Tổng quan luận án
Bệnh bạch cầu cấp là nhóm bệnh lý ác tính của cơ quan tạo máu, chiếm tỷ lệ khoảng 38,5% tổng số các bệnh về máu. Bệnh đặc trưng bởi sự tăng sinh quá mức của các tế bào non ác tính, làm lấn át các dòng tế bào bình thường trong tủy xương và máu ngoại vi. Việc phân loại chính xác thể bệnh theo tiêu chuẩn của Hội các nhà Huyết học Pháp - Mỹ - Anh (FAB, gồm các thể từ M0 đến M7 đối với dòng tủy và L1 đến L3 đối với dòng lympho) có vai trò quyết định trong việc xây dựng phác đồ điều trị, đặc biệt đối với thể tiền tủy bào M3 có nguy cơ xuất huyết cao.
Tiêu chuẩn FAB dựa trên ba phương pháp: miễn dịch, di truyền và nhuộm hóa học tế bào. Trong đó, nhuộm esteraza đặc hiệu là kỹ thuật then chốt để xác định các tế bào thuộc dòng tủy (dương tính với esteraza đặc hiệu, trong khi dòng lympho và hồng cầu âm tính, dòng mono và tiểu cầu âm tính hoặc dương tính rất yếu). Tuy nhiên, phương pháp nhuộm hóa học tế bào hiện hành vẫn tồn tại tỷ lệ sai lệch phải điều chỉnh lại bằng kỹ thuật miễn dịch và di truyền lên tới 29,7%. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc cơ chất thương mại duy nhất được sử dụng phổ biến là naphtol AS-D cloaxetat (do hãng Sigma-Aldrich cung cấp) có giá thành rất cao (khoảng 13 triệu đồng/gam), kém bền ở nhiệt độ trên -20°C, quy trình tổng hợp truyền thống có hiệu suất thấp, chưa có nghiên cứu hệ thống về mối tương quan cấu trúc - hoạt tính và quy trình nhuộm chưa được chuẩn hóa tối ưu.
Đề tài luận án tiến sĩ hóa học của nghiên cứu sinh Trần Văn Tính, với tiêu đề "Tổng hợp cơ chất, chế tạo kít và nghiên cứu điều kiện tối ưu để nhuộm tế bào phục vụ chẩn đoán bệnh ung thư bạch cầu người", thuộc chuyên ngành Hóa hữu cơ (mã số: 62 44 27 01), thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn của PGS. Lưu Văn Bôi và PGS. Nguyễn Anh Trí (năm 2012), được triển khai nhằm giải quyết các bất cập nêu trên.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Xây dựng phương pháp mới có hiệu suất cao để tổng hợp các dẫn xuất 3-hiđroxi-(N-thế)naphtalen-2-cacboxamit và các este 3-(N-thế-cacbamoyl)naphtalen-2-yl cacboxylat.
- Khảo sát có hệ thống mối quan hệ giữa cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học (độ nhạy, độ đặc hiệu) của các cơ chất este thông qua thực nghiệm và tính toán hóa lượng tử, nhằm tìm kiếm cơ chất mới ưu việt.
- Tối ưu hóa các thông số kỹ thuật của phản ứng nhuộm esteraza đặc hiệu bằng phương pháp toán học quy hoạch thực nghiệm.
- Chế tạo bộ kít nhuộm esteraza hoàn chỉnh từ cơ chất mới tổng hợp được và đánh giá hiệu quả ứng dụng trên bệnh phẩm lâm sàng phục vụ chẩn đoán phân loại bệnh bạch cầu cấp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng hóa học: 15 hợp chất 3-hiđroxi-(N-thế)naphtalen-2-cacboxamit và 37 dẫn xuất este 3-(N-thế-cacbamoyl)naphtalen-2-yl cacboxylat.
- Đối tượng sinh học: Mẫu máu ngoại vi của người khỏe mạnh (dùng cho tối ưu hóa và thử nghiệm độ nhạy/đặc hiệu cơ chất) và mẫu tủy xương của 20 bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu cấp đã xác định rõ dòng tế bào tại Bệnh viện 19-8, Bộ Công an.
