Nguyễn Thị Bích Thủy và cộng sự sử dụng chitosan bảo quản chanh tươi 30 ngày; Nguyễn Thị Kim Cúc và cộng sự, Chu Thị Thủy ứng dụng nano chitosan kết hợp tinh dầu nghệ; Vũ Thu Thủy khảo sát màng HPMC–lipid bảo quản cam Vinh; Ngô Thị Minh Phương và cộng sự kết hợp tinh dầu sả (0,5% và 1%) vào màng pectin/CMC.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết là: Tập trung nghiên cứu một cách bài bản, toàn diện các quy luật cấu trúc – tính chất của hệ màng nhũ tương nước đa cấu tử HPMC/BW và HPMC/Sh; tối ưu hóa đồng thời chất hóa dẻo và chất nhũ hóa phù hợp với từng hệ kỵ nước; kết hợp tinh dầu tự nhiên (Thymol, Oregano) để bổ sung hoạt tính kháng khuẩn; và ứng dụng thực tế trên hai đối tượng nông sản nhiệt đới cụ thể (chanh không hạt và cà chua cherry) tại các điều kiện nhiệt độ mát có kiểm soát.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên nguyên lý cấu trúc và tương tác của các biopolyme:

  • HPMC là ete xenlulozơ bán tổng hợp chứa các nhóm thế metoxy kỵ nước (–OCH3) và hydroxypropyl ưa nước (–OC3H6OH), có khả năng tan trong nước lạnh tạo dung dịch có hoạt tính bề mặt nhưng tạo màng có tính cản ẩm kém.
  • Sáp ong (BW) là lipid tự nhiên chứa este đơn (35%), hydrocarbon (14%), diestes (14%), axit béo tự do (12%) và hydroxy polyestes (8%), có tính kỵ nước mạnh giúp ngăn cản hơi nước và khí.
  • Shellac (Sh) là este của các axit béo hydroxy (chủ yếu là axit aleuritic) và axit sesquiterpenoid (axit jalaric, laccijalaric), có độ thấm khí O2, CO2 thấp và tạo độ bóng bề mặt.
  • Cơ chế hóa dẻo dựa trên sự hình thành liên kết hydro giữa các nhóm –OH của chất hóa dẻo polyol (glyxerin, PG, PEG400, sorbitol) với chuỗi polyme, làm giảm liên kết nội phân tử, tăng thể tích tự do và độ linh hoạt mạch.
  • Cơ chế nhũ hóa sử dụng các axit béo (stearic, lauric, oleic) lưỡng thân để giảm sức căng bề mặt giữa pha nước và pha lipid, phân tán hạt nhũ dưới tác động của nhiệt độ và sóng siêu âm.
  • Cơ chế kháng khuẩn của tinh dầu Thymol (2-isopropyl-5-methylphenol) và Oregano (chứa Carvacrol và Thymol) dựa trên bản chất phenolic kỵ nước chèn vào lớp kép phospholipid của màng tế bào vi khuẩn, gây rò rỉ nội bào và ức chế hệ enzyme.

Về phương pháp chế tạo màng, luận án sử dụng phương pháp đúc dung môi (solvent casting):

  • Chế tạo màng HPMC/BW: HPMC hòa tan trong nước ở 80°C, khuấy 750 vòng/phút trong 60 phút, hạ nhiệt độ xuống 40–50°C rồi thêm chất hóa dẻo, siêu âm 60 phút. Sáp ong đun chảy cùng chất nhũ hóa và 1 mL NH4OH 25% ở 90°C, thêm 20 mL nước nóng 90°C, khuấy 120 phút tạo nhũ tương. Phối trộn nhũ tương sáp ong vào thể keo HPMC, khuấy 60 phút, siêu âm 120 phút.
  • Chế tạo màng HPMC/Sh: Shellac hòa tan trong cồn tuyệt đối cùng chất nhũ hóa ở 250 vòng/phút trong 60 phút, phối trộn vào keo HPMC ở 50°C, khuấy 1000 vòng/phút trong 60 phút, siêu âm 60 phút.
  • Chế tạo màng kháng khuẩn: Bổ sung tinh dầu Thymol hoặc Oregano vào hệ nhũ tương HPMC/BW (khuấy 750 vòng/phút, 30 phút) và HPMC/Sh (khuấy 1000 vòng/phút, 30 phút).
  • Rót 6 mL chế phẩm lên đĩa petri đường kính 100 mm, sấy khô ở 40°C trong chân không, bảo quản bình hút ẩm 24 giờ trước khi đo.

