Chương 1 HAI CHẶNG ĐƯỜNG SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG TRONG SỰ VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 TỚI NAY 1. Hai chặng đường của tiểu thuyết Việt Nam từ 1945 tới 1985: 1. Chặng đường 1945 - 1985: Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công đã giải phóng dân tộc ta khỏi ách nô lệ. Nhưng khi vừa giành được chủ quyền thì cũng là lúc toàn dân tộc lại phải đương đầu với quân xâm lược mới: Đế quốc Mĩ.
Đối với văn học, nó đã mở ra một giai đoạn mới, một hướng nhìn, một lối đi đúng đắn cho một thế hệ các nhà văn. Văn học giai đoạn này là văn học chiến tranh cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn anh chị em văn nghệ sĩ: “Văn hóa, văn nghệ là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Nhiệm vụ của các nhà văn lúc này là ca ngợi, động viên tinh thần chiến đấu của toàn dân tộc.
Một nền văn học mới: “Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học cách mạng”[13] ra đời. Một thế hệ các nhà văn trưởng thành đến độ chín cả về tuổi đời cũng như tuổi nghề, hàng loạt những cây bút mới đã thể hiện được năng lực của mình. Họ là những nhà văn đi đầu cho “Một nền văn nghệ đậm chất cách mạng, tươi mới, sống động, đậm chất hiện thực”[13]. Các tiểu thuyết trong thời kỳ này tập trung chủ yếu ở chủ đề: sức mạnh và tinh thần yêu nước của nhân dân.
Đề tài được đề cập tới hết sức đa dạng và phong phú. Coi trọng và bám sát hiện thực là điều mà các nhà văn chú ý hướng tới vì hiện thực là nguồn cảm hứng, là chất liệu để xây dựng lên tác phẩm. Đây là nét độc đáo của nền “nghệ thuật anh hùng, là dáng đứng Việt Nam, tầm nhìn của thời đại”[13]. Về nghệ thuật, tiểu thuyết giai đoạn này mang đậm cảm hứng sử thi lãng mạn ngợi ca.
Lã Nguyên nhận xét: “. các tác phẩm văn xuôi đầy ắp chất thơ và câu văn xuôi của hầu hết các nhà văn luôn luôn ngân vang âm hưởng trữ tình” [67]. Các nhà văn xây dựng thành công những chân dung điển hình, những tấm gương anh hùng tiêu biểu của dân tộc. Điều này không những có giá trị nhận thức, thẩm mỹ lớn mà còn có tác dụng giáo dục nhiều thế hệ.
Quy mô tác phẩm hoành tráng phản ánh được cả một quá trình chiến đấu, diễn biến tâm lý, tình cảm của nhân dân dành cho cách mạng. Có sự hòa quyện giữa tiểu thuyết và kí trong nhiều sáng tác. Tuy nhiên lồng vào những ghi chép vẫn là những nhân vật điển hình xuyên suốt trong tác phẩm với những trăn trở, suy tư, những hành động, những suy tính, những diến biến trong nội tâm khiến cho tác phẩm vừa mang tính thời sự nóng hổi, vừa có diễn biến tâm lý, hành động của các nhân vật. Một loạt những tác phẩm được đánh giá cao về nội dung cũng như nghệ thuật ra đời đáp ứng được yêu cầu: Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Sống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng), Trước giờ súng nổ (Lê Khâm), Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Hòn đất (Anh Đức), Vùng mỏ (Võ Huy Tâm), Cao điểm cuối cùng (Hữu Mai).
Nhận xét về sự đa dạng về phong cách thể hiện của tiểu thuyết giai đoạn này, Giáo Sư Phan Cự Đệ viết: Nguyễn Đình Thi chúng ta có được vẻ đẹp nhẹ nhõm, thanh thoát, trong sáng, ở Nguyên Hồng là cái xù xì gân guốc, phong phú đến mức rập rạp. Trong nhà văn Tô Hoài có cái hóm hỉnh, thông minh, tinh tế và thơ mộng. Văn của Nguyễn Khải có cái tỉnh táo, sắc sảo đầy tính chất phát hiện. Nguyễn Huy Tưởng có cái đôn hậu, ấm áp điểm vẻ huy hoàng, tráng lệ, cái dân gian mà hiện đại của Nguyễn Thi, hiện đại mà cổ kính của Nguyễn Tuân, hùng tráng thi vị của Nguyễn Trung thành, trữ tình thiết tha đến độ say đắm của Anh Đức, cái trí tuệ hài hòa cân đối đến mức cổ điển của Phan Tứ[15, tr.
Tất cả đã tạo nên bức tranh phong phú, đa dạng cho văn học giai đoạn này. Văn học 30 năm chiến tranh có thể coi là một biên niên sử mà ở đó ta không chỉ quan sát được số phận dân tộc mà còn thấu hiểu số phận của mỗi cá nhân. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đánh giá rằng “Văn học cách mạng 1945 - 1975 là một giai đoạn lịch sự không lặp lại của văn học dân tộc. Nó là một hiện tượng nghệ thuật sáng ngời, là chiếc cầu nối liền văn minh dân tộc từ quá khứ, hướng tới tương lai”[81].
Sau 1975, chiến tranh kết thúc thắng lợi văn học bước sang thời kì hậu chiến. Tuy văn học vẫn “trượt theo quán tính của giai đoạn trước”[65] nhưng đã diễn ra sự vận động ở chiều sâu với những suy tư, trăn trở, tìm tòi âm thầm mà quyết liệt ở những nhà văn có trách nhiệm với ngòi bút của mình. Nhiều tác giả tiếp tục hướng vào đề tài chiến tranh cách mạng nhưng với những lý giải mới về cuộc chiến tranh dân tộc. Cuộc chiến được nhìn nhận một cách toàn diện ở nhiều góc độ, sâu sắc và nhân bản hơn.