- Phạm vi thời gian và không gian: Thực nghiệm tổng hợp, phân tích cấu trúc và hóa lượng tử thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN và Viện Hóa học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam); thử nghiệm sinh học, tối ưu hóa và đánh giá kít thực hiện tại Bệnh viện 19-8 trong giai đoạn 2009 - 2012.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan toàn diện lịch sử phát triển, phương pháp tổng hợp và ứng dụng của họ hợp chất 3-hiđroxi-(N-thế)naphtalen-2-cacboxamit (còn gọi là các dẫn xuất Naphtol AS). Hợp chất Naphtol AS đầu tiên được Schopf tổng hợp vào năm 1892 bằng phản ứng ngưng tụ giữa axit 3-hiđroxi-2-naphtoic và anilin với sự có mặt của photpho triclorua ($PCl_3$). Sau đó, phương pháp này được phát triển thành phương pháp trực tiếp một giai đoạn có dung môi (như clobenzen, toluen, xylen) nhằm nâng cao hiệu suất (đạt khoảng 60 - 70%). Bên cạnh đó, phương pháp gián tiếp hai giai đoạn cũng được nghiên cứu qua trung gian 3-hiđroxi-2-naphtoyl clorua hoặc phenyl 2,8-đihiđroxi-3-naphtoat (Kock-Yee Law và cộng sự, sử dụng xúc tác $POCl_3$ và dung môi N-metyl pyroliđinon ở 250°C đạt hiệu suất trên 89%). Về mặt ứng dụng công nghiệp, từ phát hiện của A. Winter năm 1911 về phản ứng điazo hóa ghép đôi ở vị trí C4, các dẫn xuất Naphtol AS đã được ứng dụng làm chất màu azo trong sản xuất mực in (chiếm 53%), sơn mạ (23%) và chất dẻo (12%).
Trong lĩnh vực sinh học và y học, este của Naphtol AS được ứng dụng làm cơ chất nhận diện enzym esteraza (EC 3.1.1.1 - cacboxylesteraza). Esteraza xúc tác phản ứng thủy phân liên kết este giải phóng dẫn xuất naphtol, chất này lập tức ghép đôi với muối điazo tạo thành chất màu azo không tan lắng đọng tại vị trí có enzym trong tế bào. Quá trình phát triển kỹ thuật nhuộm hóa học tế bào ghi nhận các mốc nghiên cứu:
- Phương pháp kết tủa muối kim loại của Gomori (tạo kết tủa muối chì hoặc coban sunfua CoS màu đen nhưng độ nhạy kém).
- Phương pháp sử dụng dẫn xuất phẩm màu indigo của Barrnet và Seligman (sử dụng 5-bromoindoxil hoặc 5-bromo-4-cloindoxil).
- Phương pháp phẩm màu azo phát triển bởi Menten, Junge, Green và Catovsky sử dụng muối điazo như Fast Red Violet LB hoặc Fast Blue RR/BB.
- Phân lập, xác định cấu trúc enzym esteraza của Kaphalia và cộng sự (gồm 2 chuỗi 60 kDa và 180 kDa), Scott và cộng sự (phát hiện isoenzym A và B), SM Gignac và cộng sự (xác định 5 nhóm isoenzym: Mono 1/2, My 1/2, Lym 1/2, Unc), Zschunke và cộng sự (giải mã trình tự mRNA gồm 503 axit amin, mã hóa trên nhiễm sắc thể 16).
Về kỹ thuật tổng hợp cơ chất este, Burston đã ứng dụng phản ứng Schotten-Baumann để este hóa Naphtol AS-D với cloaxetyl clorua trong môi trường kiềm NaOH/THF. Tuy nhiên, quy trình truyền thống này cho hiệu suất không ổn định và sản phẩm dễ bị phân hủy.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết:
- Thiếu phương pháp tổng hợp hiệu quả cao, thời gian ngắn cho các tiền chất Naphtol AS-X và các cơ chất este cacboxylat.
