Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sau năm 1975, đặc biệt là từ cột mốc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, văn học Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới sâu sắc, chuyển dịch mạnh mẽ từ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn sang cảm hứng thế sự - đời tư. Trong tiến trình vận động này, nhà văn Ma Văn Kháng (tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn, sinh năm 1936) được khẳng định là một trong những cây bút tiên phong, mở đường với sức sáng tạo dồi dào trên cả hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn. Sáng tác của ông không né tránh các mặt trái, vùng khuất tối của hiện thực xã hội mà dũng cảm nhìn thẳng vào những chuyển biến phức tạp về nhân cách, đạo đức của con người trong bối cảnh cơ chế thị trường và quyền lực chi phối.

Tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời (sáng tác năm 1989, bản in khảo sát do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2010, dày 275 trang) là một dấu mốc nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng. Tác phẩm khai thác đề tài tuổi thơ bất hạnh nhưng được đặt trọn vẹn trong không gian thế sự nhọc nhằn, phơi bày tấn bi kịch của những đứa trẻ bị đối xử bất công và sự tha hóa nhân tính của một bộ phận người lớn chạy theo đồng tiền và địa vị. Khóa luận của sinh viên Nguyễn Thị Nguyên (chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Quảng Nam) được thực hiện nhằm giải mã toàn diện diện mạo phong cách nghệ thuật của tác giả qua tiểu thuyết này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể:

  1. Nhận diện và làm rõ những nét đặc trưng về phương diện nội dung tạo nên phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng (sự lựa chọn đề tài, xác định chủ đề, tư tưởng nhân văn, nghệ thuật khắc họa nhân vật và cái nhìn nghệ thuật).
  2. Phân tích các phương thức biểu hiện độc đáo về phương diện hình thức nghệ thuật trong tác phẩm (nghệ thuật tổ chức cốt truyện thế sự - đời tư đan xen dòng hồi tưởng, hệ thống đa giọng điệu và đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật).
  3. Đánh giá vị trí, đóng góp học thuật của tác giả Ma Văn Kháng đối với tiến trình hiện đại hóa và đổi mới văn xuôi Việt Nam đương đại.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là phong cách nghệ thuật của nhà văn Ma Văn Kháng, cụ thể hóa qua hệ thống các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật. Phạm vi nghiên cứu văn bản giới hạn trong tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 2010), có đối sánh với một số sáng tác tiêu biểu khác cùng thời kỳ của tác giả và các nhà văn đương đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các quan niệm kinh điển và hiện đại về thi pháp học và phong cách học văn học. Tác giả lược thuật nguồn gốc thuật ngữ phong cách từ stylos (tiếng Hy Lạp), stylus (tiếng La Mã) đến style (tiếng Pháp), đồng thời trích dẫn luận điểm của M. Gorky ("Bạn hãy giữ lấy cái gì là riêng của mình...") và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ("nghệ thuật không phải là sản xuất hàng loạt như sản xuất công nghiệp"). Cơ sở lý thuyết của đề tài tiếp thu trực tiếp từ các công trình nghiên cứu tác giả và phong cách của các nhà lý luận đầu ngành như GS. Phan Ngọc, GS. Phương Lựu, GS. Nguyễn Đăng Mạnh, cùng định nghĩa phong cách nghệ thuật trong Từ điển thuật ngữ văn học do GS. Trần Đình Sử chủ biên: phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng và phương tiện biểu hiện nghệ thuật, thể hiện cái nhìn độc đáo mang tính chỉnh thể của chủ thể sáng tạo.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng kết hợp các thao tác khoa học sau:

  • Phương pháp đọc và tổng hợp tài liệu: Thu thập, hệ thống hóa văn bản tác phẩm và các bài viết phê bình, luận văn, luận án nghiên cứu về Ma Văn Kháng.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đi sâu phân tích các yếu tố cụ thể trong văn bản (cốt truyện, nhân vật, giọng điệu, ngôn từ) để khái quát thành các quy luật phong cách nghệ thuật.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu:
    • So sánh nội tại giữa Côi cút giữa cảnh đời với các sáng tác khác của Ma Văn Kháng (Mùa lá rụng trong vườn, Mưa mùa hạ, Trăng soi sân nhỏ, Đám cưới không có giấy giá thú, Đồng bạc trắng hoa xoè...) nhằm khẳng định tính thống nhất trong quan niệm sáng tác.
    • So sánh liên tác giả với các nhà văn hiện thực và đổi mới (Nam Cao, Thạch Lam, Kim Lân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Đoàn Giỏi, Nguyễn Nhật Ánh) để làm nổi bật nét khu biệt trong bút pháp của Ma Văn Kháng.
  • Phương pháp liệt kê, tổng kết: Khảo sát định lượng và phân loại các chi tiết nghệ thuật (miêu tả ngoại hình nhân vật, chuỗi sự kiện cốt truyện).

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản chính là cuốn tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời (NXB Văn học, 2010) và hệ thống tài liệu tham khảo gồm tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, Tạp chí Văn học Nghệ thuật, Báo Văn nghệ), các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Kỳ Quyết (Đại học Vinh), Dương Thị Hồng Liên (Đại học Sư phạm Thái Nguyên), Nguyễn Thị Hải Yến, Trần Thị Ngọc Tường (Đại học Vinh), và khóa luận cử nhân của Trần Thị Tường Vi (Đại học Quảng Nam).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Phong cách nghệ thuật của nhà văn Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời nhìn từ phương diện nội dung

Chương này đi sâu khảo sát các thành tố nội dung tác phẩm, từ lịch sử tác giả đến các bình diện chủ đề, tư tưởng, nhân vật và cái nhìn nghệ thuật:

  • Hành trình sáng tạo và vị thế tác giả: Tác giả khóa luận điểm lại tiểu sử Ma Văn Kháng (Đinh Trọng Đoàn), từ giai đoạn dạy học và công tác giáo dục hơn mười năm tại Lào Cai (cái nôi nuôi dưỡng truyện ngắn đầu tay Phố cụt), qua các chức vụ tại Nhà xuất bản Lao động, Hội Nhà văn Việt Nam, đến các giải thưởng lớn: Giải B Hội Nhà văn Việt Nam (1986, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn), Giải thưởng Hội đồng Văn xuôi (1995, tập truyện Trăng soi sân nhỏ), Giải thưởng Văn học ASEAN (1998), Giải thưởng Nhà nước (2001) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (2012).
  • Nét độc đáo trong đề tài, chủ đề, tư tưởng:
    • Đề tài: Bên cạnh hai mảng đề tài sở trường là miền núi cao phía Bắc và đời sống thành thị, Ma Văn Kháng mở rộng sang đề tài thiếu nhi. Khác với màu sắc trong trẻo của Nguyễn Nhật Ánh hay thế giới loài vật đồng thoại của Tô Hoài, đề tài thiếu nhi trong Côi cút giữa cảnh đời gắn liền với những mất mát, va đập khốc liệt của đời sống thế sự.
    • Chủ đề: Sự vùi dập của số phận đối với tuổi thơ bất hạnh và nghị lực vượt lên chiến thắng hoàn cảnh của con người nhỏ bé.
    • Tư tưởng: Khẳng định giá trị tối thượng của nhân phẩm và tình thương; cảnh báo sự tha hóa nhân tính do đồng tiền và quyền lực; hướng con người đến các giá trị Chân - Thiện - Mỹ.
  • Nét độc đáo trong nghệ thuật khắc họa nhân vật: Khóa luận khảo sát định lượng hệ thống 18 nhân vật trong tác phẩm, phân loại chi tiết qua bảng tiêu chí ngoại hình và xây dựng thành hai tuyến đối lập:
Tuyến nhân vật Nhân vật tiêu biểu Đặc điểm ngoại hình, hành vi trích xuất từ văn bản Ý nghĩa thẩm mỹ và tư tưởng
Chính diện (Vị tha, kiên cường, nhân ái) Người bà, nhân vật "tôi" (Duy), bé Thảm, cô Quyên, cô Đại Bàng, ông Hồn Nhiên, ông Vinh pháo - Người bà: "mặt bà tròn trịa, mảnh dẻ như phiến lá sen".
- Bé Thảm: "cái mầm non bấy bớt", hay khóc vì tủi phận.
- Duy: Tự lập, nhẫn nhịn, giàu lòng tự trọng.
Biểu tượng của vẻ đẹp tâm hồn truyền thống, lòng bao dung che chở cho tuổi thơ côi cút, kiên quyết chống lại cái xấu để bảo vệ sự sống.
Phản diện (Tha hóa, thực dụng, tàn nhẫn) Chủ tịch phường Luông, Trưởng phòng Hứng, cô giáo Thìn, gã y sĩ, chị em Vàng Anh - Vành Khuyên, mụ đàn bà mặt cú - Ông Luông: "mặt choăn choắt, da sắt seo, mũi tóp nhọn cứng như sắt, mắt ti hí láo liên", chùm chìa khóa 21 chiếc.
- Cô Thìn: Nịnh nọt học sinh giàu, lăng mạ sỉ nhục Duy ("Ngu thế", "ông tẩm").
- Gã y sĩ: Ngã giá mạng sống bé Thảm 200 đồng.
Phơi bày bản chất hống hách, dốt nát (nghĩ Tây du ký là chuyện Đặng Tiểu Bình đi Mỹ), vô cảm, tôn sùng vật chất và quyền lực mù quáng.
  • Nét độc đáo trong cái nhìn nghệ thuật của nhà văn:
    • Cái nhìn hiện thực hòa quyện tinh thần cổ tích: Hiện thực trần trụi, khốc liệt được bao bọc bởi niềm tin nhân đạo; người bà hiện lên như hình ảnh "bà tiên", "Phật bà giáng trần".
    • Cái nhìn thời gian đa chiều: Tác giả để nhân vật "tôi" ở độ tuổi 15 nhìn lại quá khứ cách đó 10 năm (khi 5 tuổi), tạo ra độ lùi thời gian cần thiết để soi chiếu, lý giải sự kiện bằng tâm thế chín chắn và chiều sâu chiêm nghiệm triết lý.

