Luận văn kiểm soát mặt hàng mỹ phẩm của Cục QLTT Nghệ An - ĐHKTQD

Dưới đây là meta tags cho bài viết 'Luận văn thạc sỹ kiểm soát mặt hàng mỹ phẩm của cục quản lý thị trường tỉnh nghệ an': { "ai_description": "Tìm hiểu quy

Trường đại học

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Tác giả

Lê Huy Lương

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiểm soát mặt hàng mỹ phẩm tại Cục Quản lý thị trường Nghệ An

Kiểm soát mặt hàng mỹ phẩm là hoạt động quan trọng của Cục Quản lý thị trường tỉnh Nghệ An nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và duy trì trật tự thị trường. Hoạt động này bao gồm việc giám sát chất lượng sản phẩm, ngăn chặn hàng giả, hàng kém chất lượng và xử lý vi phạm pháp luật. Theo Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa 2007 và các văn bản hướng dẫn, Cục thực hiện kiểm tra định kỳ, đột xuất tại cơ sở sản xuất, kinh doanh và cửa hàng phân phối. Nghệ An là tỉnh có hệ thống phân phối mỹ phẩm đa dạng với nhiều thương hiệu trong và ngoài nước. Việc kiểm soát hiệu quả góp phần nâng cao niềm tin của người tiêu dùng vào sản phẩm lưu thông trên địa bàn. Bên cạnh đó, hoạt động này cũng hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ quy định, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

1.1. Khái niệm và vai trò của kiểm soát mỹ phẩm

Kiểm soát mỹ phẩm được hiểu là quá trình đánh giá, giám sát nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, an toàn cho người sử dụng. Tại Nghệ An, hoạt động này do Cục Quản lý thị trường phối hợp với Sở Y tế, Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản và thực phẩm thực hiện. Vai trò chính bao gồm ngăn chặn hàng giả, hàng nhái, sản phẩm không rõ nguồn gốc và xử lý vi phạm hành chính. Theo thống kê giai đoạn 2016-2018, Cục đã kiểm tra 1.250 cơ sở kinh doanh, phát hiện 45 vụ vi phạm, thu giữ 3.200 sản phẩm không đạt tiêu chuẩn. Kiểm soát mỹ phẩm không chỉ bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp mỹ phẩm địa phương.

1.2. Cơ sở pháp lý và quy trình kiểm soát

Cơ sở pháp lý bao gồm Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa 2007, Nghị định 98/2020/NĐ-CP về quản lý mỹ phẩm và Thông tư 06/2011/TT-BYT hướng dẫn quản lý mỹ phẩm. Quy trình kiểm soát tại Nghệ An gồm ba bước: khảo sát ban đầu, lấy mẫu kiểm nghiệm tại phòng thí nghiệm và xử lý vi phạm. Cục phối hợp với Viện Kiểm nghiệm Thuốc Trung ương chi nhánh phía Bắc để phân tích chất lượng sản phẩm. Theo báo cáo, 85% mẫu kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn, 15% còn lại bị xử lý do không đảm bảo an toàn. Quy trình này đảm bảo minh bạch, khách quan trong hoạt động quản lý.

II. Phân tích thực trạng kiểm soát mỹ phẩm tại Cục Quản lý thị trường Nghệ An

Thực trạng kiểm soát mỹ phẩm tại Nghệ An giai đoạn 2016-2018 cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tồn tại những hạn chế đáng kể. Cục đã xử lý 45 vụ vi phạm, tịch thu 3.200 sản phẩm kém chất lượng, đóng góp vào việc nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Tuy nhiên, tình trạng hàng giả, hàng nhái vẫn diễn biến phức tạp do địa bàn rộng, hệ thống cửa hàng phân phối đa dạng. Một số doanh nghiệp chưa tuân thủ đầy đủ quy định công bố sản phẩm, dẫn đến nguy cơ lưu thông sản phẩm không an toàn. Bên cạnh đó, thiếu hụt nguồn lực về nhân lực và trang thiết bị cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát. Theo khảo sát, 60% doanh nghiệp mỹ phẩm tại Nghệ An có quy mô vừa và nhỏ, thiếu kinh phí đầu tư vào hệ thống quản lý chất lượng.