- Chưa có công trình nào khảo sát một cách có hệ thống ảnh hưởng của hiệu ứng điện tử, hiệu ứng không gian của các nhóm thế trên vòng thơm cũng như gốc cacboxylat đến hoạt tính xúc tác của esteraza bạch cầu người.
- Chưa ứng dụng công cụ hóa lượng tử để mô hình hóa và giải thích mối quan hệ giữa cấu trúc không gian của cơ chất với hoạt tính nhuộm.
- Thiếu quy trình nhuộm được tối ưu hóa toán học đa biến và Việt Nam chưa hoàn toàn tự chủ được công nghệ sản xuất kít nhuộm esteraza đặc hiệu phục vụ lâm sàng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết về cơ chế xúc tác thủy phân của enzym serin esteraza. Tâm hoạt động của esteraza chứa bộ ba xúc tác Ser-His-Asp/Glu (trong đó Ser đóng vai trò tác nhân ái nhân nucleophin, His đóng vai trò bazơ nhận proton và Asp/Glu đóng vai trò axit bền hóa điện tích). Phản ứng diễn ra qua trạng thái chuyển tiếp tứ diện ("oxianion hole") liên kết hydro với His, Gly và Glu, tạo thành phức trung gian axyl-enzym trước khi bị phân tử nước tấn công giải phóng ancol và tái tạo enzym.
Este cacboxylat + H2O --(Esteraza)--> Ancol (Naphtol AS-X) + Axit cacboxylic
Naphtol AS-X + Muối Diazonium ----> Phẩm màu Azo không tan (lắng đọng nội bào)
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và công cụ phân tích bao gồm:
-
Tổng hợp hóa học:
- Ứng dụng phản ứng chiếu xạ vi sóng (sử dụng thiết bị vi sóng chuyên dụng Q Pro M, công suất 200 W, kiểm soát nhiệt độ chính xác ±1°C) để tổng hợp các 3-hiđroxi-(N-thế)naphtalen-2-cacboxamit từ axit 3-hiđroxi-2-naphtoic, các amin thơm/béo và $PCl_3$ trong dung môi clobenzen.
- Cải tiến quy trình este hóa Schotten-Baumann: đảo ngược thứ tự phối trộn hóa chất (cho dung dịch kiềm NaOH 5N vào dung dịch naphtol trong THF ở 0°C trước để tạo muối phenolat hoàn toàn, sau đó mới nhỏ từ từ clorua axit) nhằm khắc phục hiện tượng tạo muối đinatri aminnolat không tan và tránh phản ứng thủy phân este.
-
Xác định cấu trúc hóa học:
- Điểm nóng chảy: máy đo Stuart STP3.
- Sắc ký lớp mỏng (TLC): bản mỏng silica gel 60 $F_{254}$ (Merck), hệ dung môi benzen : etyl axetat (7:3), hiện màu bằng hơi iốt.
- Phổ hồng ngoại (IR): máy PerkinElmer GX và Nicolet SIGNA (đo trong vùng 400 - 4000 $cm^{-1}$, ép viên KBr).
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1H\text{-NMR}$): máy Bruker Advance 500 MHz, dung môi $DMSO-d_6$, chất chuẩn nội TMS.
- Phổ khối lượng (MS): các hệ thống LC-MSD-Trap-SL (Agilent), GC-MS phân giải cao (Micromass Waters, EI 70 eV) và LC-MS-ORBITRAP-XL (Thermo Scientific).
-
Tính toán hóa lượng tử:
- Sử dụng phần mềm Gaussian 2003, phương pháp phiến hàm mật độ điện tử (DFT) để tối ưu hóa cấu trúc không gian, tính toán điện tích nguyên tử, độ dài liên kết và các góc nhị diện của nhóm cacboxylat đối với mặt phẳng phân tử cơ chất.
-
Tối ưu hóa thực nghiệm:
- Sử dụng phương pháp quy hoạch hóa thực nghiệm đơn hình liên hoàn (Sequential Simplex Method) khảo sát đồng thời 6 yếu tố ảnh hưởng ($X_1$: Nhiệt độ, $X_2$: Thể tích DMF, $X_3$: Thể tích DMSO, $X_4$: Khối lượng cơ chất, $X_5$: Khối lượng muối điazo Fast Blue RR, $X_6$: pH dung dịch đệm photphat).
