Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986 từ góc nhìn văn hóa".
Luận án thuộc chuyên ngành Văn học (Văn học Việt Nam), tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo hướng định tính kết hợp liên ngành giữa nghiên cứu văn học và văn hóa học.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sau năm 1986, công cuộc Đổi mới đã tạo tiền đề cho sự phát triển của văn học nghệ thuật Việt Nam, trong đó văn học các dân tộc thiểu số (DTTS) có bước chuyển biến cả về quy mô lẫn chất lượng sáng tác. Khu vực miền núi phía Bắc (MNPB) là địa bàn sinh sống của nhiều cộng đồng dân tộc như Tày, Thái, Mông, Nùng, Dao, Mường, Giáy... với bản sắc văn hóa riêng biệt, đồng thời là khu vực tập trung đông đảo đội ngũ nhà văn DTTS viết tiểu thuyết. Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa (GNVH) là một hướng nghiên cứu liên ngành giúp khám phá chiều sâu văn hóa của các hình tượng nghệ thuật. Cho đến thời điểm tác giả triển khai đề tài, các công trình đi trước chủ yếu dừng lại ở việc xem xét bản sắc dân tộc trong văn xuôi nói chung hoặc nghiên cứu đơn lẻ một vài tác giả; chưa có công trình chuyên biệt nào khảo sát toàn diện, hệ thống thể loại tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 từ góc nhìn văn hóa.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Chỉ ra cái nhìn nghệ thuật và dấu ấn văn hóa tộc người trong tư duy sáng tác tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 từ góc nhìn văn hóa.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nhiệm vụ 1: Phác thảo tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986; phác thảo lịch sử nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa, từ đó đưa ra đánh giá khách quan và xác lập hướng tiếp cận của đề tài.
- Nhiệm vụ 2: Phân tích những tiền đề tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội và tác động của chúng đối với đời sống văn hóa của đồng bào các DTTS MNPB; nghiên cứu chủ thể văn hóa trên các phương diện vũ trụ quan, nhân sinh quan và căn tính văn hóa từ góc độ nhân học văn hóa; phác họa diện mạo tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 để đánh giá sự trưởng thành của đội ngũ tác giả.
- Nhiệm vụ 3: Khảo sát, mô tả và lý giải hệ thống biểu tượng trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986; phân tích ý nghĩa văn hóa của các biểu tượng gắn với truyền thống và đặc trưng văn hóa tộc người.
- Nhiệm vụ 4: Nghiên cứu một số phương thức nghệ thuật biểu đạt văn hóa trong tiểu thuyết: nghệ thuật sử dụng huyền thoại, nghệ thuật sử dụng các mô típ (motif) và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ mang dấu ấn văn hóa vùng miền, phong tục và tín ngưỡng dân gian.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các tác phẩm tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB xuất bản từ năm 1986 đến nay; các điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội, văn hóa và chủ thể văn hóa của các cộng đồng DTTS MNPB với tư cách là tiền đề kiến tạo nội dung văn hóa trong tác phẩm.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian và chủ thể: Khu vực miền núi phía Bắc, tập trung vào các sáng tác của tác giả thuộc các dân tộc Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Giáy.
- Thời gian: Giai đoạn văn học sau năm 1986 đến thời điểm thực hiện nghiên cứu.
- Nội dung: Tập trung vào những tác phẩm tiêu biểu, tiếp cận dưới góc nhìn văn hóa để lý giải thành tựu và giới hạn của tiểu thuyết DTTS thời kỳ đổi mới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết của các tác giả DTTS MNPB sau 1986
1. Các công trình nghiên cứu tổng quát
- Công trình Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (NXB Văn hóa dân tộc, 1988) điểm diện 16 tác giả, trong đó có các tác giả tiểu thuyết như Triều Ân, Nông Minh Châu, Vi Hồng.
- Nhà nghiên cứu Lâm Tiến công bố 4 cuốn sách chuyên khảo: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (1995), Về một mảng văn học dân tộc (1999), Văn học và miền núi (2002), Tiếp cận văn học dân tộc thiểu số (2011). Ông phân tích diện mạo văn học, ảnh hưởng của văn học dân gian, đồng thời chỉ ra một số hạn chế của văn xuôi DTTS thời kỳ đầu (cốt truyện đơn giản, nhân vật loại hình/chức năng, thiếu chiều sâu hư cấu, lối ví von truyền thống dùng quá nhiều làm chậm nhịp truyện).