Về thiết bị và tiêu chuẩn phân tích tính năng màng:

  • Độ thấm hơi nước (WVP): Phương pháp cốc thử theo tiêu chuẩn ASTM E96–92, đặt trong bình hút ẩm chứa dung dịch Mg(NO3)2 bão hòa (RH = 60%), tính theo công thức: $$\text{WVP} = \frac{C \cdot t}{A \cdot \Delta p}$$ trong đó $C$ là lượng ẩm truyền qua màng trong một đơn vị thời gian (g/ngày), $t$ là bề dày màng (mm), $A$ là diện tích tiếp xúc ($m^2$), $\Delta p$ là chênh lệch áp suất hơi nước (kPa).
  • Hình thái học vi mô: Kính hiển vi điện tử quét SEM JEOL SM–6510 LV (10–15 kV), quan sát bề mặt và mặt cắt ngang phá hủy trong nitơ lỏng.
  • Tính chất cơ lý: Máy Tensilon RTC–1210A theo tiêu chuẩn ASTM D882–02 (mẫu 70 mm x 10 mm, khoảng cách ngàm 50 mm, tốc độ kéo 50 mm/phút) để đo độ bền kéo đứt (TS), độ giãn dài khi đứt (EB) và modun đàn hồi (EM).
  • Cấu trúc nhóm chức: Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier FTIR Shimadzu 8400s (dải quét 4000–400 $cm^{-1}$).
  • Độ thẩm thấu oxy (OP): Máy Illinois Instruments Model 8500 đo ở 25±2°C, RH 50±5%, tính theo công thức: $$\text{OP} = \frac{\text{GTR} \cdot t}{\Delta p}$$
  • Phân tích nhiệt: Máy DSC 204F1 Phoenix (Netzsch) theo ASTM E968 từ nhiệt độ phòng đến 200°C (tốc độ gia nhiệt 10°C/phút, dòng khí N2 20 mL/phút) xác định nhiệt độ chuyển hóa thủy tinh ($T_g$).
  • Kích thước hạt và độ nhớt: Phân tích tán xạ laser Horiba LA–920 xác định giá trị Mean và Median; đo độ nhớt bằng máy Brookfield RV–3 ở 100 vòng/phút.
  • Hoạt tính kháng khuẩn: Phương pháp đếm khuẩn lạc theo ASTM E2149–13A tại Viện Pasteur TP.HCM trên 4 chủng vi khuẩn: Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Salmonella typhimurium, Listeria monocytogenes theo thời gian tiếp xúc 0h, 12h, 24h.

Về phương pháp đánh giá chất lượng rau quả sau thu hoạch:

