Tổng quan nghiên cứu

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tật khúc xạ là một trong năm nguyên nhân hàng đầu gây suy giảm thị lực và mù lòa có thể phòng tránh được trên toàn cầu. Trong các loại tật khúc xạ học đường, viễn thị ở trẻ em là một vấn đề nhãn khoa đặc biệt nghiêm trọng nhưng thường bị xem nhẹ so với cận thị. Đa số trẻ sơ sinh chào đời đều mang độ viễn thị sinh lý khoảng +2,00 D đến +3,50 D, sau đó độ viễn sẽ giảm dần theo quá trình phát triển tự nhiên của nhãn cầu. Tuy nhiên, nếu viễn thị tồn tại ở mức độ trung bình đến nặng mà không được phát hiện kịp thời, trẻ sẽ đối mặt với nguy cơ bị lác trong cao gấp 13 lần và nguy cơ nhược thị cao gấp 6 lần so với trẻ bình thường.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn về viễn thị ở lứa tuổi thanh thiếu niên vẫn còn tương đối hạn chế. Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và các biến chứng kèm theo của tật viễn thị trên cỡ mẫu lớn gồm 38.799 trẻ em từ 4 đến 15 tuổi đến khám tại Bệnh viện Mắt Trung ương trong giai đoạn 5 năm liên tục từ năm 2018 đến năm 2022.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với ngành nhãn khoa nhi và y tế học đường. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng chuẩn xác về tỷ lệ phân bố theo độ tuổi, giới tính, mức độ viễn thị, tình trạng chênh lệch khúc xạ hai mắt và tỷ lệ nhược thị kèm theo (chiếm 11,12%). Qua đó, công trình đóng vai trò là cơ sở khoa học tin cậy giúp các nhà hoạch định chính sách y tế và bác sĩ lâm sàng tối ưu hóa chiến lược sàng lọc thị lực sớm, giảm thiểu tỷ lệ tàn tật thị giác học đường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng sinh lý quang học nhãn cầu và học thuyết về quá trình chính thị hóa (emmetropization). Hệ quang học của mắt bình thường có tổng công suất khúc xạ trung bình khoảng 58,64 D và chiều dài trục trước sau của nhãn cầu ở người trưởng thành dao động từ 23,5 mm đến 24,5 mm. Ở mắt viễn thị, công suất hội tụ của hệ quang học không tương xứng với chiều dài trục nhãn cầu, khiến các tia sáng song song hội tụ ở vị trí phía sau võng mạc khi mắt ở trạng thái nghỉ.

Cơ chế bệnh sinh của viễn thị liên quan mật thiết đến sự tương tác giữa lực điều tiết của thể thủy tinh và phản xạ quy tụ cơ thể mi. Khi trẻ cố gắng điều tiết quá mức để nhìn rõ vật thể ở gần (lực điều tiết ở trẻ 3 tuổi có thể đạt tới 17,00 D), sự phối hợp điều tiết - quy tụ bị rối loạn dẫn đến lác trong điều tiết và nhược thị do suy giảm kích thích thị giác lên vỏ não.

Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn phân loại khúc xạ quốc tế dựa trên độ cầu tương đương (Spherical Equivalent - SE = Độ cầu + 1/2 Độ trụ) sau khi đã làm liệt điều tiết:

  • Mắt viễn thị: SE từ +0,50 D trở lên. Phân độ gồm viễn thị nhẹ (+0,75 D đến +2,00 D), viễn thị trung bình (+2,25 D đến +5,00 D) và viễn thị nặng (trên +5,00 D).
  • Lệch khúc xạ viễn thị: Chênh lệch SE giữa hai mắt từ 1,00 D trở lên.
  • Nhược thị: Thị lực sau chỉnh kính tối ưu dưới 20/30 (dưới 7/10) hoặc chênh lệch thị lực giữa hai mắt trên hai dòng bảng đo thị lực.
  • Loạn thị kèm theo: Độ trụ từ 0,75 D trở lên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu trên toàn bộ hồ sơ bệnh án điện tử của 38.799 bệnh nhân trong giai đoạn từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2022 tại Bệnh viện Mắt Trung ương. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu thuận tiện toàn bộ các bệnh nhân từ 4 đến 15 tuổi thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán mã ICD-10 H52.0 (tật viễn thị) và không mắc các bệnh lý thực thể khác tại mắt gây ảnh hưởng thị lực.

