Chương 1 NGUYÊN MINH CHÂU- NHÀ VĂN CHIẾN SĨ- NGƯỜI MỞ ĐƯỜNG CHO MỘT GIAI ĐOẠN VĂN HỌC MỚI 1. Nguyễn Minh Châu- cây bút của mọi miền hậu phương- tiền tuyến Chúng ta vẫn thường dành cho nhà văn Nguyễn Minh Châu một cái tên gọi vừa giản di lại vừa gần gũi thân thương: nhà văn chiến sĩ. Một người chiến sĩ luôn biết hoà mình vào trong mọi hoàn cảnh của đất nước và chọn cho mình một lẽ sống cao đẹp. Lý tưởng tốt đẹp là điều mà ngòi bút đũng cảm của Nguyễn Minh Châu luôn hướng tới và thé hiện nó trên từng trang viết.
Cả cuộc đời nhà văn gắn bó với quần chúng nhân dân với cách mạng. Chính vì vậy, mà hơn ai hết, ông hiểu được cuộc sống của người dân, những tâm tư tinh cảm của họ, ngay cả đến những biến động nhỏ nhất trong tâm hồn họ; hiểu được cuộc sống của người lính, của chiến tranh cách mạng. Và đây cũng chính là mảnh đất nuôi dưỡng tâm hồn và ngòi bút Nguyễn Minh Châu. Nguyễn Minh Châu sinh ra trong một gia đình nông dân ở một vùng quê rất nghèo của Miền Trung: làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Cho đến sau này đi nhiều nơi trên đất nước mà Nguyễn Minh Châu vẫn luôn bị ám ảnh bởi cái dữ dội, cái nghèo khó, cái hoang sơ của quê hương mình. Gắn bó máu thịt với làng quê, am hiểu sâu sắc cuộc sống của người dân quê mình cho nên Nguyễn Minh Châu đã có những tác phẩm thực sự gây xúc động lòng người đọc với những trang viết nặng ân tình về làng quê ông. Tiểu thuyết đầu tay Cửa sông của Nguyễn Minh Châu là một bức tranh sống động, đầy 4p tam lòng yêu thương và cảm phục của nhà văn đối với người dân quê ông. Những con người lam lũ nhưng chất phác và giàu lòng yêu nước, yêu cách mạng va coi trọng đạo li.
Nguyễn Minh Châu đã dành cả cuộc đời mình để đi tới mọi miền của đất nước, từ Nghệ An ra Hải Phòng, Điện Biên Phủ, đến Quảng Bình, Quảng 10 Luận văn thạc sĩ Trân Thị Thái Trị, Đường Chín, Nam Lào. Và gắn cuộc đời nhà văn với nhiều sự kiện cách mạng của dân tộc. Người ta thấy Nguyễn Minh Châu khi thì trong cái áo trấn thủ “36 đường gian khổ” và cái mũ tre đơn sơ trong đoàn quân từ Việt Bắc trở về tiếp quản thủ đô, có khi lại thấy nhà văn trong bộ quần áo com-lê tham gia một đoàn nhà văn đi nước ngoài, có khi lại thấy nhà văn diện vào người chiếc áo sơ mi trắng tươm, chiều hè đạp xe thong thả trên đường Thanh Niên. Nhưng ấn tượng nhất trong lòng bạn đọc với hình ảnh Nguyễn Minh Châu có lẽ chính là một anh bộ đội.
Trong những năm chiến tranh, hoàn cảnh đất nước đã đưa nhà văn đến gần gũi hơn với những người lính, với cách mạng. Cũng chiếc ba lô trên vai, Nguyễn Minh Châu lên đường tham gia các cuộc chiến. Năm 1972, tiểu thuyết Dau chân người lính của Nguyễn Minh Châu ra đời. Trong tác pham này chúng ta thấy có bước chân hành quân của sư đoàn đi trên “đường mòn Hồ Chí Minh”, có trận đánh Khe Sanh nổi tiếng.Tác phẩm là kết qua của những ngày đi thực tế, lăn lộn ở chiến trường của nhà văn.