  • Tỷ lệ hao hụt khối lượng tự nhiên xác định bằng cân phân tích: $$X = \frac{m_0 - m_1}{m_0} \times 100%$$
  • Biến đổi màu sắc vỏ quả: Đo máy Konica Minolta CR–400 lấy các chỉ số màu $L^$, $a^$, $b^$, tính độ biến đổi màu: $$\Delta E = \sqrt{(L_i^ - L_0^)^2 + (a_i^ - a_0^)^2 + (b_i^ - b_0^*)^2}$$
  • Cường độ hô hấp: Đo dòng khí liên tục bằng máy Dansensor ở 20°C, tính lượng $mg\text{CO}_2/(\text{kg}\cdot\text{h})$.
  • Tỷ lệ thối hỏng (%), hàm lượng vitamin C và hàm lượng axit tổng số (chuẩn độ).
Nguyên liệu / Thiết bị Xuất xứ / Thông số kỹ thuật chính Chỉ tiêu kiểm tra chất lượng ban đầu
HPMC E15 Zhejiang Joiway Pharmaceutical (Trung Quốc) Methoxy 28,0%; mất khi sấy 5%; không tan <0,5%; kim loại nặng <20 ppm; As <2 ppm; qua sàng 100 mesh 90,0%; E. coli âm tính
Sáp ong (E901) Công ty Sáp ong Việt Nam Este đơn 35%; hydrocarbon 14%; diestes 14%; axit béo tự do 12%; hydroxy polyestes 8%; nhiệt độ nóng chảy xác định
Shellac (E904) Jharkhand (Ấn Độ) Chỉ số axit 65–80; chỉ số este 125–160; chỉ số xà phòng hóa 190–230; nhiệt độ chảy mềm 65–85°C; chì <10 ppm
Chanh không hạt Thuận Bình, Thạnh Hóa, Long An $L^* = 45,66$; chất khô hòa tan 7,3% Brix; axit citric 6,8%; tỷ lệ nước quả 44%
Cà chua cherry Liên Nghĩa, Đức Trọng, Lâm Đồng Chất khô 5,06%; chất khô hòa tan 4,20%; tỷ lệ thịt quả 86,6%; vitamin C 40 mg/100g; axit tổng số 0,27%
Máy kéo cơ lý Tensilon RTC–1210A (Nhật Bản) Đo độ bền kéo đứt TS, độ giãn dài khi đứt EB, modun đàn hồi EM
Kính hiển vi SEM JEOL SM–6510 LV (Nhật Bản) Điện thế gia tốc 10–15 kV, chụp vi cấu trúc bề mặt và mặt cắt

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu và Chương 1: Tổng quan

Chương mở đầu và tổng quan hệ thống hóa các khái niệm về polyme tự nhiên, công nghệ tạo màng hydrocolloid và màng composite ăn được. Tác giả phân tích đặc điểm hóa học của HPMC 2910/E15 tan tốt trong nước và dung môi phân cực, khả năng tạo màng cơ lý ổn định nhưng rào cản hơi nước yếu. Sự kết hợp các lipid như sáp ong và shellac có tác dụng nâng cao tính cản ẩm và kiểm soát tính thấm khí. Phân tích cơ chế các phụ gia hóa dẻo polyol (như glyxerin làm giảm liên kết hydro giữa các mạch polysacarit, tăng tính mềm dẻo) và các axit béo (axit stearic, oleic, lauric đóng vai trò chất hoạt động bề mặt làm giảm kích thước pha phân tán trong nhũ tương). Phần sinh lý sau thu hoạch làm rõ các nguyên nhân gây hỏng nông sản: cường độ hô hấp của quả có đỉnh hô hấp (như cà chua), sự thoát hơi nước gây giảm khối lượng và nhăn nheo, các rối loạn sinh lý do lạnh, cùng sự tấn công của vi sinh vật (Penicillium italicum, Phytophthora, Fusarium solani). Chương này tổng thuật các giải pháp bảo quản thông dụng (lạnh, hóa chất, bao gói MAP, SIT) và nêu bật lợi thế của màng bán thấm sinh học trong việc tạo ra vi khí quyển điều chỉnh quanh quả mà không để lại tồn dư độc hại.