Quy trình thu thập dữ liệu dựa trên phiếu khám bệnh chuẩn hóa, trích xuất chỉ số khúc xạ sau khi tra thuốc liệt điều tiết hoàn toàn (Cyclopentolate 1% hoặc Atropin 1%) và kết quả thị lực sau chỉnh kính tối ưu lần đầu. Dữ liệu được quản lý bằng phần mềm Microsoft Excel và xử lý thống kê chuyên sâu bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Các biến số định lượng được biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn, sử dụng thuật toán kiểm định t-test và phân tích phương sai ANOVA để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm, với ngưỡng ý nghĩa thống kê được xác định khi giá trị p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng kết dữ liệu lâm sàng từ 38.799 bệnh nhân và 61.127 mắt viễn thị trong giai đoạn 2018-2022 ghi nhận các phát hiện nổi bật sau:

Thứ nhất, về phân bố dịch tễ học theo năm và lứa tuổi: Số lượng trẻ đến khám cao nhất vào năm 2019 với 10.821 trẻ, giảm mạnh xuống mức thấp nhất vào năm 2021 với 4.610 trẻ do tác động của giãn cách xã hội bởi đại dịch COVID-19, sau đó phục hồi lên 7.421 trẻ vào năm 2022. Độ tuổi trung bình của trẻ là 11,42 ± 2,34 tuổi. Nhóm tuổi 11-15 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 50,32% (19.526 trẻ), nhóm 6-10 tuổi chiếm 47,66% (18.490 trẻ), và nhóm dưới 6 tuổi chỉ chiếm 2,02% (783 trẻ). Tỷ lệ trẻ nữ mắc viễn thị (53,54% tương đương 20.781 trẻ) cao hơn đáng kể so với trẻ nam (46,44% tương đương 18.018 trẻ) với p < 0,05.

Thứ hai, về thực trạng can thiệp và sử dụng kính: Có tới 70,46% bệnh nhân (27.338 trẻ) chưa từng được chỉnh kính trước thời điểm đến khám tại bệnh viện chuyên khoa, trong khi tỷ lệ đã được chỉnh kính chỉ đạt 29,54% (11.461 trẻ). Đặc biệt ở nhóm trẻ dưới 6 tuổi, tỷ lệ chưa được chỉnh kính lên tới mức báo động là 80,81% (633 trẻ).

Thứ ba, về mức độ viễn thị và hình thái lâm sàng: Tỷ lệ viễn thị ở cả hai mắt chiếm ưu thế tuyệt đối với 95,95% (37.228 trẻ), viễn thị đơn nhãn chỉ chiếm 4,05% (1.571 trẻ). Độ viễn thị trung bình đạt 2,75 ± 1,75 D (dao động từ +0,75 D đến +11,00 D). Trong 61.127 mắt viễn thị, mức độ viễn nhẹ chiếm 53,06% (32.434 mắt), mức độ trung bình chiếm 41,97% (25.655 mắt), và mức độ viễn nặng chiếm 4,97% (3.038 mắt). Tỷ lệ chênh lệch khúc xạ hai mắt trên 1,00 D chiếm tới 46,88% tổng số bệnh nhân.

Thứ tư, về các tổn thương và tật kèm theo: Tỷ lệ nhược thị kèm theo là 11,12% (4.313 trẻ). Trong số trẻ nhược thị, có 82% trường hợp bị nhược thị hai mắt (3.537 trẻ) và 18% bị nhược thị một mắt (776 trẻ). Trên tổng số 7.850 mắt nhược thị được đánh giá, nhược thị nhẹ chiếm 46,32%, nhược thị trung bình chiếm 44,25%, và nhược thị nặng chiếm 9,43%. Bên cạnh đó, có 19,2% số mắt viễn thị có kết hợp loạn thị với độ loạn trung bình là 1,43 ± 1,02 D.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ trẻ nữ đến khám viễn thị cao hơn trẻ nam (53,54% so với 46,44%) có sự tương đồng rõ rệt với các công bố quốc tế, phản ánh đặc điểm tâm sinh lý học tập của trẻ nữ thường tập trung vào các hoạt động nhìn gần tỉ mỉ, giúp sớm nhận biết các dấu hiệu mỏi mắt và giảm thị lực để thông báo cho phụ huynh.