2.1. Kết quả hoạt động giai đoạn 2016 2018

Giai đoạn 2016-2018, Cục Quản lý thị trường Nghệ An đã tiến hành 1.250 cuộc kiểm tra tại 800 cơ sở kinh doanh mỹ phẩm. Tổng số sản phẩm kiểm tra là 12.500 mẫu, trong đó 85% đạt tiêu chuẩn chất lượng, 15% bị xử lý do không đảm bảo an toàn. Các vi phạm chủ yếu liên quan đến sản phẩm không rõ nguồn gốc, hết hạn sử dụng và không có giấy phép lưu hành. Cục đã phối hợp với lực lượng công an và các ngành chức năng xử lý 45 vụ vi phạm hành chính, phạt tiền 1,2 tỷ đồng. Những kết quả này góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm trên thị trường Nghệ An.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân tồn tại

Mặc dù đạt được những kết quả nhất định, công tác kiểm soát mỹ phẩm tại Nghệ An vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Nguyên nhân chính bao gồm thiếu hụt nhân lực chuyên môn, trang thiết bị kiểm nghiệm chưa đầy đủ và địa bàn hoạt động rộng lớn. Theo thống kê, Cục chỉ có 15 kiểm soát viên chính, 3 kiểm soát viên và 7 kiểm soát viên trung cấp, trong khi nhu cầu kiểm tra là rất lớn. Bên cạnh đó, tình trạng hàng giả, hàng nhái ngày càng tinh vi, sử dụng công nghệ cao để qua mặt cơ quan chức năng. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các ngành chức năng còn chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng chồng chéo trong quản lý.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát mặt hàng mỹ phẩm

Để nâng cao hiệu quả kiểm soát mỹ phẩm tại Nghệ An, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về nhân lực, công nghệ và phối hợp liên ngành. Trước hết, tăng cường đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ kiểm soát viên, tập trung vào kỹ năng phát hiện hàng giả, hàng nhái và xử lý vi phạm. Thứ hai, đầu tư trang thiết bị hiện đại cho phòng thí nghiệm, áp dụng công nghệ blockchain để truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Thứ ba, đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật đến doanh nghiệp và người tiêu dùng thông qua các hội thảo, tờ rơi. Cuối cùng, tăng cường phối hợp giữa Cục Quản lý thị trường, Sở Y tế, Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản và lực lượng công an. Những giải pháp này sẽ góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

3.1. Nâng cao năng lực đội ngũ kiểm soát viên

Đội ngũ kiểm soát viên là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả hoạt động. Tại Nghệ An, cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản lý mỹ phẩm, kỹ thuật kiểm nghiệm và pháp luật liên quan. Theo kế hoạch, Cục sẽ cử 20 kiểm soát viên tham gia khóa đào tạo tại Viện Kiểm nghiệm Thuốc Trung ương trong năm 2024. Bên cạnh đó, xây dựng hệ thống đánh giá năng lực định kỳ để đảm bảo chất lượng công việc. Giải pháp này sẽ giúp nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác kiểm soát.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong kiểm soát mỹ phẩm

Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kiểm soát. Cục Quản lý thị trường Nghệ An cần triển khai hệ thống quản lý dữ liệu tập trung, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm mỹ phẩm. Áp dụng công nghệ blockchain để truy xuất nguồn gốc sản phẩm, ngăn chặn hàng giả, hàng nhái. Ngoài ra, sử dụng phần mềm quản lý vi phạm hành chính sẽ giúp tối ưu hóa quy trình xử lý. Theo khảo sát, các nước tiên tiến như Hàn Quốc, Singapore đã áp dụng thành công công nghệ này, góp phần giảm thiểu tình trạng hàng giả xuống dưới 5%.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng cho công tác quản lý

Kiểm soát mặt hàng mỹ phẩm tại Cục Quản lý thị trường Nghệ An giai đoạn 2016-2018 đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy sự phát triển của ngành mỹ phẩm địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần khắc phục, đặc biệt là thiếu hụt nhân lực, trang thiết bị và tình trạng hàng giả, hàng nhái ngày càng tinh vi. Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát, cần tập trung vào ba giải pháp chính: tăng cường đào tạo đội ngũ kiểm soát viên, ứng dụng công nghệ tiên tiến và đẩy mạnh phối hợp liên ngành. Những giải pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm lưu thông trên thị trường mà còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh tại Nghệ An.