Chương 2: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết thông số các hóa chất đạt tiêu chuẩn dược điển và phân tích: HPMC E15 đạt tiêu chuẩn USP38; sáp ong E901; shellac E904; các chất hóa dẻo (G, PG, PEG400, Sorbitol, Axit Citric) và nhũ hóa (SA, OA, LA) có độ tinh khiết >98–99%; tinh dầu Thymol (P > 99%) và Oregano từ Sigma-Aldrich. Chương này quy chuẩn hóa toàn bộ các bước thực nghiệm tạo màng đúc dung môi có xử lý siêu âm, các công thức toán học đo đạc WVP theo ASTM E96–92, cơ lý màng (TS, EB, EM) theo ASTM D882–02, đo độ thấm oxy OP trên màng bằng thiết bị Illinois Model 8500, quét nhiệt DSC 204F1 Phoenix theo ASTM E968, phân bố kích thước hạt Horiba LA–920 và kiểm tra vi sinh vật theo ASTM E2149–13A. Đồng thời, chương trình bày chi tiết quy trình phủ màng thực nghiệm: chanh không hạt được nhúng ngập trong dịch màng 10 giây, để khô và bảo quản ở 8–10°C; cà chua cherry được nhúng ngập 15 giây, để khô và bảo quản ở 10–12°C, độ ẩm duy trì 90–95%.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Nội dung chương 3 được triển khai qua 5 phần thực nghiệm cụ thể:

3.1 Chế tạo và nghiên cứu tính chất màng tổ hợp HPMC/BW

Luận án khảo sát ảnh hưởng của nồng độ dung dịch HPMC, loại và tỷ lệ chất hóa dẻo (glyxerin, propylen glycol, polyetylen glycol 400), hàm lượng sáp ong (BW) và loại chất nhũ hóa (axit stearic, axit lauric, axit oleic):

  • Khảo sát nồng độ HPMC và chất hóa dẻo: Việc bổ sung chất hóa dẻo dạng polyol lỏng (như glyxerin) làm tăng độ giãn dài khi đứt EB, giảm độ bền kéo TS và modun đàn hồi EM; cải thiện độ linh hoạt màng so với mẫu không hóa dẻo (KHD).
  • Ảnh hưởng của sáp ong: Khi tăng tỷ lệ sáp ong trong màng composite, độ thấm hơi nước WVP và độ thấm oxy OP giảm rõ rệt nhờ tính kỵ nước của lipid. Ảnh SEM bề mặt và mặt cắt ngang phản ánh sự phân tán của các hạt sáp trong nền HPMC.
  • Ảnh hưởng của chất nhũ hóa: Chất nhũ hóa axit oleic (OA) và axit stearic (SA) tác động trực tiếp đến độ đồng nhất của hệ nhũ. Kết quả tán xạ laser LA–920 xác định kích thước hạt nhũ tương (Mean, Median) nhỏ nhất khi phối hợp chất nhũ hóa thích hợp. Đường cong DSC của HPMC bột, sáp ong, màng HPMC/2G và màng HPMC/BW xác định các pic nhiệt chuyển pha và đánh giá độ tương hợp giữa pha polysacarit và pha lipid.

3.2 Chế tạo và nghiên cứu tính chất màng tổ hợp HPMC/Sh

Khảo sát ảnh hưởng của HPMC, chất hóa dẻo (glyxerin, sorbitol, axit citric), hàm lượng shellac và chất nhũ hóa (SA, LA, OA) đến các đặc tính màng:

  • Ảnh hưởng của chất hóa dẻo: Sorbitol và axit citric đóng vai trò tăng cường tính trộn lẫn giữa HPMC và shellac. Việc điều chỉnh hàm lượng chất hóa dẻo glyxerin/sorbitol giúp khắc phục độ giòn tự nhiên của shellac, tăng độ giãn dài khi đứt và độ mềm dẻo.
  • Ảnh hưởng của hàm lượng Shellac: Shellac làm tăng độ bóng bề mặt và cải thiện khả năng cản khí OP. Tuy nhiên, nếu nồng độ shellac quá cao mà không phối hợp chất nhũ hóa phù hợp sẽ dẫn đến sự phân bố không đều và xuất hiện khuyết tật trên vi cấu trúc cắt ngang (SEM).
  • Ảnh hưởng của chất nhũ hóa: Axit lauric (LA) và axit stearic (SA) cho thấy sự ổn định hệ nhũ, giảm kích thước hạt phân tán thể hiện qua phép đo hạt laser và độ nhớt Brookfield. Kết quả DSC của Shellac và màng phối trộn HPMC/Sh xác định sự dịch chuyển nhiệt độ chuyển hóa thủy tinh $T_g$.