- Trần Thị Việt Trung – Cao Thị Hảo với Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại – Một số đặc điểm (NXB Đại học Thái Nguyên, 2011) nghiên cứu bao quát văn học DTTS, mảng văn xuôi và phân tích riêng trường hợp Vi Hồng.
- Các hội thảo khoa học: Hội thảo Văn học dân tộc thiểu số với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong thời kì đổi mới (Lạng Sơn, 2011); Hội thảo khoa học quốc gia Ngôn ngữ và văn học vùng Tây Bắc (Trường Đại học Tây Bắc, 2014) với các báo cáo của Nguyễn Thị Hải Anh, Nguyễn Thị Thu Hoài; Hội thảo toàn quốc Phát triển văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế (Viện Văn học, 2014).
2. Các công trình nghiên cứu về tác giả, tác phẩm tiêu biểu
- Về tác giả Vi Hồng: Phạm Mạnh Hùng với đề tài cấp Bộ Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi Hồng cùng các bài báo trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống (2006), Tạp chí Nghiên cứu Văn học (2006); bài viết của Dương Thuấn (2002), Lâm Tiến (2006); các chuyên luận của Phạm Duy Nghĩa (Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi, 2012), Đào Thủy Nguyên – Dương Thu Hằng (2014); Hội thảo khoa học về Vi Hồng tại Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên (2006).
- Về tác giả Cao Duy Sơn: Bài viết của Chu Thị Hằng (Báo Văn hóa, 2008), Hứa Hiếu Lễ (2008), công trình của Đào Thủy Nguyên – Dương Thu Hằng (2014).
- Về tác giả Triều Ân: Tập sách Triều Ân, tác giả, tác phẩm và dư luận (Hồng Thanh tuyển chọn, NXB Văn hóa dân tộc, 2009).
3. Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa
- Đào Thủy Nguyên (chủ biên) – Dương Thu Hằng: Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam (NXB Đại học Thái Nguyên, 2014).
- Ma Trường Nguyên: Hiện đại mà dân tộc (NXB Hội nhà văn, 2009).
- Phạm Duy Nghĩa: Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi (NXB Văn hóa dân tộc, 2012) phân tích con người trong đời sống văn hóa, tương quan văn hóa Tây Nguyên và văn hóa Hmông.
- Các bài viết nghiên cứu trường hợp: Đào Thủy Nguyên (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 2010) và Hỏa Diệu Thúy (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2012) khảo sát truyện ngắn Cao Duy Sơn từ cội nguồn văn hóa.
Tình hình nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa
1. Trên thế giới
- Trường phái Văn hóa – Lịch sử (Pháp, thế kỷ XIX): H. Taine đề xuất 3 nhân tố chi phối văn học: chủng tộc (căn cốt tâm thức tộc người), môi trường (tự nhiên và xã hội), thời điểm (sự kế thừa và sáng tạo theo tiến trình lịch sử).
- Lý thuyết biểu tượng và huyền thoại: E. Cassirer (Tư duy huyền thoại, Triết học về các hình thức biểu trưng) xem văn hóa là hệ thống ký hiệu và tiếp cận văn học qua hình thức biểu trưng.
- Ký hiệu học văn hóa: Iu. Lotman (Trường phái Tartu – Moskva) coi văn bản văn học là một văn bản văn hóa trong hệ thống ký hiệu toàn vẹn.
- Tâm lý học phân tích và cổ mẫu: S. Freud (vô thức cá nhân, bản năng dồn nén) và C.G. Jung (vô thức tập thể, hệ thống cổ mẫu - archétype lưu truyền qua biểu tượng).
- Thi pháp học văn hóa: M. Bakhtin (Sáng tác của F. Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng, 1960) nghiên cứu văn học qua lễ hội hóa trang (carnival), tính đối thoại và ngôn từ văn hóa.
- Nghiên cứu văn hóa hiện đại: Trường phái Birmingham (R. Hoggart), Frankfurt (D. Kellner), các học giả Pháp (R. Barthes); các lý thuyết nữ quyền, hậu thực dân tại Bắc Mỹ; làn sóng nghiên cứu văn hóa tại Trung Quốc cuối thập niên 1990 đầu những năm 2000 (Lý Âu Phạn, Uông Huy, Kim Nguyên Phủ, Đào Đông Phong, Vương Đức Thắng...).