Tỷ lệ 70,46% trẻ chưa từng được chỉnh kính cho thấy lỗ hổng lớn trong nhận thức cộng đồng về tật khúc xạ học đường. Đa số phụ huynh thường chỉ đưa con đi khám khi trẻ biểu hiện mờ mắt rõ rệt nhìn xa (dấu hiệu điển hình của cận thị), trong khi viễn thị ở mức độ nhẹ và trung bình thường bị che lấp bởi khả năng điều tiết bù trừ rất mạnh của trẻ. Hậu quả của việc điều tiết kéo dài không được can thiệp là đau đầu, nhức mỏi mắt, giảm khả năng đọc hiểu và tiến triển thành nhược thị sâu.

Khi đối chiếu dữ liệu nghiên cứu, có thể tổng hợp sự phân bố mức độ viễn thị và nhược thị qua bảng thống kê chuyên biệt hoặc biểu đồ cột trực quan: nhóm viễn thị nặng (> +5,00 D) dù chỉ chiếm 4,97% tổng số mắt nhưng lại là nhóm có nguy cơ nhược thị sâu cao nhất. Sự kết hợp giữa viễn thị và loạn thị (19,2%) càng làm méo mó hình ảnh trên võng mạc, thúc đẩy nhanh quá trình nhược thị khúc xạ nếu không được hiệu chỉnh kính trụ chính xác sau liệt điều tiết.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tế, bốn nhóm giải pháp can thiệp trọng tâm được khuyến nghị thực hiện như sau:

  1. Thiết lập chương trình sàng lọc thị lực học đường định kỳ hằng năm: Các Trung tâm Y tế dự phòng phối hợp với Sở Giáo dục & Đào tạo triển khai khám sàng lọc khúc xạ cho 100% học sinh mầm non và tiểu học. Mục tiêu đặt ra là phát hiện và chuyển tuyến can thiệp sớm trên 85% các trường hợp viễn thị và lệch khúc xạ trước khi trẻ bước vào lớp 1, thực hiện liên tục trong giai đoạn 2024-2026.

  2. Chuẩn hóa quy trình đo khúc xạ liệt điều tiết tại tuyến cơ sở: Hội Nhãn khoa Việt Nam phối hợp cùng các bệnh viện chuyên khoa mắt tổ chức các khóa tập huấn bắt buộc cho kỹ thuật viên khúc xạ và bác sĩ tuyến cơ sở. Nâng cao tỷ lệ áp dụng phác đồ nhỏ liệt điều tiết đúng chuẩn lên trên 90% tại tất cả các phòng khám mắt và cơ sở kính thuốc nhằm loại bỏ triệt để sai số chẩn đoán.

  3. Xây dựng phác đồ điều trị và phục hồi chức năng nhược thị chuyên sâu: Khoa Mắt trẻ em tại các bệnh viện chuyên khoa cần thiết lập đơn nguyên tập nhược thị và chỉnh quang chuyên biệt. Phối hợp phương pháp chỉnh kính tối ưu với các kỹ thuật che mắt, phạt thị quang học và phần mềm tập luyện thị giác hai mắt, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ nhược thị nặng từ 9,43% xuống dưới 4,00% trong vòng 3 năm theo dõi.

  4. Đẩy mạnh truyền thông sức khỏe mắt học đường cho phụ huynh và giáo viên: Ngành Y tế phối hợp với các cơ quan báo chí phát động chiến dịch nâng cao nhận thức về các dấu hiệu viễn thị tiềm ẩn (nheo mắt, nhức đầu, sợ đọc sách, nghiêng đầu khi nhìn). Đảm bảo trên 80% phụ huynh học sinh nắm vững kiến thức khám mắt định kỳ tối thiểu 6 tháng một lần cho trẻ em.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham chiếu thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng chính:

  1. Bác sĩ Nhãn khoa và Bác sĩ Nhãn nhi: Cung cấp cơ sở dịch tễ học thực chứng trên 38.799 bệnh nhân để đối chiếu, xây dựng phác đồ chỉ định chỉnh kính tối ưu và theo dõi điều trị nhược thị, lác trong điều tiết trong thực hành lâm sàng hằng ngày.

  2. Cán bộ quản lý Y tế học đường và Y tế dự phòng: Cung cấp dữ liệu dịch tễ cụ thể về tỷ lệ mắc viễn thị theo độ tuổi (từ 4 đến 15 tuổi) nhằm thiết kế các gói can thiệp y tế học đường, phân bổ ngân sách và trang thiết bị đo khúc xạ lưu động tại các trường học.

