CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC KỸ SƯ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1. Doanh nghiệp Viễn thông và kỹ sư công nghệ thông tin của Doanh nghiệp Viễn thông 1. Doanh nghiệp Viễn thông Doanh nghiệp viễn thông là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông. Luật Viễn thông năm 2009 định nghĩa doanh nghiệp viễn thông là "doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông" (Điều 3, Luật Viễn thông 2009).
Định nghĩa này mang tính pháp lý, tập trung vào các yếu tố về tư cách pháp nhân và giấy phép hoạt động, đặt nền tảng cho việc quản lý và giám sát hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Trong công trình nghiên cứu của Trần Văn Hoàng (2020), tác giả đã mô tả doanh nghiệp viễn thông như "những tổ chức cung cấp các dịch vụ liên quan đến truyền thông, kết nối và phát sóng thông tin giữa các thiết bị, người dùng trên phạm vi toàn cầu" [18]. Như vậy, doanh nghiệp viễn thông là những doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh các dịch vụ liên quan đến truyền thông, kết nối và phát sóng thông tin, đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế số. Kỹ sư công nghệ thông tin của Doanh nghiệp Viễn thông 1.
Kỹ sư công nghệ thông tin Kỹ sư công nghệ thông tin là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực viễn thông. Theo định nghĩa của Hiệp hội Kỹ sư Điện và Điện tử (IEEE), "kỹ sư công nghệ thông tin là những người có kiến thức và kỹ năng về thiết kế, phát triển, triển khai và vận hành các hệ thống công nghệ thông tin" (IEEE, 2020). Đây là những chuyên gia có khả năng tích hợp kiến thức liên ngành như tin học, viễn thông, quản lý và các lĩnh vực khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các hệ thống CNTT hiện đại [4]. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa Kỹ sư CNTT là "người có trình độ đại học trở lên về CNTT, có khả năng thiết kế, xây dựng, vận hành và bảo trì các hệ thống phần mềm, phần cứng và mạng máy tính".
Định nghĩa này tập trung vào trình độ chuyên môn và kỹ năng kỹ thuật của kỹ sư CNTT, nhấn mạnh vai trò của họ trong việc phát triển và duy trì các hệ thống công nghệ thông tin [3]. 7 Trong báo cáo "Thị trường Lao động CNTT Việt Nam 2023" của TopDev, Kỹ sư CNTT được mô tả là "nhân lực có kiến thức và kỹ năng về CNTT, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ và giải pháp công nghệ". Báo cáo này chỉ ra sự đa dạng trong vai trò của kỹ sư CNTT, từ phát triển phần mềm đến quản lý dự án, tư vấn công nghệ và nhiều lĩnh vực khác [17]. Kỹ sư công nghệ thông tin tại doanh nghiệp viễn thông Kỹ sư công nghệ thông tin đóng vai trò then chốt trong doanh nghiệp viễn thông, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp 4.
Trần Văn Hoàng (2020) đã chỉ ra, "các doanh nghiệp viễn thông đang đối mặt với nhiều thách thức do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, yêu cầu phải tái cấu trúc mô hình kinh doanh và nâng cao năng lực công nghệ". Vai trò của kỹ sư CNTT trong bối cảnh này là vô cùng quan trọng [18]. Trước hết, các kỹ sư CNTT tại doanh nghiệp viễn thông giữ vai trò then chốt trong việc thiết kế, xây dựng và vận hành các hệ thống công nghệ số. Họ phải có khả năng phân tích, thiết kế và triển khai các giải pháp CNTT hiện đại như điện toán đám mây, Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo.
nhằm đáp ứng yêu cầu số hóa của doanh nghiệp và khách hàng. Nguyễn Thị Thu Hà (2021) đã chỉ ra, "các kỹ sư CNTT sẽ là những người tạo ra các nền tảng số, ứng dụng và dịch vụ mới, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong các doanh nghiệp viễn thông". Năng lực kỹ sư công nghệ thông tin tại Doanh nghiệp Viễn thông 1. Năng lực Năng lực là kiến thức, khả năng, hành vi của một người hoặc một hệ thống để thực hiện công việc hay đạt được mục tiêu cụ thể.
Theo Nguyễn Đình Thọ (2020), "Năng lực là tập hợp các kiến thức, kỹ năng, và thái độ, được vận dụng một cách hiệu quả để hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu công việc". Khái niệm này nhấn mạnh rằng năng lực không chỉ là những yếu tố riêng lẻ, mà là sự kết hợp và vận dụng hiệu quả các yếu tố cá nhân để đạt được kết quả mong muốn. Năng lực của kỹ sư công nghệ thông tin tại Doanh nghiệp Viễn thông Nguyễn Văn Sơn (2016), định nghĩa: "Năng lực của kỹ sư công nghệ thông tin tại doanh nghiệp viễn thông là khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ làm việc để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ liên quan đến thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo trì và phát triển hệ thống mạng lưới, dịch vụ viễn thông. 8 Lê Thị Thu Hà (2019), đưa ra khái niệm: "Năng lực của kỹ sư công nghệ thông tin tại doanh nghiệp viễn thông là sự kết hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và các phẩm chất cá nhân cần thiết để thực hiện thành công các công việc liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin trong môi trường doanh nghiệp viễn thông." [8] Phạm Văn Đức (2021), định nghĩa: "Năng lực của kỹ sư công nghệ thông tin tại doanh nghiệp viễn thông là tập hợp các thuộc tính cá nhân (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ, giá trị) cho phép họ thực hiện hiệu quả các công việc liên quan đến công nghệ thông tin trong môi trường doanh nghiệp viễn thông, đáp ứng yêu cầu của công việc và đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp." [15] Bên cạnh đó, kỹ sư CNTT tại VNPT-IT cũng cần phải có kỹ năng ứng dụng công nghệ một cách hiệu quả.