2. Tại Việt Nam
- Nghiên cứu truyền thống và hiện đại: Các công trình của Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Dân, Đỗ Lai Thúy (Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực, 1992), Trần Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, 2003), Lê Nguyên Cẩn (Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, 2014), Trần Lê Bảo, Lã Nguyên, Nguyễn Văn Hạnh, Đinh Hồng Hải, Cao Kim Lan, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thị Thanh Xuân.
- Các luận án tiến sĩ liên quan: Hoàng Thị Huế (2006, Thơ Mới), Ngô Minh Hiền (2008, Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường), Lương Minh Chung (2012, Thơ Hoàng Cầm), Đỗ Thị Ngọc Chi (2013, Vũ Bằng), Nguyễn Thị Mai Hương (2014, Tiểu thuyết nông thôn sau đổi mới), Nguyễn Thị Thu Thủy (2017, Thơ DTTS MNPB sau 1986), Phùng Phương Nga (2018, Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Luận án chỉ rõ sự phân biệt giữa nghiên cứu bản sắc dân tộc trong văn học (nghiên cứu tĩnh, tìm biểu hiện có sẵn) và nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa (nghiên cứu động, dùng văn hóa làm điểm tựa để giải mã các thông điệp chiều sâu). Luận án giải quyết khoảng trống: chưa có công trình nào khảo sát toàn diện hệ thống tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 từ góc nhìn văn hóa, gắn kết giữa tiền đề địa văn hóa - nhân học văn hóa với hệ thống biểu tượng và phương thức biểu đạt nghệ thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
- Tiếp cận địa văn hóa: Dựa trên luận điểm của H. Taine về mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên, hoàn cảnh địa lý với sinh kế và đặc trưng văn hóa; xem xét môi trường MNPB như một không gian văn hóa - tâm linh định hình các biểu tượng văn học.
- Tiếp cận nhân học văn hóa: Khám phá chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận qua ba thành tố: vũ trụ quan, nhân sinh quan và căn tính văn hóa tộc người.
- Ký hiệu học văn hóa và Cổ mẫu: Vận dụng quan điểm của E. Cassirer, Iu. Lotman và C.G. Jung để xem văn bản tiểu thuyết như một văn bản văn hóa, giải mã hệ thống biểu tượng và mẫu gốc.
- Thi pháp học văn hóa: Vận dụng lý thuyết của M. Bakhtin về tính đối thoại, chất liệu văn hóa dân gian và ngôn từ nghệ thuật.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống: Xem xét toàn bộ các tác phẩm tiểu thuyết của tác giả DTTS MNPB sau 1986 trong một chỉnh thể vận động thống nhất của thể loại và vùng văn hóa.
- Phương pháp so sánh: So sánh sắc thái văn hóa giữa các tộc người (Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Giáy); so sánh tiểu thuyết sau 1986 với giai đoạn trước 1986; so sánh văn học MNPB với văn học DTTS ở các khu vực khác.
- Phương pháp liên ngành văn hóa học: Sử dụng tri thức từ nhân học, triết học, phân tâm học, ngôn ngữ học, lịch sử, tôn giáo học kết hợp phân tích liên văn bản và phân tích diễn ngôn.
- Phương pháp thống kê – phân loại: Lập danh mục, thống kê số lượng tác giả, tác phẩm, phân loại đề tài và các dạng thức biểu tượng văn hóa.
- Tiếp cận thi pháp học: Khám phá các phương thức nghệ thuật biểu đạt văn hóa trong cấu trúc tác phẩm.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Toàn bộ hệ thống tiểu thuyết đã xuất bản của các nhà văn DTTS MNPB từ sau năm 1986 đến nay, các tư liệu khảo cứu dân tộc học, văn hóa dân gian, thần thoại, phong tục tập quán và luật tục của các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường, Mông, Dao, Giáy.