-
Đánh giá hoạt tính sinh học và phân loại tế bào:
- Đánh giá phản ứng nhuộm trên tiêu bản máu ngoại vi và tủy xương theo hướng dẫn của Sigma-Aldrich.
- Hệ thống chấm điểm bán định lượng cường độ nhuộm theo thang phân độ từ 0 đến 4:
$$\sum Y = Y_0 \times 0 + Y_1 \times 1 + Y_2 \times 2 + Y_3 \times 3 + Y_4 \times 4$$
(trong đó $Y_i$ là tỷ lệ phần trăm tế bào đạt độ $i$).
- So sánh đối chứng song song với bộ kít thương mại của Sigma-Aldrich (mã số 91C-1KT, lô 090M4337).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa các tư liệu khoa học về cấu tạo, tính chất lý hóa và phổ của 3-hiđroxi-(N-thế)naphtalen-2-cacboxamit. Phổ IR của nhóm hợp chất này có các dao động đặc trưng của $\nu_{C=O}$ amit ($1695 - 1700\text{ cm}^{-1}$), $\nu_{NH}$ ($3400\text{ cm}^{-1}$) và $\nu_{OH}$ ($3500\text{ cm}^{-1}$). Phổ $^1H\text{-NMR}$ cho tín hiệu cộng hưởng ở trường rất yếu của proton OH (~11,80 ppm) và NH (~10,60 ppm) do có liên kết hydro nội phân tử mạnh.
Chương này trình bày chi tiết về cấu trúc phân tử và cơ chế thủy phân cơ chất este của enzym esteraza bạch cầu người, tiêu chuẩn phân loại thể bệnh bạch cầu cấp theo FAB dựa trên hóa học tế bào:
| Thể bệnh FAB |
Esteraza đặc hiệu (NASDCl) |
Esteraza không đặc hiệu (EST) |
Ức chế bởi NaF (EST+NaF) |
Peroxidaza / Sudan B (PER-SD) |
Axit Schiff (PAS) |
Photphataza axit (P.A) |
| M0 (Tủy biệt hóa tối thiểu) |
$(\pm)$ |
$(-)$ |
$(-)$ |
$(+)$ |
$(+)$ lan tỏa |
$(-)$ |
| M1 (Tủy không trưởng thành) |
$(\pm)$ |
$(-)$ |
$(-)$ |
$\ge 3%$ $(+)$ |
$(+)$ lan tỏa |
$(-)$ |
| M2 (Tủy có trưởng thành) |
$(++)$ |
$(-)$ |
$(-)$ |
$(++)$ |
$(+)$ lan tỏa |
$(-)$ |
| M3 (Tiền tủy bào) |
$(++)$ |
$(-)$ |
$(-)$ |
$(+++)$ |
$(+)$ lan tỏa |
$(-)$ |
| M4 (Tủy - monoxit) |
$(+)$ |
$(++)$ |
$(-)$ |
$\ge 5%$ $(+)$ |
$(+)$ lan tỏa |
$(-)$ |
| M5 (Dòng monoxit) |
$(++++)$ |
$(+++)$ |
$(-)$ |
$(\pm)$ |
$(+)$ lan tỏa |
$(-)$ |
| M6 (Dòng hồng cầu) |
$(\pm)$ |
$(-)$ |
$(-)$ |
$(-)$ |
$(+)$ Myeloblast |
$(+)$ hạt hồng cầu non |
| M7 (Dòng tiểu cầu) |
$(-)$ |
$(\pm)$ |
$(\pm)$ |
$(-)$ |
$(\pm)$ |
$(\pm)$ |
| L1 (Lympho biệt hóa) |
$(-)$ |
$(-)$ |
$(-)$ |
$<1%$ $(+)$ |
$<5%$ $(+)$ hạt |
$(+)$ hạt |
| L2 (Lympho chưa biệt hóa) |
$(-)$ |
$(-)$ |
$(-)$ |
$(-)$ |
$(-)$ |
$(\pm)$ |
| L3 (Lympho Burkitt) |
$(-)$ |
$(-)$ |
$(-)$ |
$<1%$ $(+)$ |
$<5%$ $(+)$ hạt |
$(+)$ hạt |
Từ các dữ liệu trên, chương tổng quan khẳng định tính đặc hiệu của phản ứng thủy phân cơ chất este naphtol AS thế bởi enzym trong tế bào dòng tủy là cơ sở hóa sinh vững chắc để chẩn đoán phân biệt các dòng tế bào ung thư máu.