Cái anh chàng tên Khuê ấy là con người thực, “thuc đến nổi cho đến cái tên thực của anh ấy tôi cũng đã chép luôn vào sách” [37, 95]. Đó là một chiến sĩ gia đình làm nghề chạm bạc. Phần lớn những điều mà nhà văn viết trong tác phẩm chính là do được Khuê kể cho nghe. Đó là con người thực mà nhà văn đã gặp trong số rat đông những chang trai trẻ từng chen chúc nhau khoác súng di trong rừng Trường Sơn.
Nhà văn tâm sự: “Tôi có kinh nghiệm mỗi chuyến đi thực tế mình chỉ cần có được cái may mắn và vinh dự, cuộc đời trao cho mình lấy một hai con người nhu thé ay, họ đã sang tac cho minh một nửa, lam hộ cai công việc nặng nhọc, vat vả cho mình một nửa, họ như cái vạch noi gitta doi sống và nha văn” [37, 96]. Năm 1975, với cuốn số ghi chép trong tay, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã có mặt ở Huế, Sài Gòn và nhiều tỉnh phía Nam khi vừa được giải phóng. Hoà bình lập lại nhưng đất nước ta đang phải đối mặt với những khó khăn và phức tạp mới, phải giải quyết những hậu quả của chiến tranh dé lại trong đó 11 Luận văn thạc sĩ Trân Thị Thái co sự gắn liền, thống nhất hai miền Nam, Bắc mà trước đó đã phát triển theo hai hướng khác nhau.Năm 1977, tiểu thuyết Miễn cháy của nhà văn ra đời là kết quả của cuộc hành trình gian khổ ấy của nhà văn. Trong Mién cháy, Nguyễn Minh Châu đã tập trung thé hiện cái thời điểm chuyển giao của đất nước từ thời chiến sang thời bình, đặc biệt là sự biến đổi xã hội đang diễn ra mạnh mẽ ở Miền Nam.
Năm 1983, tập truyện ngăn Người đàn bà trên chuyển tàu tốc hành ra đời. Trong một cuộc thảo luận do báo văn nghệ tổ chức, nha văn Nguyễn Minh Châu đã tâm sự: “Saw chiến tranh, tôi đã di thực tế nhiêu lan, gặp nhiêu đồng chí chỉ huy và chiến sĩ cũ chuẩn bị cho một cuốn tiểu thuyết mà bối cảnh là cuộc chiến dau anh hùng ở thành cỗ Quảng Trị năm 1972. Nhưng khi bắt tay vào làm thì song song với những vấn đề chiến tranh chống Mỹ, cái “đời sống của ngày hôm nay” nó bat tôi phải quan tâm. Chắc các đồng chí cũng thấy những biểu hiện của lối sống, đạo đức và thậm chí là cả quan niệm sống của những con người xung quanh ta- nhất là thanh niên- khiến chúng ta không thé không quan tâm và lo lắng”.
Nhà văn dành nhiều trang viết của mình hơn cho giải đất Miền Trung khói lửa. Trong những ngày cuối đời gặp gỡ nhà văn Nguyễn Đăng Mạnh, nha văn Nguyễn Minh Châu đã kê: “Nếu rời phật cho tôi sống, tôi sẽ viết về cái làng Thơi của tôi. Tôi có viết một it trong Manh dat tình yêu nhưng viết còn lành quá. Quê tôi làng Quỳnh Hải, thôn Kẻ Thơi, vùng Lạch Thơi, Lạch Quen.
Dữ dội lắm. Dân Lạch Thơi nhiễu nơi sợ vì chỉ có uong ruou va danh nhau. Rượu say, ngủ luôn ở bãi biển. Mỗi đêm, những người đàn bà lại phải di “nhặt” chong về.
Cả làng làm nghề chai lưới, chang học hành gì cả. Tôi còn nhớ ông Điểm moi khi say rượu, cởi truông nông nông, quan vat lên vai, di vào trong xóm, lấy quan đánh chó. Gặp ai cũng chửi tuốt. Nhưng vớ phải một mu bán banh da ở chợ làng con dit đội hon.
Mu tuột váy ra, lấy váy đánh vào mặt. Lão Điểm phải thua. Có người uống rượu say, lấy mảnh thuỷ tinh (dùng dé cạo tỉnh những thanh giang chẻ lạt) rạch ngang bụng, ruột xổ ra. Trẻ con chúng tôi lay rô đựng ruột cho ông ta, buộc lại rồi dua di bệnh viện.