4.1. Đánh giá chung về hoạt động kiểm soát

Hoạt động kiểm soát mỹ phẩm tại Nghệ An đã chứng minh vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và duy trì trật tự thị trường. Theo thống kê, 85% sản phẩm kiểm tra đạt tiêu chuẩn chất lượng, góp phần nâng cao niềm tin của người tiêu dùng vào sản phẩm lưu thông. Những kết quả này là minh chứng cho sự nỗ lực của Cục Quản lý thị trường trong việc triển khai các biện pháp quản lý hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như thiếu hụt nhân lực, trang thiết bị chưa đầy đủ và tình trạng hàng giả, hàng nhái vẫn diễn biến phức tạp.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong giai đoạn 2024-2026, Cục Quản lý thị trường Nghệ An cần tập trung vào ba định hướng chính: nâng cao năng lực đội ngũ kiểm soát viên, ứng dụng công nghệ tiên tiến và đẩy mạnh phối hợp liên ngành. Theo kế hoạch, Cục sẽ tuyển dụng thêm 10 kiểm soát viên, đầu tư 5 tỷ đồng vào trang thiết bị kiểm nghiệm và triển khai hệ thống quản lý dữ liệu tập trung. Những định hướng này sẽ góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành mỹ phẩm tại Nghệ An.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận văn thạc sỹ kiểm soát mặt hàng mỹ phẩm của cục quản lý thị trường tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT MẶT HÀNG MỸ PHẨM CỦA CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG 1. Khái quát về mặt hàng mỹ phẩm được phân phối trên thị trường 1. Khái niệm, đặc trưng của mặt hàng mỹ phẩm được phân phối trên thị trường a) Khái niệm Ngày nay, mỹ phẩm là sản phẩm không thể thiếu trong cuộc sống của tất cả chúng ta kể cả nam hay nữ, già hay trẻ. Tuy nhiên, sản phẩm như thế nào được coi là sản phẩm mỹ phẩm thì không phải ai cũng biết.

Có rất nhiều khái niệm về mỹ phẩm. Theo Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) định nghĩa mỹ phẩm là "chất dùng để bôi thoa vào cơ thể người nhằm tẩy sạch, tô điểm, tăng cường độ thu hút hoặc thay đổi diện mạo mà không ảnh hưởng đến cấu trúc hoặc chức năng của cơ thể". Định nghĩa rộng này bao gồm bất kỳ chất liệu nào được sử dụng làm thành phần của một sản phẩm mỹ phẩm. Tuy nhiên, FDA đặc biệt loại trừ xà phòng khỏi danh mục này.

[Wiki Media] Theo Thông tư số 06/2011/TT-BYT quy định về quản lý mỹ phẩm: “Sản phẩm mỹ phẩm là một chất hay chế phẩm được sử dụng để tiếp xúc với những bộ phận bên ngoài cơ thể con người (da, hệ thống lông tóc, móng tay, móng chân, môi và cơ quan sinh dục ngoài) hoặc răng và niêm mạc miệng với mục đích chính là để làm sạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ cơ thể hoặc giữ cơ thể trong điều kiện tốt”. Định nghĩa mỹ phẩm của Bộ Y tế cũng là định nghĩa của Liên minh Châu Âu. Một định nghĩa đầy đủ về mỹ phẩm giúp tạo ra một hành lang pháp lý giữa mỹ phẩm và các loại thuốc, xác định các yêu cầu ghi trên nhãn và tiêu chuẩn sản phẩm khác; làm cơ sở để quản lý các sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu lưu thông trong phạm vi lãnh thỗ Việt Nam, mỹ phẩm sản xuất trong nước, xuất khẩu, nhập khẩu mỹ phẩm và thỏa mãn các điều kiện về đăng ký cho sản phẩm mỹ phẩm lưu hành không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trong phạm vi những quốc gia thành viên ASEAN. Theo đó, mỹ phẩm bao gồm: 11 - Xà phòng và các sản phẩm làm sạch cơ thể khác - Các loại kem, sữa, mặt nạ, bột và màu sắc cho da, mắt và môi; - Dầu gội đầu, sữa, dầu, đại lý vẫy tay, chất kìm hãm, chất tẩy, thuốc nhuộm và chất tẩy thuốc nhuộm cho tóc; - Sữa, chất đánh bóng và màu sắc cho móng tay; - Tẩy lông; - Chế phẩm tẩy trắng da và các chế phẩm lột da; - Kem đánh răng và các chế phẩm chăm sóc răng miệng khác; - Lăn khử mùi, chất khử mùi và các sản phẩm vệ sinh cá nhân khác; - Nước hoa và các chất thơm khác.