3.3 Nghiên cứu quá trình tạo màng tổ hợp trên cơ sở HPMC có tính năng kháng khuẩn

Luận án tiến hành tích hợp tinh dầu Thymol và Oregano vào hai hệ màng HPMC/BW và HPMC/Sh:

  • Cấu trúc và cơ lý: Phổ hồng ngoại FTIR ghi nhận các dao động đặc trưng của vòng thơm phenolic và liên kết hydro giữa các thành phần tinh dầu với nền màng polyme. Ảnh SEM mặt cắt cho thấy cấu trúc phân tán đều của các giọt tinh dầu. Việc bổ sung tinh dầu làm thay đổi nhẹ các chỉ số cơ lý (TS, EB, EM) và duy trì giá trị WVP, OP trong giới hạn kiểm soát.
  • Hoạt tính kháng khuẩn định lượng: Đo đạc theo tiêu chuẩn ASTM E2149–13A sau các mốc thời gian tiếp xúc 0h, 12h và 24h đối với 4 chủng vi khuẩn thực nghiệm:
Mẫu màng tổ hợp khảo sát Vi khuẩn Gram âm: E. coli Vi khuẩn Gram dương: S. aureus Vi khuẩn Gram âm: S. typhimurium Vi khuẩn Gram dương: L. monocytogenes
Màng HPMC/BW không tinh dầu Không thể hiện hoạt tính kháng khuẩn rõ rệt Không thể hiện hoạt tính kháng khuẩn rõ rệt Không thể hiện hoạt tính kháng khuẩn rõ rệt Không thể hiện hoạt tính kháng khuẩn rõ rệt
Màng HPMC/BW/Thymol Giảm mật độ khuẩn lạc CFU/mL sau 12h và 24h Ức chế mạnh mật độ khuẩn lạc sau 12h và 24h Giảm số lượng tế bào sống theo thời gian tiếp xúc Thể hiện hoạt tính ức chế vi khuẩn rõ rệt
Màng HPMC/BW/Oregano Ức chế sinh trưởng khuẩn lạc E. coli sau 24h Giảm mạnh số lượng khuẩn lạc sống sau 24h Giảm CFU/mL đáng kể sau 12h và 24h Giảm mật độ vi khuẩn theo thời gian thử nghiệm
Màng HPMC/Sh/Thymol Mật độ CFU/mL giảm sâu so với thời điểm 0h Ức chế vi khuẩn Gram (+) hiệu quả sau 24h Làm suy giảm số lượng khuẩn lạc sau 12h–24h Hoạt tính đối kháng vi sinh vật thể hiện rõ
Màng HPMC/Sh/Oregano Khống chế hiệu quả sự phát triển của khuẩn lạc Giảm tỷ lệ sống của tế bào vi khuẩn sau 24h Giảm mật độ tế bào S. typhimurium Ức chế mật độ vi khuẩn L. monocytogenes

3.4 Thăm dò ứng dụng màng HPMC/BW/Tinh dầu bảo quản chanh không hạt

Thử nghiệm phủ màng nhúng trên chanh không hạt (các công thức: Đối chứng ĐC, HPMC, HPMC/2G, HPMC/BW, HPMC/BW/Thymol, HPMC/BW/Oregano) bảo quản ở 8–10°C, độ ẩm 90–95%:

  • Tỷ lệ thối hỏng và hao hụt khối lượng: Mẫu đối chứng không phủ màng có tỷ lệ thối hỏng và phần trăm hao hụt khối lượng tự nhiên tăng nhanh qua các tuần theo dõi. Màng HPMC/BW kết hợp tinh dầu Thymol hoặc Oregano giúp kìm hãm mạnh tỷ lệ thối hỏng và hạn chế sự bay hơi nước.
  • Hô hấp và biến đổi màu: Chế phẩm màng HPMC/BW/tinh dầu làm giảm đỉnh cường độ hô hấp của chanh (đo bằng máy Dansensor), làm chậm tốc độ suy giảm chỉ số màu $L^*$ và hạn chế sự gia tăng độ biến đổi màu tổng số $\Delta E$, giữ cho vỏ quả có màu xanh lâu hơn.
  • Chỉ tiêu hóa sinh: Quả được phủ màng duy trì hàm lượng vitamin C và giữ ổn định hàm lượng axit tổng số (tính theo axit citric) cao hơn so với mẫu đối chứng qua các chu kỳ theo dõi.

3.5 Thăm dò ứng dụng màng HPMC/Shellac/Tinh dầu bảo quản cà chua cherry

Thử nghiệm phủ màng nhúng trên cà chua cherry (các công thức: Đối chứng ĐC, HPMC, HPMC/1G, HPMC/Sh, HPMC/Sh/Thymol, HPMC/Sh/Oregano) bảo quản ở 10–12°C, độ ẩm 90–95%:

  • Tỷ lệ thối hỏng và hao hụt khối lượng: Mẫu đối chứng bị mềm nhũn, nhăn nheo và thối hỏng nhanh do nấm bệnh và thoát ẩm. Màng HPMC/Sh kết hợp tinh dầu giúp kiểm soát tỷ lệ thối hỏng ở mức thấp và giảm độ hao hụt khối lượng quả.
  • Cường độ hô hấp và màu vỏ: Cà chua cherry là quả có đỉnh hô hấp; màng phủ HPMC/Sh/tinh dầu giúp giảm cường độ hô hấp (mg CO2/kg.h), làm chậm quá trình tổng hợp sắc tố đỏ (thể hiện qua biến đổi chỉ số màu $a^*$ và $\Delta E$), duy trì độ săn chắc của thịt quả.
  • Chất lượng dinh dưỡng: Hàm lượng vitamin C và axit tổng số ở các lô phủ màng HPMC/Sh bổ sung tinh dầu suy giảm chậm hơn đáng kể so với lô đối chứng không phủ màng.

Kết quả và những đóng góp mới

Căn cứ theo văn bản luận án, các đóng góp mới bao gồm:

  1. Đã nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình chế tạo hệ màng vật liệu tổ hợp trên cơ sở polyme tự nhiên HPMC kết hợp với sáp ong và shellac dạng nhũ tương nước có sự hỗ trợ của siêu âm; làm rõ ảnh hưởng của các thành phần (HPMC, sáp ong, shellac, chất hóa dẻo polyol, chất nhũ hóa axit béo) đến hình thái học vi mô (SEM), tính chất cơ lý (TS, EB, EM), tính chất nhiệt (DSC), độ thấm hơi nước (WVP) và độ thấm oxy (OP).
  2. Chế tạo thành công màng vật liệu tổ hợp HPMC/BW và HPMC/Sh có hoạt tính kháng khuẩn thông qua việc tích hợp các tinh dầu tự nhiên (Thymol, Oregano); xác định phổ kháng khuẩn định lượng theo thời gian đối với 4 chủng vi khuẩn gây bệnh trong thực phẩm (E. coli, S. aureus, S. typhimurium, L. monocytogenes).
  3. Đã thăm dò ứng dụng thành công chế phẩm màng tổ hợp HPMC/BW/tinh dầu để bảo quản chanh không hạt (ở 8–10°C) và HPMC/Sh/tinh dầu để bảo quản cà chua cherry (ở 10–12°C); chứng minh hiệu quả giảm tỷ lệ thối hỏng, giảm hao hụt khối lượng tự nhiên, kìm hãm cường độ hô hấp, làm chậm biến đổi màu sắc và duy trì hàm lượng vitamin C, axit tổng số của quả sau thu hoạch.