Kỹ sư CNTT cần nhanh chóng nắm bắt và thích ứng với các công nghệ mới, để có thể triển khai các giải pháp CNTT phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Nguyễn Thị Thu Hằng (2020) đã chỉ ra, năng lực còn bao gồm "khả năng học hỏi và thích ứng với sự thay đổi". Trong nội dung đề án tác giả sử dụng khái niệm của tác giả Ngô Quốc Dũng (2021) "Năng lực của kỹ sư công nghệ thông tin tại doanh nghiệp viễn thông là tập hợp các kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và phẩm chất cá nhân cho phép kỹ sư CNTT thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ liên quan đến thiết kế, triển khai, vận hành, bảo trì và nâng cấp hệ thống, dịch vụ và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp viễn thông. Yếu tố cấu thành Kiến thức Hoàng Phê chủ biên, (2010) thì “Kiến thức là những hiểu biết có hệ thống về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích lũy qua học tập và thực tiễn”.
Theo Ngô Quốc Dũng (2021) thì “Kiến thức là kết quả của quá trình tương tác tích cực giữa con người và môi trường, là công cụ để giải quyết vấn đề và cải thiện cuộc sống”. Như vậy cho thể nói kiến thức là nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động của kỹ sư CNTT. Họ cần nắm vững kiến thức về mạng máy tính, hệ thống viễn thông, truyền dẫn dữ liệu, bảo mật thông tin, điện tử viễn thông,. Bên cạnh đó, kiến thức về các giao thức mạng, kiến trúc hệ thống, các công nghệ mới như 5G, IoT, điện toán đám mây cũng là những yếu tố không thể thiếu.
Sự am hiểu sâu sắc về các khía cạnh này giúp kỹ sư CNTT thiết kế, triển khai, vận hành và bảo trì hệ thống viễn thông một cách hiệu quả. 9 Kỹ năng làm việc Hoàng Phê chủ biên, (2010) cho rằng: "Kỹ năng là khả năng làm việc gì đó một cách thành thạo, khéo léo do luyện tập mà có". Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh thực hành và sự nhuần nhuyễn thông qua quá trình rèn luyện. Còn theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): "Kỹ năng là khả năng thực hiện một nhiệm vụ hoặc một loạt các nhiệm vụ, ở mức độ phức tạp khác nhau, đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức, kinh nghiệm và thái độ" (ILO, 2012).
Định nghĩa này nhấn mạnh tính phức tạp và đa dạng của kỹ năng, cũng như sự kết hợp giữa nhiều yếu tố khác nhau [3]. Wagner, (2008) lại cho rằng: "Kỹ năng là khả năng thích ứng và phát triển trong một thế giới thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi sự sáng tạo, tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề phức tạp". Quan điểm này nhấn mạnh tính linh hoạt và khả năng thích ứng của kỹ năng trong bối cảnh hiện đại [22]. Bên cạnh kiến thức chuyên môn, kỹ sư CNTT cần trau dồi các kỹ năng cứng như lập trình, cấu hình thiết bị, xử lý sự cố, quản lý dự án,.
Đồng thời, các kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, tư duy phản biện cũng quan trọng không kém. Sự kết hợp giữa kỹ năng cứng và mềm giúp kỹ sư CNTT làm việc hiệu quả trong môi trường làm việc phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận. Thái độ làm việc Theo Nguyễn Khắc Viện, (2004): "Thái độ là sự sẵn sàng về mặt tâm lý của cá nhân để hành động theo một cách nhất định đối với một đối tượng hoặc một tình huống nào đó". Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh tâm lý và sự chủ động của cá nhân trong thái độ [11].
Trong lĩnh vực quản trị nhân sự thì "Thái độ làm việc là tập hợp các quan điểm, cảm xúc và hành vi của nhân viên đối với công việc, đồng nghiệp, tổ chức và bản thân" (Robbins & Judge, 2013). Định nghĩa này mở rộng khái niệm thái độ, bao gồm cả các yếu tố liên quan đến môi trường làm việc và các mối quan hệ xã hội [243]. (2015) thì lại cho rằng "Thái độ làm việc là một trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần, được tổ chức thông qua kinh nghiệm, và có ảnh hưởng trực tiếp đến phản ứng của một người đối với tất cả các đối tượng và tình huống liên quan đến nó. (2012) quan niệm "Thái độ làm việc là những đánh giá tích cực hoặc tiêu cực mà nhân viên giữ đối với các khía cạnh của môi trường làm việc của họ.