phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, hình, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện Dự án GDTHCS vùng khó khăn nhất của chính quyền cấp tỉnh. Phân tích thực trạng tổ chức thực hiện Dự án GDTHCS vùng khó khăn nhất của Chính quyền tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2008-2014. Giải pháp hoàn thiện tổ chức thực hiện Dự án GDTHCS vùng khó khăn nhất của Chính quyền tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2015-2020.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN DỰ ÁN GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ VÙNG KHÓ KHĂN NHẤT CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH 1. Dự án GDTHCS vùng khó khăn nhất 1. Giáo dục trung học cơ sở 1. Giáo dục Giáo dục là một hoạt động đặc biệt của xã hội loài người, là một quá trình bao gồm tất cả các hoạt động hướng vào sự phát triển và rèn luyện năng lực, phẩm chất để con người có thể phát triển nhân cách đầy đủ và trở nên có giá trị tích cực đối với xã hội.
Cụ thể hơn, giáo dục là một quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người. Vai trò của giáo dục ngày càn tăng lên cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Trong sách "Giáo dục học" của nhà giáo dục học Xô Viết A.Ilinna cho rằng "Giáo dục là một quá trình truyền thụ kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho các thế hệ mới, nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống xã hội và bước vào lao động sản xuất". Ở Việt Nam, Giáo sư Hà Thế Ngữ cũng đưa ra khái niệm tương tự về giáo dục, đó là "Giáo dục là quá trình đào tạo con người có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội loài người".
Như vậy, theo nghĩa chung nhất có thể khái niệm Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ sảo và kinh nghiệm, nhằm chuẩn bị cho con người bước vào lao động, sản xuất và sinh hoạt xã hội. Giáo dục là nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người trong xã hội. Giáo dục trung học cơ sở Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay, theo Luật Giáo dục của Việt Nam năm 2005, giáo dục THCS nằm trong bậc giáo dục trung học (gồm: giáo dục tiểu học, giáo dục THCS và giáo dục THPT). Giáo dục THCS được thực hiện trong 8 bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín, học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi.
Giáo dục THCS là cấp học nối liền giữa giáo dục tiểu học và giáo dục THPT. Học sinh ở độ tuổi THCS với đặc điểm tâm lý cơ bản là đang trong giai đoạn trở thành người lớn. Đây là đặc điểm khiến cho những người làm công tác giáo dục ở cấp học THCS phải có những phẩm chất, năng lực riêng biệt. Giáo dục Giáo dục Giáo dục Giáo dục Cao đẳng, mầm non tiểu học THCS THPT Đại học Dạy nghề THCN Hình 1.1: Vị trí trƣờng THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân Nguồn: Tổng hợp của tác giả Mục tiêu của giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Yêu cầu về nội dung, phương pháp của giáo dục THCS là phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp. Nhiệm vụ của giáo dục THCS là thực hiện các mục tiêu, chương trình và kế hoạch giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành; tổ chức giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh; tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, phổ biến khoa học, bảo vệ môi trường, tuyên truyền pháp luật; thực hiện việc dạy chữ, dạy người, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội. Đặc điểm GDTHCS vùng khó khăn nhất 1. Vùng khó khăn nhất Trong quản lý nhà nước, việc xác định các vùng khó khăn nhất để áp dụng các chủ trương, chính sách và có kế hoạch đầu tư phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể.
Từ đó, có kế hoạch chỉ đạo, động viên, hướng dẫn nhân dân địa phương đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền trong cả 9 nước. Theo quy định trong các chính sách liên quan đến vùng, miền hiện nay thì vùng khó khăn nhất là những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, có tỷ lệ hộ nghèo và tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao, trình độ dân trí thấp. Theo kết quả thống kê của Bộ GD&ĐT và các báo cáo đánh giá của các chuyên gia trong và ngoài nước thì chất lượng giáo dục của các vùng, miền có sự chênh lệch rất lớn. Các vùng có chất lượng giáo dục thấp, có điều kiện phát triển giáo dục vẫn còn nhiều khó khăn tập trung chủ yếu ở các vùng Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long, đây cũng chính là các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất so với cả nước.