  3. Kỹ thuật viên khúc xạ và Chủ cơ sở kính thuốc: Nắm vững tầm quan trọng của việc đo khúc xạ sau liệt điều tiết ở trẻ em và nguyên tắc chỉnh số kính viễn thị đúng quy chuẩn, tránh tình trạng cấp sai độ kính gây nhược thị tiến triển.

  4. Học viên sau đại học, Nghiên cứu sinh và Giảng viên khối ngành Y Dược: Tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu hồi cứu mô tả quy mô lớn, kỹ thuật xử lý dữ liệu dịch tễ khúc xạ bằng phần mềm SPSS và kiểm định phương sai trong nhãn khoa.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tật viễn thị ở trẻ em thường khó phát hiện hơn tật cận thị?

Trẻ em có lực điều tiết của thể thủy tinh rất lớn, có thể lên tới 14,00 D đến 17,00 D ở lứa tuổi dưới 10 tuổi. Lực điều tiết này giúp bù trừ công suất quang học để nhìn rõ vật thể, khiến các biểu hiện mờ mắt bị che lấp và dẫn tới 70,46% trẻ viễn thị chưa từng được chỉnh kính trước khi đi khám.

Tật viễn thị ở trẻ em có thể tự hết khi lớn lên không?

Trẻ sơ sinh thường có độ viễn thị sinh lý từ +2,00 D đến +3,50 D và sẽ giảm dần theo quá trình phát triển dài ra của trục nhãn cầu (quá trình chính thị hóa). Tuy nhiên, nếu sau 7 tuổi độ viễn thị vẫn ở mức trung bình hoặc nặng (> +2,25 D), mắt sẽ không thể tự hết viễn thị mà bắt buộc phải can thiệp quang học.

Tỷ lệ nhược thị ở trẻ em viễn thị trong nghiên cứu là bao nhiêu?

Nghiên cứu trên 38.799 trẻ viễn thị ghi nhận tỷ lệ nhược thị là 11,12% (4.313 trẻ), trong đó có tới 82% trường hợp bị nhược thị cả hai mắt. Nhược thị khiến thị lực sau chỉnh kính tối ưu vẫn dưới 7/10, gây suy giảm thị giác vĩnh viễn nếu không can thiệp trước 8 tuổi.

Khi nào trẻ bị viễn thị bắt buộc phải đeo kính điều chỉnh?

Trẻ cần đeo kính ngay khi độ viễn thị từ mức trung bình trở lên (> +2,25 D), có kèm theo lệch khúc xạ trên 1,00 D, kèm loạn thị trên 0,75 D, hoặc khi trẻ xuất hiện các triệu chứng cơ năng như lác trong, mỏi mắt, nhức đầu và giảm thị lực học tập.

Tại sao đo khúc xạ cho trẻ em viễn thị bắt buộc phải dùng thuốc liệt điều tiết?

Nếu không nhỏ thuốc liệt điều tiết (như Cyclopentolate hoặc Atropin), cơ thể mi của trẻ sẽ liên tục co bóp gây sai số khúc xạ lớn, dễ chẩn đoán nhầm viễn thị thành chính thị hoặc thậm chí cận thị giả, dẫn đến việc cấp sai đơn kính gây hại cho thị lực của trẻ.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã phân tích thành công bức tranh dịch tễ và lâm sàng của 38.799 trẻ em mắc viễn thị tại Bệnh viện Mắt Trung ương giai đoạn 2018-2022, với độ viễn thị trung bình đạt 2,75 ± 1,75 D.
  • Tỷ lệ trẻ chưa từng được chỉnh kính chiếm tới 70,46%, đặc biệt lên tới 80,81% ở nhóm trẻ mầm non dưới 6 tuổi, phản ánh sự chậm trễ nghiêm trọng trong việc phát hiện tật khúc xạ sớm.
  • Biến chứng nhược thị chiếm tỷ lệ 11,12% và viễn loạn thị kết hợp chiếm 19,2%, khẳng định viễn thị là một mối đe dọa lớn đối với sự phát triển chức năng thị giác hai mắt của thanh thiếu niên.
  • Đóng góp quan trọng của công trình là cung cấp hệ thống bằng chứng khoa học vững chắc để chuẩn hóa quy trình khám khúc xạ liệt điều tiết và định hình phác đồ quản lý nhược thị học đường giai đoạn 2024-2026.
  • Các cơ sở y tế và gia đình cần chủ động đưa trẻ đi khám mắt định kỳ 6 tháng một lần tại các trung tâm nhãn khoa uy tín nhằm bảo vệ toàn diện nguồn lực thị giác cho thế hệ tương lai.