Về kiến nghị và giải pháp đề xuất, tác giả đề xuất ứng dụng các chế phẩm màng tổ hợp sinh học này thay thế các loại hóa chất bảo quản tổng hợp độc hại; đề xuất áp dụng giải pháp nhúng hoặc phun phủ dịch nhũ tương ăn được trong các cơ sở đóng gói và sơ chế nông sản nhằm kéo dài thời hạn thương phẩm của rau quả tươi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản cho thấy nghiên cứu thực nghiệm mới được tiến hành ở quy mô phòng thí nghiệm với phương pháp nhúng ngập thủ công (10 giây cho chanh, 15 giây cho cà chua cherry) và tạo màng đúc trên đĩa petri chân không; chưa triển khai thử nghiệm trên các dây chuyền phủ màng tự động hoặc buồng sấy thổi gió công nghiệp. Về đối tượng vi sinh vật, luận án mới đánh giá hoạt tính kháng khuẩn trên 4 chủng vi khuẩn thực nghiệm chuẩn in vitro (E. coli, S. aureus, S. typhimurium, L. monocytogenes), chưa đánh giá định lượng chi tiết trên từng chủng nấm mốc gây thối hỏng tự nhiên phân lập trực tiếp từ vỏ quả (như Penicillium italicum, Phytophthora citrophthora, Fusarium solani). Về phạm vi bảo quản, các khảo nghiệm thăm dò mới dừng lại ở điều kiện nhiệt độ lạnh có kiểm soát (8–12°C), chưa mở rộng khảo sát chu kỳ bảo quản ở nhiệt độ thường hoặc mô phỏng điều kiện vận chuyển logistics đường dài.

Hướng nghiên cứu tiếp được xác định từ phạm vi đề tài:

  • Mở rộng nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ chế tạo chế phẩm màng ở quy mô pilot và bán công nghiệp; khảo sát phương pháp phun phủ cơ giới hóa trong hệ thống nhà sơ chế (packinghouse).
  • Đánh giá sâu hơn hoạt tính kháng nấm in vitro và in vivo đối với các chủng nấm mốc đặc thù gây thối hỏng quả có múi và cà chua.
  • Nghiên cứu độ ổn định và thời hạn bảo quản (shelf-life) của chế phẩm nhũ tương dạng lỏng trước khi đưa vào sử dụng thực tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa lý thuyết và Hóa lý, Khoa học Vật liệu Polyme, Công nghệ Sau thu hoạch và Công nghệ Thực phẩm. Phần tài liệu đáng tham khảo nhất là Chương 2 và Chương 3 với hệ thống quy trình chế tạo màng composite đa cấu tử từ nhũ tương nước, kỹ thuật hóa dẻo màng hydrocolloid–lipid và các phương pháp đo đạc chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế ASTM (E96–92, D882–02, E968, E2149–13A).
  • Các nhà nghiên cứu và cán bộ kỹ thuật tại các viện nghiên cứu nông nghiệp, trung tâm sau thu hoạch, các doanh nghiệp sơ chế, đóng gói và xuất khẩu trái cây tươi. Các bảng số liệu về tỷ lệ phối trộn chất nhũ hóa, chất hóa dẻo và nồng độ tinh dầu Thymol/Oregano cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm để xây dựng công thức chế phẩm bảo vệ nông sản thân thiện với môi trường, đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm (GRAS) không chứa dư lượng hóa chất cấm.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả cần phối trộn HPMC với sáp ong hoặc shellac thay vì sử dụng màng đơn?

HPMC là polyme ưa nước có khả năng tạo màng cơ học tốt, trong suốt và dẻo dai nhưng tính cản hơi nước (WVP) rất kém. Trong khi đó, sáp ong và shellac là các lipid/nhựa kỵ nước có khả năng chống thấm nước và cản khí tốt nhưng lại có nhược điểm giòn, dễ gãy, khó tan trong nước. Việc phối trộn HPMC với sáp ong hoặc shellac dạng composite nhũ tương nước giúp kết hợp ưu điểm của cả hai pha: mạng HPMC đóng vai trò khung đỡ tạo độ bền, còn sáp ong/shellac đóng vai trò cản ẩm và điều hòa trao đổi khí, khắc phục nhược điểm của các màng đơn lẻ.