Tuy nhiên, do nguồn kinh phí có hạn, để lựa chọn các huyện, tỉnh hưởng thụ Dự án GDTHCS vùng khó khăn nhất, Bộ GD&ĐT đã tổ chức các cuộc hội thảo, thành phần tham gia gồm các chuyên gia trong và ngoài nước, các nhà chuyên môn và quản lý, đại diện các địa phương và tất cả đều đánh giá cần xác định các vùng có điều kiện phát triển giáo dục khó khăn nhất dựa trên các số liệu và chỉ số ảnh hưởng đến điều kiện phát triển giáo dục. Có 11 tiêu chí được lựa chọn để xác định các tỉnh khó khăn nhất, gồm: (1) hệ số giáo dục Gini của tỉnh; (2) chỉ số thực hiện mục tiêu thiên niên kỉ của tỉnh; (3) mức thu nhập bình quân theo đầu người của tỉnh; (4) tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh (5) tỷ lệ xã thuộc chương trình 135 của Chính phủ (6) tỷ lệ phòng học tạm thời THCS của tỉnh; (7) tỷ lệ nhập học tinh và thô THCS, THPT của tỉnh; (8) tỷ lệ phòng học kiên cố trên tổng số phòng học của tỉnh; (9) tỷ lệ xã đạt phổ cập THCS của tỉnh; (10) mức đầu tư XDCB và thiết bị cho giáo dục bình quân tính theo học sinh từ các Chương trình, dự án của mỗi tỉnh; (11) tỷ lệ lớp/phòng học ở THCS của tỉnh. Kết quả đánh giá 64 tỉnh/thành theo các tiêu chí trên đã lựa chọn được 17 tỉnh khó khăn nhất tham gia Dự án. Có 8 tiêu chí đánh giá để lựa chọn các huyện được hưởng thụ Dự án trong số 17 tỉnh đã được lựa chọn, gồm: (1) tỷ lệ hộ nghèo của huyện; (2) tỷ lệ trẻ 11-14 tuổi của huyện chưa học THCS; (3) tỷ lệ trẻ em nữ 11-14 tuổi của huyện chưa học THCS; (4) tỷ lệ nhập học thô ở THCS của huyện; (5) tỷ lệ xã trong huyện chưa có trường THCS; (6) khoảng cách trung bình từ nhà đến trường THCS của huyện; (7) tỷ lệ lớp/phòng học ở THCS; (8) tỷ lệ phòng học ở THCS cần phải thay thế.
Kết quả đã lựa chọn được 103 huyện xếp đầu danh sách thuộc 17 tỉnh khó khăn nhất được hưởng thụ Dự án. Như vậy, khái niệm "vùng khó khăn nhất" trong phạm vi Dự án này là các 10 vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, có tỷ lệ hộ nghèo và tỷ lệ người DTTS cao, chất lượng giáo dục thấp và điều kiện phát triển giáo dục khó khăn. Đặc điểm GDTHCS vùng khó khăn nhất: Tại cuộc hội thảo do Bộ GD&ĐT tổ chức vào tháng 8 năm 2007, dựa trên số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT từ năm 2000-2006 và kết quả khảo sát tại 64 tỉnh/thành của các chuyên gia trong và ngoài nước tham gia thiết kế đề xuất Dự án đã đưa ra các đánh giá về thực trạng GDTHCS, như sau: - Một là, mạng lưới trường, lớp đã phát triển đều khắp cả nước, hầu hết các xã/phường đều có trường THCS đáp ứng nhu cầu theo học THCS. Qui mô học sinh THCS cả nước tăng chậm và dần ổn định ở những vùng giáo dục phát triển.
Tuy nhiên, các huyện thuộc vùng khó khăn vẫn thiếu trường, lớp nghiêm trọng trong khi quy mô học sinh THCS lại tăng mạnh; - Hai là, tỷ lệ huy động trẻ đi học thuộc các vùng khó khăn, vùng nhiều người DTTS, nhóm những gia đình nghèo (khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, ĐBS Cửu Long) thấp hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước, trong đó tỷ lệ huy động học sinh nữ thấp hơn nhiều so với học sinh nam. - Ba là, chất lượng GDTHCS chưa cao thể hiện ở tỷ lệ học sinh hoàn thành cấp học và tỷ lệ chuyển cấp thấp. Hiệu quả giáo dục thấp với tỷ lệ học sinh THCS bỏ học cao. Chất lượng và hiệu quả giáo dục đặc biệt thấp ở vùng khó khăn, có đông người là DTTS sinh sống là một thách thức lớn cho mục tiêu nâng cao dân trí, thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục, đảm bảo công bằng xã hội, thực hiện phổ cập giáo dục THCS.
- Bốn là, phòng học không thiếu trên phạm vi toàn quốc nhưng thiếu nhiều ở những vùng khó khăn. Những vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long có số lượng lớn phòng học bán kiên cố, phòng học tạm cần được đầu tư để thay thế nhằm đáp ứng những điều kiện tối thiểu cho học tập của học sinh. Các phòng học bộ môn, phòng ở nội trú cho học sinh, nhà ở công vụ cho giáo viên, nhà vệ sinh. cần được quan tâm đầu tư để đảm bảo triển khai có chất lượng chương trình, sách giáo khoa mới ở những vùng khó khăn.
Ngoài kinh phí hỗ trợ mua sắm đủ thiết bị, phương tiện dạy học tối thiểu, cần có những hỗ trợ về như tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và giáo viên ở những vùng khó khăn.