Nội dung chính theo từng chương
Tổng hợp tác giả và tác phẩm tiểu thuyết DTTS MNPB theo dân tộc
| Dân tộc |
Tác giả tiêu biểu |
Tác phẩm tiểu thuyết được khảo sát |
| Tày |
Nông Minh Châu |
Muối lên rừng (1964 - tác phẩm mở đầu thể loại) |
|
Vi Hồng (11 cuốn sau 1986) |
Đất bằng (1980), Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đá rơi (1985), Người trong ống, Gã ngược đời, Vào hang, Lòng dạ đàn bà, Đi tìm giàu sang, Dòng sông nước mắt, Ái tình và kẻ hành khất, Tháng năm biết nói, Phụ tình, Chồng thật vợ giả, Đọa đày |
|
Hoàng Luận (7 cuốn) |
Thao thức vùng đồi, Nắng tím, Ngõ nhỏ ven rừng, Làng một người, Bức tường xanh, Cây không lá, Đất ống |
|
Triều Ân (4 cuốn) |
Nắng vàng bản Dao, Nơi ấy biên thùy, Dặm ngàn rong ruổi, Trên vùng mây trắng |
|
Ma Trường Nguyên (7 cuốn) |
Mũi tên ám khói, Gió hoang, Tình xứ mây, Trăng yêu, Bến đời, Rễ người dài, Mùa hoa hải đường |
|
Cao Duy Sơn (6 cuốn) |
Người lang thang, Cực lạc, Hoa mận đỏ, Đàn trời, Chòm ba nhà, Biệt cánh chim trời |
|
Hoàng Quảng Uyên (3 cuốn) |
Mặt trời Pác Bó, Giải phóng, Trông vời cố quốc |
|
Hữu Tiến (2 cuốn) |
Dòng đời, Hữu hạn |
|
Hà Lâm Kỳ (1 cuốn) |
Gió Mù Căng |
|
Hoàng Hữu Sang (1 cuốn) |
Vực thuồng luồng |
|
Chu Thanh Hương (1 cuốn) |
Hoa bay |
| Thái |
Vương Trung (2 cuốn) |
Mối tình mường Sinh (1994), Đất bản quê cha (2007) |
|
Cầm Hùng (1 cuốn) |
Cơn lốc đen (2009) |
|
Thái Tâm (1 cuốn) |
Tiếng thét Tồng Lôi (2014) |
| Mường |
Hà Trung Nghĩa (3 cuốn) |
Lửa trong rừng sa mu, Bão từ hai phía, Gió bụi nhân gian |
| Nùng |
Địch Ngọc Lân (2 cuốn) |
Hoa mí rừng, Ngôi đình bản Chang |
| Mông |
Mã Anh Lâm (1 cuốn) |
Đối mặt phía nửa đêm |
| Giáy |
Lù Dín Siềng (2 cuốn) |
Dưới chân núi Tiên, Vua phỉ |
Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các chặng đường nghiên cứu về văn xuôi, tiểu thuyết DTTS MNPB và lịch sử hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa trong và ngoài nước. Tác giả phân tích những đóng góp của các nhà nghiên cứu đi trước (Lâm Tiến, Trần Thị Việt Trung, Cao Thị Hảo, Đào Thủy Nguyên, Dương Thu Hằng, Phạm Duy Nghĩa), đồng thời xác lập cơ sở lý luận từ các trường phái quốc tế (H. Taine, E. Cassirer, Iu. Lotman, C.G. Jung, M. Bakhtin) để chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu mà luận án hướng tới.
Chương 2. Những tiền đề tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội và diện mạo tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986
Chương này phân tích các cơ sở hiện thực, nhân học và diện mạo tác giả, tác phẩm qua các nội dung:
1. Chủ thể văn hóa và các quan niệm nhân sinh, tín ngưỡng
- Vũ trụ quan và nhân sinh quan:
- Quan niệm luân hồi, nhân quả tồn tại phổ biến ở các tộc người.
- Người Thái: Quan niệm thế giới 5 tầng (cao nhất là mường hỗn mang; mường thần linh do Then Luông cai quản; mường trăng, sao, mây, gió; mường của con người và muôn loài; mường tầng đáy của người tí hon ăn đất). Tín niệm về linh hồn gồm "phi khoăn" (hồn khi sống) và "phi hươn" (ma nhà, ma tổ tiên khi chết).
- Người Giáy: Quan niệm 3 miền thế giới (miền trời sung sướng của tổ tiên; miền giữa của con người; miền thấp tăm tối của người tí hon). Huyền thoại nguồn gốc "Giáy hí hanh" (Giáy mùn thớt) mang mặc cảm về thân phận lép vế.
- Người Mường: Quan niệm 3 tầng 4 thế giới (Mường Trời, Mường Pưa trên mặt đất, Mường Pưa tín ở tầng đất dưới và Mường Vua khú dưới nước).
- Người Mông: Quan niệm cái chết là sự hoàn thành phận sự trần gian để về với tổ tiên; niềm tin vào kiếp sau giải thích hành vi tìm đến lá ngón tự vẫn khi rơi vào bế tắc cùng cực.