Chương 2. Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết danh mục hóa chất tinh khiết, các trang thiết bị phân tích hiện đại và quy trình thực nghiệm cụ thể:
- Quy trình tổng hợp naphtol AS-D truyền thống và quy trình tổng hợp dưới tác dụng của vi sóng.
- Quy trình tổng hợp 37 este cacboxylat bằng phương pháp Schotten-Baumann cải tiến.
- Quy hoạch hóa thực nghiệm đơn hình tối ưu hóa 6 yếu tố: ma trận đơn hình gốc $S_0$ gồm 7 đỉnh thực nghiệm với mức gốc thực nghiệm ($X_1 = 37,0^\circ\text{C}$; $X_2 = 45,0\text{ }\mu\text{l}$; $X_3 = 45,0\text{ }\mu\text{l}$; $X_4 = 0,450\text{ mg}$; $X_5 = 0,450\text{ mg}$; $X_6 = 7,30$).
- Quy trình thu thập, xử lý và bảo quản tiêu bản máu người khỏe mạnh và tủy xương người bệnh ở nhiệt độ -40°C trong hộp kín có chất hút ẩm.
- Thiết lập quy trình nhuộm chuẩn: cố định tiêu bản 30 giây, ủ dung dịch cơ chất 10 phút ở nhiệt độ kiểm soát, rửa nước 2 phút, nhuộm nền nhân bằng dung dịch Nuclear Fast Red 0,1% trong 15 phút, soi và tính điểm trên kính hiển vi Nikon độ phóng đại 1.000 lần.
Chương 3. Kết quả và bàn luận
Chương 3 tập trung thảo luận các kết quả thực nghiệm đạt được:
-
Tổng hợp các dẫn xuất 3-hiđroxi-(N-thế)naphtalen-2-cacboxamit:
- So sánh phương pháp truyền thống và phương pháp vi sóng: Phương pháp truyền thống cho hiệu suất cao nhất đạt 69,8% sau 3 giờ hồi lưu trong clobenzen. Trong khi đó, phản ứng trong lò vi sóng (công suất 200 W, nhiệt độ 130°C, dung môi clobenzen, thời gian chiếu xạ 20 phút) cho hiệu suất tổng hợp Naphtol AS-D đạt 80,8% (rút ngắn thời gian phản ứng xuống 9 lần).
- Đã tổng hợp thành công 15 dẫn xuất Naphtol AS-X, trong đó có 3 hợp chất mới chưa từng công bố trong y văn:
- Metyl 2-{[(3-hiđroxinaphtalen-2-yl)cacbonyl]amino}benzoat (Ik), hiệu suất 80%, $T_{nc} = 174 - 176^\circ\text{C}$.
- Metyl 4-{[(3-hiđroxinaphtalen-2-yl)cacbonyl]amino}benzoat (Il), hiệu suất 82%, $T_{nc} = 270 - 272^\circ\text{C}$.
- N-(antraxen-1-yl)-3-hiđroxinaphtalen-2-cacboxamit (IId), hiệu suất 58%, $T_{nc} = 242 - 244^\circ\text{C}$.
-
Tổng hợp các este 3-(N-thế-cacbamoyl)naphtalen-2-yl cacboxylat:
- Tổng hợp thành công 37 este cacboxylat thuộc 3 dãy dẫn xuất khác nhau với hiệu suất từ 42% đến 63%, trong đó có 36 hợp chất mới (chỉ có 2 chất đã biết là IIIa và Vb). Cấu trúc của toàn bộ các hợp chất được xác định bằng phổ IR, $^1H\text{-NMR}$ và MS.