Các nhà văn đào sâu vào những góc khuất của chiến tranh, đặc biệt nhấn mạnh tính chất ác liệt, thảm khốc của cuộc chiến đấu, sự hy sinh mất mát to lớn của con người đặc biệt những người bước ra từ cuộc chiến. Nhân vật người lính được khắc họa ở chiều sâu nội tâm, được đặt trong nhiều mối quan hệ đặc biệt là quan hệ với chính mình, được soi rọi từ nhiều góc độ ý thức, vô thức, bản năng, tốt xấu. Thân phận của con người sau chiến tranh đặc biệt là người phụ nữ khi tuổi xuân đã mất, tình yêu tan vỡ. hay những món nợ trong chiến tranh, những thất bại trên chiến trường, những kẻ đào ngũ, những cái chết thảm bất ngờ.
được khai thác nhiều trong các tác phẩm. Nguyễn Minh Châu được coi là nhà văn dẫn đầu, mở đường cho một giai đoạn văn học mới. Đề tài mà nhà văn thường đề cập là số phận người lính sau chiến tranh. Ông nhận xét: “Thời kỳ này diễn ra một cuộc đối chứng giữa nhân cách và phi nhân cách, giữa hoàn thiện và chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng và những khoảng bóng tối còn rơi rớt bên trong tâm hồn của mỗi con người”[52, tr.
Hàng loạt tác phẩm tiêu biểu về đề tài này như: Những người đi từ trong rừng ra, Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành. Đầu những năm 80, sự khủng hoảng khó khăn về kinh tế dẫn tới sự phức tạp trong xã hội, sự phân cực xấu tốt, trắng đen, thiện ác trong con người. Nhiều nhà văn đã mạnh dạn đưa nhân vật đi vào chính cuộc sống hôm nay, đặt nhân vật trong nhiều tình huống, hoàn cảnh khác nhau để nhân vật tự xoay sở, tự dằn vặt nội tâm. Chặng đường từ 1985 tới nay: Năm1986 được coi là dấu mốc đổi mới của văn học Việt Nam với hàng loạt sự kiện: Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện mọi mặt của đất nước, tạo đà cho văn học nghệ thuật đổi mới, phát triển toàn diện trên nền những gì đã đạt được; nghị quyết 05 của bộ chính trị đã chỉ rõ: “Văn học nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa”[8], cuộc gặp gỡ giữa tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với anh em văn nghệ sĩ.
thực sự đã thổi một luồng gió mới cho văn học, tác động tới cách nghĩ, cách nhìn của giới văn nghệ sĩ. Quan điểm của Đảng ta về văn học: “Văn học là cuộc sống, là sự đấu tranh của các nhà văn cho một cuộc sống tươi đẹp, đấu tranh bằng tác phẩm văn học”[8] do đó các nhà văn cần “Phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật phát triển lên một bước”[8]. Văn xuôi trước sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa mở ra trên nhiều lĩnh vực, đang tìm cách tiếp cận với mọi vấn đề của cuộc sống. Trên tinh thần “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật, nhận thức lại hiện thực”, “Tư tưởng tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật.
Bởi vì sự thật luôn luôn là linh hồn của nghệ thuật chân chính” [72], Đảng đã tạo điều kiện cho các nhà văn tự “cởi trói” cho chính mình, thoát khỏi một giai đoạn văn học ngập tràn cảm hứng ngợi ca. Thời buổi kinh tế thị trường, văn chương càng mang nặng trọng trách. Văn chương cần khai phá, đào sâu, phát hiện chính xác hơn những mẫu người mới, những suy nghĩ cảm nhận mới, lên tiếng cảnh báo về sự xuất hiện của những cái xấu, cái ác đang tồn tại và sự cần thiết phải bênh vực, bảo vệ phẩm giá của con người. Làm được điều này là nhờ vào tính dân chủ trong văn học.
Năm 1986 đã đặt dấu mốc cho sự phát triển của văn học, đưa văn học tiếp tục bước những bước đi vững chắc, mạnh mẽ hơn. Khuynh hướng “nhận thức lại hiện thực” với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản đã lan rộng. Thời xa vắng của Lê Lựu được coi là tác phẩm khơi dòng cho khuynh hướng này. Bên cạnh đó là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Huớng, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp.
Văn học đi sâu vào cuộc sống đời thường với vô số những vấn đề phức tạp ngày càng trở nên thời sự. Cả một phức hợp với những tạp âm đời thường như đạo đức, nhân cách, đạo lý gia đình, nhu cầu hạnh phúc riêng tư đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong mỗi gia đình, ngoài xã hội cần được quan tâm. Nguyễn Khải đã nói rằng: “Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn bóng tối và ánh sáng, màu đỏ và màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là những mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thỏa sức khai vỡ”[50]. Văn học giai đoạn này nổi bật là cảm hứng phê phán.
Giáo Sư Trần Hữu Tá nhận xét: “Cảm hứng phê phán trong những tác phẩm này dào dạt, mạnh mẽ hơn giai đoạn trước, tạo được những tác động mạnh đến tâm trạng xã hội”[82]. Nhiều nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng con người vi phạm các chuẩn mực đạo đức, vì đồng tiền mà mất nhân cách, nhân tính. Chưa bao giờ cái xấu, cái ác, sự bất công lại được đào bới kỹ lưỡng như thế.