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
- Người Tày: Thờ tổ tiên họ nội, bàn thờ đặt tại gian chính giữa trang trọng nhất của ngôi nhà.
- Người Nùng: Thờ tổ tiên họ nội 7 đời, nhưng chỉ cúng từ đời ông bà trở lại; từ cụ kị trở lên coi là "phj slườn" (ma nhà) bảo hộ gia súc, thờ ngoài cửa; kết hợp thờ bà Mụ, ma bếp, ma ngoài sàn.
- Người Thái và người Mường: Cùng có tục thờ cả họ nội và họ ngoại (người Thái thờ nội trong nhà, ngoại ở cổng; người Mường thờ nội ở gian khách voóng, ngoại ở gian cạnh bếp và kiêng hướng chân về gian thờ).
- Người Dao: Thờ tổ tiên 5 đời trực hệ, xem tổ tiên là thần bản mệnh; bàn thờ đặt nơi trang nghiêm hướng về đất tổ Dương Châu.
- Người Mông: Bàn thờ đặt ở vách tường gian giữa nhà, là "chỗ nghỉ chân của tổ tiên", mang tính thiêng và chỉ đàn ông (chủ nhà) mới được thực hiện nghi lễ.
- Tín ngưỡng vật tổ (totem) và linh vật: Người Dao thờ Bàn Vương (Bàn Hồ, biểu tượng chó đá); người Mường thờ Cóc (gọi mưa) và kiêng ăn thịt rùa (con vật có ơn chỉ cách làm nhà sàn và mách lối lên vua trời).
- Căn tính văn hóa tộc người:
- Người Tày: Lòng tự tôn dân tộc cao, tư duy duy lý, cụ thể, chủ động thích nghi, lạc quan, trọng tình nghĩa cộng đồng qua tục "kết tồng".
- Người Thái: Nền văn hóa âm tính, sống trọng tình nghĩa (thể hiện qua truyện thơ Tiễn dặn người yêu), hướng nội, hiền hòa, đề cao vai trò phụ nữ.
- Người Mường: Lối sống thực tế thể hiện qua phương châm "Ăn cốt tươi, chơi cốt thật".
- Người Mông và Dao: Tâm thức thiên di, mặc cảm mồ côi, lưu vong do lịch sử di chuyển tìm đất sống; đi liền với đó là khát vọng tự do, bản lĩnh kiên cường, cá tính mạnh mẽ và hệ thống "cái lí của người Mông".
2. Diện mạo tiểu thuyết sau 1986
- Về đội ngũ tác giả: Dân tộc Tày chiếm ưu thế tuyệt đối với ba thế hệ nhà văn (thế hệ mở đường: Vi Hồng, Triều Ân, Hoàng Luận, Ma Trường Nguyên; thế hệ thứ hai: Hữu Tiến, Hà Lâm Kỳ, Cao Duy Sơn; thế hệ thứ ba: Chu Thanh Hương). Các dân tộc khác có số lượng tác giả hạn chế hơn: Thái (Vương Trung, Cầm Hùng, Thái Tâm), Mường (Hà Trung Nghĩa), Nùng (Địch Ngọc Lân), Mông (Mã Anh Lâm), Giáy (Lù Dín Siềng).
- Về hệ thống đề tài:
- Đề tài lịch sử, đấu tranh cách mạng (cảm hứng sử thi): Phản ánh kháng chiến chống Pháp, bảo vệ biên cương và xây dựng quê hương (Gió Mù Căng, Vực thuồng luồng, Dưới chân núi Tiên, Ngôi đình bản Chang, Hoa mí rừng, Trên vùng mây trắng, Tiếng thét Tồng Lôi, bộ ba tiểu thuyết về Chủ tịch Hồ Chí Minh của Hoàng Quảng Uyên: Mặt trời Pác Bó, Giải phóng, Trông vời cố quốc).
- Đề tài xây dựng cuộc sống mới và biến động kinh tế - xã hội: Phản ánh mặt trái kinh tế thị trường, tệ nạn tham nhũng, phá rừng, tha hóa đạo đức cán bộ (Vào hang, Gã ngược đời, Người trong ống của Vi Hồng; Đàn trời của Cao Duy Sơn; Cơn lốc đen của Cầm Hùng; Mũi tên ám khói, Gió hoang của Ma Trường Nguyên; Đất bản quê cha của Vương Trung; các tiểu thuyết nông thôn miền núi của Hoàng Luận).