Vị trí sử dụng bao gồm: Da; Hệ thống lông/tóc; Móng tay/chân; Môi; Cơ quan sinh dục ngoài; Răng; Niêm mạc của khoang miệng. b) Đặc tính của mỹ phẩm: Đặc tính của mỹ phẩm là tạo nên các ảnh hưởng/hiệu quả không vĩnh viễn và cần phải sử dụng thường xuyên để duy trì hiệu quả. Các sản phẩm điều chỉnh vĩnh viễn, phục hồi hoặc làm thay đổi chức năng cơ thể bằng cơ chế miễn dịch, trao đổi chất hoặc cơ chế dược lý không được phân loại là mỹ phẩm. Sản phẩm có đường dùng uống, tiêm hoặc tiếp xúc với những phần khác của cơ thể (Ví dụ: màng nhầy của đường mũi, bộ phận sinh dục trong, …) thì không được phân loại là mỹ phẩm.

c) Phân loại: Thông thường mỹ phẩm được chia làm 3 dạng: mỹ phẩm bề ngoài, mỹ phẩm dự phòng và mỹ phẩm sửa chữa. + Mỹ phẩm bề ngoài: là các sản phẩm trang điểm bề mặt như sản phẩm makeup, sơn móng tay, thuốc nhuộm tóc…Các sản phẩm này chỉ tác động đến vẻ bề ngoài chứ không đi sâu vào sinh lý da. + Mỹ phẩm dự phòng: bao gồm các sản phẩm chăm sóc da, dưỡng da dành cho việc làm chậm lại các biến đổi sinh lý của da như lão hóa, khô da và bảo vệ chống lại các tác nhân bên ngoài như ô nhiễm, ánh nắng, chất kích ứng… 12 + Mỹ phẩm sửa chữa: được dùng khi người ta đã thất bại trong dự phòng, Đối mặt với các tổn thường người ta phải chăm sóc, khắc phục chúng bằng các sản phẩm như làm căng, làm ẩm, làm láng, tái sinh, giảm béo, chống rụng tóc… Ngoài ra còn có thể phân loại mỹ phẩm theo các bộ phận mà nó cho tác dụng, như sau: + Da: Xà bông tắm, sữa tắm, phấn hồng, phấn nền, bột thơm, nước hoa, chất làm trắng, chất làm mềm, kem chống nắng, kem dưỡng da… + Lông, tóc: dầu gội, dầu xả, thuốc nhuộm tóc, thuốc duỗi tóc, thuốc uốn tóc, gel vuốt tóc, kem tẩy lông, kem cạo râu… + Mắt: bút kẻ mắt, kẻ lông mày, kem chải mi, mi mắt giả… + Môi: son môi, chất làm ẩm môi, chất làm bóng môi… + Móng tay, chân: sơn, thuốc tẩy sơn… Tuy nhiên, trong thực tế, với những nội dung công dụng tương tự nhau, rất khó khăn để phân biệt: Sản phẩm mỹ phẩm, Sản phẩm thực phẩm chức năng và Dược phẩm. Vì vậy, để phục vụ hoạt động quản lý từ các khâu nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh…Bộ Y tế ban hành Thông tư 06/2011/TT-BYT ngày 25 tháng 01 năm 2011 quy định về quản lý mỹ phẩm; và Công văn số 1609/QLD-MP Hướng dẫn phân loại mỹ phẩm, công bố tính năng mỹ phẩm.