-
Tối ưu hóa phản ứng nhuộm esteraza đặc hiệu bằng phương pháp đơn hình:
- Trải qua 25 thí nghiệm thuộc 19 đơn hình liên hoàn, đã xác định được đỉnh tối ưu với các thông số cho 1 tiêu bản (dung tích 1,5 ml đệm photphat):
- Khối lượng cơ chất: 0,480 mg ($1,357 \times 10^{-3}\text{ mmol}$).
- Khối lượng muối điazo Fast Blue RR: 0,459 mg ($1,183 \times 10^{-3}\text{ mmol}$).
- Thể tích DMF: 43,5 $\mu\text{l}$; Thể tích DMSO: 44,0 $\mu\text{l}$.
- pH dung dịch đệm: 7,42.
- Nhiệt độ ủ: 36,1°C; Thời gian ủ: 10 phút.
-
Nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc và hoạt tính nhuộm:
- Khảo sát thực nghiệm hoạt tính nhuộm của 26 dẫn xuất naphtol AS-X cloaxetat và $\alpha$-clopropionat trên bạch cầu máu ngoại vi: Dẫn xuất có nhóm thế thế $o\text{-OCH}_3$ (dãy Naphtol AS-OL) và nhóm $\alpha$-clopropionat thể hiện hoạt tính và độ nhạy vượt trội so với dẫn xuất dãy cloaxetat và $o\text{-CH}_3$ truyền thống (Naphtol AS-D cloaxetat).
- Cơ chất naphtol AS-OL $\alpha$-clopropionat đạt điểm nhuộm cao nhất (trên 350 điểm), các hạt phẩm màu bắt màu xanh đen mịn màng, đồng đều và có độ tương phản cao trong bào tương của tế bào dòng tủy.
- Tính toán hóa lượng tử bằng Gaussian 2003 cho thấy góc nhị diện giữa mặt phẳng nhóm cacboxylat và mặt phẳng nhân thơm naphtalen có mối tương quan chặt chẽ với hoạt tính thủy phân của enzym. Các cơ chất có góc nhị diện phù hợp giúp tâm hoạt động Ser-His-Asp tiếp cận dễ dàng hơn vào liên kết este.
-
Chế tạo và thử nghiệm lâm sàng bộ kít nhuộm:
- Xây dựng thành công quy trình đóng gói bộ kít quy mô 100 tiêu bản sử dụng cơ chất Naphtol AS-OL $\alpha$-clopropionat.
- Theo dõi độ ổn định: Kít bảo quản ở nhiệt độ phòng duy trì hoạt tính tốt trong 3 tháng, bảo quản ở -20°C ổn định trên 12 tháng không suy giảm chất lượng.
- Đánh giá trên 20 mẫu tủy bệnh nhân bạch cầu cấp (gồm các thể M1, M2, M3, M4, M5, L1, L2): Kết quả nhuộm bằng kít Naphtol AS-OL $\alpha$-clopropionat cho độ chính xác và tương thích hoàn toàn (100%) với kết quả phân loại dòng tế bào khi đối chứng với kít nhập ngoại của Sigma-Aldrich, đồng thời cho cường độ bắt màu rõ nét hơn ở các thể dòng tủy biệt hóa kém.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các kết quả và đóng góp mới về mặt khoa học lý thuyết và thực tiễn ứng dụng như sau:
-
Đóng góp mới về phương pháp tổng hợp hữu cơ:
- Ứng dụng thành công kỹ thuật vi sóng vào phản ứng tổng hợp các dẫn xuất 3-hiđroxi-(N-thế)naphtalen-2-cacboxamit, giúp rút ngắn thời gian phản ứng từ 3 giờ xuống còn 20 phút và nâng cao hiệu suất phản ứng từ 69,8% lên 80,8%.
- Cải tiến quy trình este hóa Schotten-Baumann điều chế các este 3-(N-thế-cacbamoyl)naphtalen-2-yl cacboxylat, khắc phục nhược điểm tạo muối không tan và nâng cao hiệu suất tổng hợp.