- Đề tài thế sự, đời tư, số phận cá nhân: Khám phá bi kịch của người phụ nữ và những kiếp người nhỏ bé lang thang vượt qua định kiến (Nắng vàng bản Dao, Nơi ấy biên thùy, Dặm ngàn rong ruổi của Triều Ân; Cực lạc, Hoa mận đỏ, Người lang thang, Chòm ba nhà của Cao Duy Sơn; Dòng đời, Hữu hạn của Hữu Tiến).
Chương 3. Hệ thống biểu tượng trong tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986
Chương này thực hiện nhiệm vụ khảo sát, phân loại và giải mã hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm. Biểu tượng trong tiểu thuyết DTTS MNPB được soi chiếu từ điều kiện địa văn hóa (núi rừng, hang đá, thung lũng, dòng sông, cây cối, cỏ cây) và căn tính tộc người, chuyển tải ký ức văn hóa và chiều sâu tâm linh của đồng bào miền núi.
Chương 4. Một số phương thức biểu đạt văn hóa trong tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986
Chương này tập trung làm rõ ba phương thức biểu đạt nghệ thuật chủ yếu:
- Nghệ thuật sử dụng huyền thoại: Tái hiện và cải biến các truyện kể dân gian, thần thoại, truyền thuyết nhằm tạo dựng không khí tâm linh, kỳ ảo cho tác phẩm.
- Nghệ thuật sử dụng các mô típ (motif): Khai thác các mô típ truyền thống trong văn hóa dân gian (mô típ thiên di, mô típ vượt thác, mô típ thử thách, mô típ tình duyên trắc trở) để cấu trúc hóa cốt truyện.
- Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ mang dấu ấn tộc người: Vận dụng lối nói ví von, so sánh giàu hình ảnh gắn với tư duy trực quan; đưa hệ thống thành ngữ, tục ngữ và lớp từ ngữ dân tộc vào văn xuôi để tạo nên giọng điệu và sắc thái địa văn hóa đặc thù.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Luận án là công trình đầu tiên khảo sát một cách hệ thống, chuyên sâu toàn bộ diện mạo tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 dưới góc nhìn văn hóa học liên ngành.
- Xác lập khung phân tích tích hợp giữa lý thuyết địa văn hóa, nhân học văn hóa (vũ trụ quan, nhân sinh quan, căn tính tộc người), ký hiệu học văn hóa và thi pháp học văn hóa trong việc giải mã văn bản văn xuôi hiện đại.
- Hệ thống hóa và phân tích các mã văn hóa, hệ thống biểu tượng và phương thức biểu đạt nghệ thuật đặc thù của các nhà văn dân tộc thiểu số.
Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng
- Phục dựng bức tranh toàn cảnh về đội ngũ tác giả tiểu thuyết thuộc các dân tộc Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Giáy từ sau 1986 đến nay.
- Cung cấp tư liệu khoa học, hệ thống tác phẩm và dẫn chứng xác thực phục vụ công tác nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số Việt Nam.
- Làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên và học viên cao học tại các trường đại học, cao đẳng trong giảng dạy các học phần Văn học dân tộc thiểu số và Văn hóa học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào việc giải mã văn bản từ góc nhìn văn hóa nên chưa đi sâu phân tích toàn diện các yếu tố hình thức thi pháp học thuần túy (như kỹ thuật trần thuật hiện đại, cấu trúc thời gian nghệ thuật phi tuyến tính). Bên cạnh đó, số lượng tác phẩm tiểu thuyết của một số dân tộc (Mông, Giáy, Mường, Nùng) còn rất khiêm tốn so với dân tộc Tày, gây ra sự chênh lệch nhất định về dung lượng khảo sát giữa các tộc người.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh tiểu thuyết DTTS MNPB với tiểu thuyết của các nhà văn DTTS khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ; nghiên cứu tiếp nhận văn học DTTS trong nhà trường và trong đời sống cộng đồng đương đại.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Giảng viên, sinh viên, học viên sau đại học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn hóa học và Nhân học văn hóa.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và các nhà quản lý, hoạch định chính sách bảo tồn văn hóa vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Hệ thống tư liệu về nhân sinh quan, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, totem và căn tính văn hóa của các dân tộc Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Dao, Giáy tại Chương 2.