Quá trình thực hiện đều dựa trên căn cứ Hiệp định về hệ thống hóa hợp ASEAN trong quản lý Mỹ phẩm.Theo đó, mỹ phẩm được phân loại thành 20 nhóm sản phẩm được quy định cụ thể tại Mục 2 (dạng sản phẩm) của Phụ lục số 01-MP của Thông tư 06/2011/TT-BYT. Tiêu chí để phân loại sản phẩm mỹ phẩm dựa vào tính năng, mục đích sử dụng, thành phần công thức, đường dùng của sản phẩm và định nghĩa về mỹ phẩm quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 06/2011/TT-BYT. Theo đó, mỹ phẩm gồm các loại: (1) Kem, nhũ tương, sữa, gel hoặc dầu dùng trên da (tay, mặt, chân, ….) (2) Mặt nạ (chỉ trừ sản phẩm làm bong da nguồn gốc hoá học) (3) Chất phủ màu (lỏng, nhão, bột) (4) Phấn trang điểm, phấn dùng sau khi tắm, bột vệ sinh,… (5) Xà phòng tắm, xà phòng khử mùi,… 13 (6) Nước hoa, nước thơm dùng vệ sinh,…. (7) Sản phẩm dùng để tắm hoặc gội (muối, xà phòng, dầu, gel,…) (8) Sản phẩm tẩy lông (9) Sản phẩm khử mùi và chống mùi.

(10) Sản phẩm chăm sóc tóc - Nhuộm và tẩy màu tóc - Uốn tóc, duỗi tóc, giữ nếp tóc - Các sản phẩm định dạng tóc - Sản phẩm làm sạch (sữa, bột, dầu gội) - Sản phẩm cung cấp chất dinh dưỡng cho tóc (sữa, kem, dầu), - Các sản phẩm tạo kiểu tóc (sữa, keo xịt tóc, sáp) (11) Sản phẩm dùng cạo râu hoặc sau khi cạo râu (kem, xà phòng, sữa,. Điều kiện đối với các cơ sở kinh doanh mặt hàng mỹ phẩm Điều kiện kinh doanh, sản xuất mỹ phẩm được căn cứ dựa trên 4 văn bản chính: Thông tư số 06/2011/TT-BYT của Bộ Y tế : Quy định về quản lý mỹ phẩm; Luật Doanh nghiệp 2014, Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh, Nghị định 39/2007/NĐ-CP Về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh. 14 Theo đó, các cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh được quy định và giải thích rõ tại Điều 2, Điều 3 của Nghị định 39/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007. Ngoài những đối tượng trên, các trường hợp kinh doanh khác đều phải thực hiện đăng ký kinh doanh.

Có thể lựa chọn một trong các mô hình để hoạt động đăng ký kinh doanh sau: hộ gia đình, hợp tác xã, công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty cổ phẩn. Đối với những trường hợp này, điều kiện kinh doanh căn cứ dựa trên Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, các cá nhân, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mặt hàng mỹ phẩm phải tuân thủ quy định về việc công bố sản phẩm mỹ phẩm, được quy định rõ tại Điều 3, Thông tư 06/2011/TT-BYT. Các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm mỹ phẩm ra thị trường chỉ được phép đưa mỹ phẩm ra lưu thông khi đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp số tiếp nhận Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính an toàn, hiệu quả và chất lượng sản phẩm.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra hậu mại khi sản phẩm lưu thông trên thị trường. Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra lưu thông trên thị trường phải có chức năng kinh doanh mỹ phẩm tại Việt Nam. Việc công bố tính năng của sản phẩm mỹ phẩm (mục đích sử dụng của sản phẩm) phải đáp ứng hướng dẫn của ASEAN về công bố tính năng sản phẩm mỹ phẩm (Phụ lục số 03-MP - Thông tư 06/2011/TT-BYT ). Kiểm soát của Cục quản lý thị trường tỉnh Nghệ An đối với mặt hàng mỹ phẩm 1.

Khái niệm, mục tiêu của kiểm soát mặt hàng mỹ phẩm của Cục Quản lý thị trường a) Khái niệm Kiểm soát là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhằm đảm bảo thực hiện theo kế hoạch. Kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân là tổng thể những hoạt động của Nhà nước nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, đổ vỡ, 15 những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội phát triển kinh tế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động đúng định hướng kế hoạch và có hiệu quả. Kiểm soát đối với mặt hàng mỹ phẩm hiện nay được giao cho rất nhiều cơ quan nhà nước, mỗi cơ quan có một chức năng riêng bao gồm: Công an, Hải quan, Bộ Y tế, Cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Cục quản lý thị trường…Trong đó, Quản lý thị trường là một trong những lực lượng nòng cốt để kiểm soát sản phẩm mỹ phẩm được kinh doanh ở thị trường nội địa. Quản lý thị trường là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng phòng, chống, xử lý các hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ; hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng, đo lường, giá, an toàn thực phẩm và gian lận thương mại; hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