-
Đóng góp mới về mặt cấu trúc hóa học:
- Đã tổng hợp và xác định cấu trúc đầy đủ của 15 dẫn xuất 3-hiđroxi-(N-thế)naphtalen-2-cacboxamit, trong đó có 3 hợp chất mới (Ik, Il, IId).
- Đã tổng hợp và định danh cấu trúc của 37 dẫn xuất este 3-(N-thế-cacbamoyl)naphtalen-2-yl cacboxylat, trong đó có 36 hợp chất mới.
-
Đóng góp mới về lý luận cấu trúc - hoạt tính:
- Khảo sát hệ thống ảnh hưởng của bản chất và vị trí nhóm thế trên vòng thơm cũng như độ dài mạch cacboxylat đến hoạt tính xúc tác của enzym esteraza bạch cầu người.
- Kết hợp phương pháp tính toán hóa lượng tử DFT (Gaussian 2003) giải thích định lượng vai trò của góc nhị diện nhóm cacboxylat đối với khả năng tương tác tại tâm xúc tác Ser-His-Asp/Glu của enzym.
-
Đóng góp mới về thực tiễn y dược:
- Phát hiện cơ chất mới naphtol AS-OL $\alpha$-clopropionat có độ nhạy và tính đặc hiệu cao hơn cơ chất thương mại Naphtol AS-D cloaxetat của hãng Sigma-Aldrich.
- Tối ưu hóa thành công quy trình nhuộm esteraza đặc hiệu bằng phương pháp toán học đơn hình 6 biến.
- Chế tạo hoàn chỉnh bộ kít nhuộm 100 tiêu bản có độ bền bảo quản cao, giá thành thấp, thử nghiệm thành công trên 20 mẫu tủy bệnh nhân ung thư máu, mở ra khả năng tự chủ nguồn kít chẩn đoán trong nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên nội dung và phạm vi nghiên cứu được trình bày trong luận án, một số điểm hạn chế và hướng phát triển tiếp theo bao gồm:
- Quy mô mẫu lâm sàng: Đánh giá thử nghiệm lâm sàng của kít mới được thực hiện trên 20 bệnh nhân bạch cầu cấp tại một trung tâm y tế (Bệnh viện 19-8); cần tiếp tục mở rộng thử nghiệm đa trung tâm với số lượng mẫu lớn hơn trên đầy đủ tất cả các phân nhóm hiếm gặp (từ M0 đến M7 và L1 đến L3).
- Mô hình hóa tương tác sinh học: Luận án mới dừng lại ở việc tính toán các thông số hình học không gian (góc nhị diện) của phân tử cơ chất đơn lẻ; hướng nghiên cứu tiếp theo cần ứng dụng mô phỏng docking phân tử trực tiếp giữa cơ chất với mô hình cấu trúc 3D của tâm hoạt động enzym esteraza bạch cầu người.
- Mở rộng phạm vi ứng dụng: Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng cơ chất naphtol AS-OL $\alpha$-clopropionat trên các hệ thống đo tự động như máy phân tích dòng chảy (Flow Cytometry).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa dược: Tham khảo quy trình tổng hợp hữu cơ hỗ trợ vi sóng, phương pháp cải tiến phản ứng este hóa Schotten-Baumann và phương pháp luận ứng dụng hóa lượng tử khảo sát mối quan hệ cấu trúc - hoạt tính (SAR).
- Cán bộ nghiên cứu quy hoạch thực nghiệm: Tham khảo phương pháp thiết kế và giải thuật toán học tối ưu hóa đơn hình liên hoàn (Simplex Method) đa biến ứng dụng trong công nghệ hóa sinh.
- Bác sĩ, kỹ thuật viên xét nghiệm Huyết học - Truyền máu: Tham khảo quy trình pha chế, kỹ thuật nhuộm hóa học tế bào phát hiện esteraza đặc hiệu và tiêu chuẩn phân loại bệnh bạch cầu cấp theo FAB.