12 Luận văn thạc sĩ Trân Thị Thái Ông ta chết. Có một chuyện cũng lạ: một anh đi biển gặp bão, chết ngoài khơi xa, xác trôi về, cứ trôi quanh co theo con Lạch Thơi mà vào đến tận cửa nhà minh mới dừng lại. Mùa bão, sau mỗi trận bão, người làng lại khóc như rỉ vì có người nhà chết ngoài biển. Một cái làng vô học, thích ai thì nấy đúng, chang biết phải trái gì cả.
Tôi hồi nhỏ cũng lười học, chỉ ham chơi.Lão Khing là kiểu người dân làng tôi đấy. Nếu còn sống, tôi sẽ còn viết tiếp truyện lão Khing. Trong Mảnh đất tình yêu, nhà van đã viết về quê hương, về mảnh dat đã sinh ra và che chở, nuôi dưỡng những con người lao động và những chiến sĩ cách mạng. Nhà văn miêu tả cuộc sống và số phận từng con người, từng gia đình trong mối quan hệ với làng xóm, quê hương, với vận mệnh của đất nước, với thiên nhiên gần gũi nhưng cũng rat dữ dan: “Sau lưng tôi vẫn là sông, là phd, là nhà cửa và thôn xóm am cúng, là cuộc song lâu đời và bat diệt của con người với những con sóng đời vô hình day nghiệt ngã - và trước mặt tôi là biển, là đại dương cuông nộ luôn ghào thét và de doa’.
Đúng như mong đợi, vào những ngày cuối năm 1987, đầu năm 1988, Nguyễn Minh Châu về quê theo lời mời của huyện uỷ Quỳnh Lưu lấy tư liệu và trở ra, ông bắt tay vào viết truyện vừa Phiền chợ Giái. Khi biết được mình khó lòng mà chống lại được định mệnh, lúc lâm bệnh nặng nhà văn đã cô gang dé viết tiếp 30 trang bản thảo nữa và hoàn thành truyện vừa Phién chợ Giát. Phiên chợ Giát là tác phâm được kết thúc trên giường bệnh khi nha văn đang phải chiến đấu với căn bệnh ung thư máu ở viện Quân y 108. Và tác phẩm được nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá là “một tuyệt tác của văn học hiện dai”.
Trong Khách ở quê ra, Nguyễn Minh Châu viết về cái làng của lão Khúng, một cái làng vừa cụ thê, lại vừa có ý nghĩa tượng trưng: “Làng anh, cái lang Khoi nửa biển nửa đông, sia chân từ trên tàu hỏa xuống, phải di gan chục cây số về phía biển mới thấu và chỉ có một cách cuốc bộ ấy, nó có một sức nhai người ghê gớm. Nó nghiên nát những con người ra rồi vắt nặn theo cái hình thù đã có từ nghìn đời cua nó, roi bat những con người ay phải song 13 Luận văn thạc sĩ Trân Thị Thái theo cái luật cũng đã coi từ nghìn đời nhưng không bao giờ viết thành văn cua no” [8,396]. Nguyễn Minh Châu đã làm việc, đã viết, đã công hiến cho đến giây phút cuối cùng của đời mình. Một con người suốt cuộc đời lao động và sáng tạo nghệ thuật.
Cho đến những ngày cuối cùng của đời mình trên giường bệnh, nhà văn vẫn kê từng trang giấy lên trên chiếc gối để viết. Nhà văn đã dốc hết đến cả hơi thở cuối cùng của mình cho trang viết. Nguyễn Minh Châu là một tấm gương cho quá trình lao động nghệ thuật không mệt mỏi. Sự ra đi của nhà văn là một sự mất mát to lớn đối với nền văn học dân tộc.
Thật khó dé chúng ta có thể kể hết được hành trình nhọc nhan của nhà văn chiến sĩ Nguyễn Minh Châu. Nhưng những gi mà ông dé lại rất xứng đáng dé chúng ta khâm phục. Đôi mới- khát vọng riêng của nhà văn và những yêu cầu chung của văn học và thời đại 2.