2. Các chất hóa dẻo và chất nhũ hóa nào được sử dụng trong các hệ màng của luận án?

Trong hệ màng HPMC/sáp ong, tác giả sử dụng các chất hóa dẻo polyol gồm glyxerin, propylen glycol (PG), polyetylen glycol 400 (PEG400) và các chất nhũ hóa axit béo gồm axit stearic (SA), axit lauric (LA), axit oleic (OA). Trong hệ màng HPMC/shellac, tác giả khảo sát các chất hóa dẻo gồm glyxerin, sorbitol, axit citric và các chất nhũ hóa axit stearic, lauric, oleic nhằm tối ưu hóa độ dẻo và độ phân tán hạt nhũ.

3. Hoạt tính kháng khuẩn của màng composite được đánh giá trên các chủng vi khuẩn nào?

Hoạt tính kháng khuẩn được đánh giá định lượng bằng phương pháp đếm khuẩn lạc (CFU/mL) theo tiêu chuẩn ASTM E2149–13A tại Viện Pasteur TP.HCM trên 4 chủng vi khuẩn thực nghiệm: hai chủng vi khuẩn Gram âm (Escherichia coli, Salmonella typhimurium) và hai chủng vi khuẩn Gram dương (Staphylococcus aureus, Listeria monocytogenes) tại các mốc thời gian 0h, 12h và 24h.

4. Quy trình phủ màng lên chanh không hạt và cà chua cherry được thực hiện cụ thể như thế nào?

Quả tươi sau khi thu hoạch và vận chuyển về phòng thí nghiệm trong vòng 1 ngày được phân loại, rửa sạch bằng nước và để ráo. Chanh không hạt được nhúng ngập trong chế phẩm tạo màng (HPMC/BW/tinh dầu) trong thời gian 10 giây, để khô tự nhiên rồi bảo quản ở 8–10°C, độ ẩm 90–95%. Cà chua cherry được nhúng ngập trong chế phẩm tạo màng (HPMC/Sh/tinh dầu) trong thời gian 15 giây, để khô và bảo quản ở 10–12°C, độ ẩm 90–95%.

5. Hiệu quả bảo quản của màng tổ hợp trên chanh không hạt và cà chua cherry thể hiện qua các chỉ tiêu nào?

Hiệu quả bảo quản được xác định thông qua việc làm giảm tỷ lệ thối hỏng do vi sinh vật; giảm phần trăm hao hụt khối lượng tự nhiên do mất nước; kìm hãm cường độ hô hấp (mg CO2/kg.h); làm chậm tốc độ biến đổi màu sắc vỏ quả (chỉ số $\Delta E$ qua các giá trị $L^$, $a^$, $b^*$); đồng thời duy trì hàm lượng vitamin C và hàm lượng axit tổng số ở mức cao hơn so với mẫu đối chứng không phủ màng trong suốt thời gian bảo quản lạnh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lương đã giải quyết có hệ thống bài toán công nghệ chế tạo vật liệu tổ hợp dạng màng ăn được trên cơ sở polyme tự nhiên HPMC kết hợp sáp ong và shellac ở dạng nhũ tương nước. Các màng composite được bổ sung tinh dầu Thymol và Oregano thể hiện hoạt tính kháng khuẩn rõ rệt đối với 4 chủng vi khuẩn gây bệnh trong thực phẩm đồng thời duy trì các đặc tính cơ lý và cản ẩm, cản khí phù hợp. Kết quả thăm dò ứng dụng thực nghiệm khẳng định chế phẩm màng HPMC/BW/tinh dầu và HPMC/Sh/tinh dầu kiểm soát hiệu quả hao hụt khối lượng, cường độ hô hấp, độ biến đổi màu và chất lượng dinh dưỡng của chanh không hạt và cà chua cherry trong điều kiện bảo quản mát.