- Các đơn vị sản xuất sinh phẩm y tế: Tham khảo công thức và quy trình đóng gói bộ kít chẩn đoán tế bào học phục vụ sản xuất thay thế sản phẩm ngoại nhập.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ chất mới nào được luận án phát hiện có tính năng vượt trội nhất để thay thế Naphtol AS-D cloaxetat thương mại?
Luận án đã tổng hợp và sàng lọc 37 este cacboxylat, qua đó xác định hợp chất naphtol AS-OL $\alpha$-clopropionat là cơ chất tối ưu nhất. Cơ chất này cho độ nhạy cao hơn hẳn (điểm nhuộm thực nghiệm đạt trên 350 điểm so với hệ cơ chất cũ), độ đặc hiệu tuyệt đối trên dòng tế bào tủy, các hạt lắng đọng màu xanh đen mịn màng, rõ nét và bền vững hơn so với Naphtol AS-D cloaxetat của hãng Sigma.
2. Phương pháp vi sóng đã cải thiện hiệu quả tổng hợp Naphtol AS-D như thế nào so với phương pháp nhiệt truyền thống?
Phương pháp truyền thống đun hồi lưu trong dung môi clobenzen đòi hỏi thời gian phản ứng kéo dài 3 giờ và hiệu suất cao nhất chỉ đạt 69,8%. Trong khi đó, việc sử dụng lò vi sóng (công suất 200 W, nhiệt độ 130°C trong cùng dung môi clobenzen) đã rút ngắn thời gian phản ứng xuống còn 20 phút (giảm 9 lần) đồng thời nâng hiệu suất sản phẩm lên 80,8%.
3. Các thông số kỹ thuật tối ưu của phản ứng nhuộm esteraza đặc hiệu được xác định qua quy hoạch thực nghiệm đơn hình là gì?
Quy trình tối ưu hóa qua 25 thí nghiệm của 19 đơn hình đã xác định điều kiện chuẩn cho 1 tiêu bản (1,5 ml đệm photphat) gồm: 0,480 mg cơ chất ($1,357 \times 10^{-3}\text{ mmol}$), 0,459 mg muối điazo Fast Blue RR ($1,183 \times 10^{-3}\text{ mmol}$), 43,5 $\mu\text{l}$ DMF, 44,0 $\mu\text{l}$ DMSO, pH hệ đệm đạt 7,42, nhiệt độ ủ 36,1°C và thời gian ủ 10 phút.
4. Kết quả đánh giá bộ kít chế tạo trên mẫu bệnh phẩm lâm sàng người bệnh bạch cầu cấp đạt kết quả như thế nào?
Thử nghiệm trên mẫu tủy xương của 20 bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu cấp tại Bệnh viện 19-8 cho thấy kít chế tạo từ cơ chất naphtol AS-OL $\alpha$-clopropionat cho kết quả phân loại dòng tế bào phù hợp 100% với kít đối chứng của hãng Sigma-Aldrich. Kít mới thể hiện rõ ưu điểm với cường độ bắt màu sắc nét, độ phân giải hạt màu trong bào tương cao, giúp phân định rõ ràng các thể dòng tủy mà không gây hiện tượng dương tính giả ở dòng lympho.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Văn Tính đã giải quyết trọn vẹn chuỗi nghiên cứu từ tổng hợp hóa học, mô hình hóa cấu trúc đến ứng dụng y sinh học thực tiễn. Đề tài đã làm chủ quy trình tổng hợp vi sóng hiệu suất cao, điều chế thành công 15 dẫn xuất cacboxamit (trong đó có 3 chất mới) và 37 dẫn xuất este (trong đó có 36 chất mới), đồng thời làm sáng tỏ mối liên hệ giữa cấu trúc không gian và hoạt tính sinh học của cơ chất nhuộm esteraza. Việc phát hiện cơ chất ưu việt naphtol AS-OL $\alpha$-clopropionat và chế tạo thành công bộ kít nhuộm esteraza đặc hiệu đạt độ chính xác tương đương kít thương mại quốc tế đã đóng góp một giải pháp kỹ thuật có giá trị khoa học và kinh tế cao cho chuyên ngành Huyết học - Truyền máu tại Việt Nam.