Chương 2: Phong cách nghệ thuật của nhà văn Ma Văn Kháng trong tác phẩm Côi cút giữa cảnh đời nhìn từ phương diện nghệ thuật

Chương này tập trung phân tích các phương diện thi pháp hình thức tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm:

  • Nghệ thuật tổ chức cốt truyện thế sự - đời tư: Cốt truyện không dựa trên các pha hành động phiêu lưu mà vận động theo số phận nhân vật và dòng hồi tưởng. Tác giả khóa luận trích xuất chuỗi 10 biến cố then chốt tạo nên bước ngoặt tự sự:
    1. Mẹ Duy tin lời bói toán và quà cáp của người lái xe tải, bỏ rơi gia đình ra đi.
    2. Hoàn cảnh éo le của dòng họ Lã (bố đi chiến trường Campuchia mất liên lạc, chú Dũng đi địa chất, cô Quỳnh đi xa).
    3. Khung cảnh buổi đầu thành lập phường Ngọc Sinh với những điều bất cập.
    4. Trải nghiệm đau đớn ngày đầu đi học khi Duy bị cô giáo Thìn đối xử bất công, lăng nhục.
    5. Chuyến đi cùng bà lên nghĩa trang Yên Kỳ viếng mộ ông nội (người cán bộ tiền khởi nghĩa bị oan khuất).
    6. Biến cố căn nhà bị Hứng cấu kết với Luông tước đoạt, dồn hai bà cháu vào góc phòng 6m2.
    7. Cô Quỳnh đem đứa con hoang (bé Thảm) mới ba tháng tuổi về nhờ nuôi rồi bỏ đi; bà cháu chạy vữa, xin từng giọt sữa cứu đứa trẻ không giấy khai sinh.
    8. Nỗi khắc khoải mong chờ người thân (chú Dũng) trở về.
    9. Sự hống hách, chuyên quyền của Chủ tịch phường Luông bị phơi bày.
    10. Cảnh đoàn tụ gia đình muộn màng và sự ra đi vĩnh viễn của người bà sau những năm tháng kiệt cùng vì con cháu.
  • Hệ thống đa giọng điệu nghệ thuật:
    • Giọng điệu cảm thương: Thể hiện trực tiếp qua những trang viết về nỗi đau của bé Thảm ("Em mang nỗi ấm ức xót xa trong kí ức non nớt...", khóc suốt cữ vì tủi thân) và số phận côi cút của Duy.
    • Giọng điệu xót xa: Bộc lộ trước sự hy sinh vô bờ bến của người bà kiên trinh, đối lập với sự bội bạc, vô tâm của những người con và sự tàn nhẫn của xã hội đương thời.
    • Giọng điệu lạc quan: Niềm tin mãnh liệt vào sự chiến thắng của sự sống lương thiện ("sự sống của kẻ bị vùi dập là bất diệt").
  • Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật:
    • Ngôn ngữ người kể chuyện: Kể từ ngôi thứ nhất xưng "tôi", mang tính chất tự thuật, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình xúc động và giọng suy ngẫm triết lý.
    • Ngôn ngữ nhân vật: Được cá thể hóa rõ nét qua ngôn ngữ đối thoại góc cạnh (sự hách dịch của Luông, sự lăng mạ thô thiển của cô Thìn, sự hỗn xược của Vàng Anh) và ngôn ngữ độc thoại nội tâm sâu sắc, phản ánh chân thực diễn biến tâm lý nhân vật Duy qua từng giai đoạn trưởng thành.
    • Ngôn ngữ miêu tả: Khả năng quan sát tinh tế, đặc tả chi tiết ngoại hình và không gian sinh hoạt giàu sức gợi cảm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả khoa học và đóng góp cụ thể sau:

  1. Tổng hợp định lượng và hệ thống hóa thi pháp tác phẩm: Khóa luận khảo sát chi tiết 18 nhân vật trong tiểu thuyết, thống kê cụ thể 6 nhân vật được miêu tả ánh mắt, 7 nhân vật miêu tả khuôn mặt, 10 nhân vật miêu tả dáng vẻ; đồng thời trích xuất hệ thống 10 sự kiện biến cố rải đều qua 275 trang sách, làm sáng tỏ nguyên tắc tổ chức cốt truyện thế sự - đời tư của Ma Văn Kháng.
  2. Khẳng định tính nhất quán trong tư tưởng nghệ thuật của tác giả: Nghiên cứu chỉ ra rằng tư tưởng cốt lõi của Ma Văn Kháng trong tác phẩm là lấy nhân phẩm làm thước đo cao nhất của con người. Thông điệp được đúc kết từ đầu sách: đồng tiền và quyền lực chỉ là phương tiện; coi chúng là mục đích sẽ biến con người thành kẻ ác giẫm đạp lên người khác và tự hủy hoại cuộc đời mình.
  3. Đóng góp so với các nghiên cứu trước đó: Trong khi các công trình đi trước thường khảo sát Ma Văn Kháng ở đề tài miền núi (Đồng bạc trắng hoa xoè), tiểu thuyết gia đình thời đổi mới (Mùa lá rụng trong vườn), hoặc chỉ dừng lại ở đặc trưng thi pháp trần thuật chung, khóa luận này là công trình chuyên biệt, đi sâu phân tích toàn diện và có hệ thống phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng trên cả hai trục nội dung và hình thức nghệ thuật qua trường hợp tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thẳng thắn ghi nhận một số hạn chế do điều kiện khách quan và chủ quan:

  • Hạn chế: Là công trình khóa luận tốt nghiệp bậc cử nhân, dung lượng nghiên cứu và thời gian thực hiện có hạn; nguồn ngữ liệu khảo sát chỉ tập trung chủ yếu vào một bản in tiểu thuyết năm 2010 mà chưa mở rộng so sánh sâu với các bản in đầu tiên (1989) hoặc các tập truyện thiếu nhi khác cùng thời kỳ của tác giả.
  • Hướng mở rộng: Đề tài gợi mở hướng nghiên cứu so sánh liên tác giả giữa mảng sáng tác thiếu nhi mang tính hiện thực của Ma Văn Kháng với các tác giả đương thời như Tô Hoài, Nguyễn Nhật Ánh, Võ Quảng; hoặc mở rộng khảo sát phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng qua toàn bộ hệ thống tiểu thuyết thế sự - đời tư giai đoạn sau năm 1986.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị thực tiễn đối với các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn và Ngành Văn học: Tài liệu tham khảo hữu ích cho các học phần Văn học Việt Nam hiện đại, Thi pháp học, và Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường.
  • Giáo viên Ngữ văn bậc THCS và THPT: Cung cấp nguồn ngữ liệu phân tích chi tiết về nghệ thuật xây dựng nhân vật, cốt truyện trần thuật và ngôn từ nghệ thuật phục vụ việc giảng dạy chuyên đề tác gia Ma Văn Kháng và văn học thời kỳ đổi mới.
  • Người nghiên cứu văn học: Gợi ý khung phương pháp luận phong cách học áp dụng cho việc giải mã một tác phẩm văn xuôi tự sự cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận căn cứ vào đâu để xác định tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời mang cốt truyện thế sự - đời tư thay vì truyện phiêu lưu thiếu nhi thông thường?
Khóa luận căn cứ vào diễn biến tác phẩm không có các tình tiết rượt đuổi, phiêu lưu kỳ ảo mà hoàn toàn tập trung vào số phận cá nhân, bi kịch gia đình, sự đổ vỡ đạo đức và những mâu thuẫn xã hội thời kỳ đầu đổi mới (mẹ bỏ con theo người lái xe tải, chính quyền cơ sở ức hiếp dân nghèo, bạo lực học đường, y tế thương mại hóa).

2. Chi tiết chùm chìa khóa 21 chiếc của ông Luông và khuôn mặt tròn như phiến lá sen của người bà có ý nghĩa nghệ thuật gì?
Đây là thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật tương phản đặc sắc của Ma Văn Kháng: chùm chìa khóa 21 chiếc lặp đi lặp lại tượng trưng cho sự tích trữ của cải, tính cách ích kỷ, khép kín và tha hóa của quyền lực; đối lập với khuôn mặt tròn như phiến lá sen thể hiện vẻ đẹp đôn hậu, vị tha, chở che và giàu đức hy sinh của người bà.

3. Khóa luận đã phân loại và thống kê hệ thống nhân vật trong tác phẩm như thế nào?
Khóa luận đã thống kê tổng cộng 18 nhân vật xuất hiện trong tác phẩm, trong đó có 6 nhân vật được khắc họa chi tiết qua ánh mắt, 7 nhân vật qua đường nét khuôn mặt, và 10 nhân vật qua dáng vẻ ngoại hình, tạo nên một hệ thống nhân vật điển hình, sắc nét ở cả hai tuyến chính diện và phản diện.

4. Điểm nhìn trần thuật và cái nhìn thời gian trong tác phẩm được tổ chức ra sao?
Tác phẩm sử dụng điểm nhìn trần thuật ngôi thứ nhất (nhân vật Duy xưng "tôi") ở độ tuổi 15 để hồi tưởng lại toàn bộ biến cố diễn ra 10 năm trước (khi 5 tuổi). Sự đan xen giữa điểm nhìn trải nghiệm của đứa trẻ và điểm nhìn suy ngẫm của thiếu niên giúp câu chuyện vừa chân thực, xúc động, vừa giàu chiều sâu triết lý.

5. Ba sắc thái giọng điệu chủ đạo làm nên phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tác phẩm là gì?
Ba sắc thái giọng điệu được phân tích gồm: giọng điệu cảm thương (chia sẻ nỗi đau của những đứa trẻ mồ côi, bất hạnh), giọng điệu xót xa (trước những nghịch cảnh oan trái và sự hy sinh kiệt cùng của người bà), và giọng điệu lạc quan (tin tưởng vào sức sống tiềm tàng, bất diệt của con người lương thiện).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Nguyên là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, bám sát văn bản nghệ thuật và vận dụng hiệu quả các thao tác lý luận phong cách học. Đề tài đã làm sáng tỏ những nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Ma Văn Kháng qua tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng nhân đạo và hình thức biểu hiện thi pháp. Nghiên cứu góp phần khẳng định tài năng và vị thế tiên phong của Ma Văn Kháng trong công cuộc đổi mới nền văn xuôi nghệ thuật Việt Nam hiện đại.