- Bảng tổng kết diện mạo, danh mục tác phẩm và hệ thống đề tài của tiểu thuyết DTTS MNPB sau 1986 tại Chương 2.
- Khung lý thuyết giải mã biểu tượng và phương thức biểu đạt nghệ thuật gắn với ngôn ngữ dân gian tại Chương 3 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác phẩm tiểu thuyết đầu tiên của người dân tộc thiểu số MNPB là tác phẩm nào và ra đời vào thời gian nào?
Tác phẩm tiểu thuyết đầu tiên là cuốn Muối lên rừng của nhà văn dân tộc Tày Nông Minh Châu, xuất bản năm 1964. Tác phẩm này đánh dấu mốc hoàn thiện về mặt thể loại trong tiến trình phát triển của văn học DTTS miền núi phía Bắc.
2. Sự khác biệt giữa nghiên cứu bản sắc dân tộc trong văn học và nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa là gì?
Nghiên cứu bản sắc dân tộc mang tính chất tĩnh tại, chủ yếu tìm hiểu và chỉ ra những biểu hiện sẵn có của văn hóa trong tác phẩm. Trong khi đó, nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa mang tính chất động, lấy văn hóa làm điểm tựa liên ngành để soi chiếu, lý giải nguồn gốc xã hội, cắt nghĩa tâm thức cộng đồng và giải mã các thông điệp văn hóa ẩn sâu dưới bề mặt văn bản.
3. Những dân tộc thiểu số nào ở MNPB đã có tác giả sáng tác tiểu thuyết được khảo sát trong luận án?
Luận án khảo sát tiểu thuyết của tác giả thuộc 6 dân tộc thiểu số: Tày (Nông Minh Châu, Vi Hồng, Hoàng Luận, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Cao Duy Sơn, Hoàng Quảng Uyên, Hữu Tiến, Hà Lâm Kỳ, Chu Thanh Hương), Thái (Vương Trung, Cầm Hùng, Thái Tâm), Mường (Hà Trung Nghĩa), Nùng (Địch Ngọc Lân), Mông (Mã Anh Lâm) và Giáy (Lù Dín Siềng).
4. Ba nhóm đề tài chính trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 là gì?
- Đề tài lịch sử, đấu tranh cách mạng: Tái hiện các cuộc kháng chiến, tinh thần đoàn kết dân tộc và sự đóng góp của đồng bào miền núi theo cảm hứng sử thi.
- Đề tài xây dựng cuộc sống mới và biến động kinh tế - xã hội: Phản ánh quá trình đổi mới, xóa đói giảm nghèo gắn liền với mặt trái của kinh tế thị trường, vấn nạn tham nhũng, phá rừng và tha hóa đạo đức.
- Đề tài thế sự, đời tư, số phận cá nhân: Đi sâu vào bi kịch cá nhân, thân phận phụ nữ miền núi và những số phận bé nhỏ tìm cách vượt thoát hủ tục để khẳng định nhân phẩm.
5. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Tày và người Nùng có điểm gì khác nhau theo trình bày của luận án?
Người Tày thờ cúng tổ tiên họ nội tại vị trí trung tâm, trang trọng nhất của gian chính trong ngôi nhà. Người Nùng cũng theo tộc hệ họ nội bảy đời nhưng chỉ đặt bàn thờ cúng từ đời ông bà trở lại trong nhà; các đời từ cụ kị trở lên được quan niệm đã biến thành "phj slườn" (ma nhà) – vị thần bảo vệ nhà cửa và gia súc, được lập bàn thờ riêng ở bên ngoài cửa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986 từ góc nhìn văn hóa" là công trình nghiên cứu toàn diện về thể loại tiểu thuyết của các cây bút DTTS khu vực miền núi phía Bắc thời kỳ Đổi mới. Bằng việc vận dụng khung lý thuyết liên ngành giữa địa văn hóa, nhân học văn hóa, ký hiệu học và thi pháp học, luận án đã làm rõ sự chi phối của môi trường tự nhiên, vũ trụ quan, nhân sinh quan và căn tính tộc người đối với tư duy nghệ thuật của các nhà văn. Công trình không chỉ hệ thống hóa diện mạo đội ngũ sáng tác và tác phẩm mà còn giải mã sâu sắc hệ thống biểu tượng và phương thức ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, đóng góp nguồn tư liệu khoa học có giá trị cho nghiên cứu và giảng dạy văn học dân tộc thiểu số Việt Nam.