CHƯƠNG 1 NATSUME SOSEKI, MURAKAMI HARUKI VÀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI NHẬT BẢN THỜI KÌ HIỆN ĐẠI HÓA ĐẦU THẾ KỈ XX VÀ THỜI HẬU CHIẾN SAU NĂM 1945. Natsume Soseki và bối cảnh lịch sử xã hội Nhật Bản thời Minh Trị Duy Tân. Phong trào Minh Trị Duy Tân và sự du nhập của những luồng tư tưởng tự do phương Tây ở Nhật Bản. Chủ nghĩa cá nhân của Natsume Soseki.
Murakami Haruki và bối cảnh lịch sử Nhật Bản thời hậu chiến. Sự phát triển thần tốc và giai đoạn hậu kì tư bản. “Chủ nghĩa tự thân” của Murakami Haruki. Sự phát triển của ý thức cá nhân – vấn đề cốt lõi trong quá trình hiện đại hóa tư tưởng Nhật Bản thời kỳ hiện đại.
Ý thức cá nhân gắn liền với sự tự nhận thức về chính mình. Ý thức cá nhân và quá trình tìm kiếm sự công nhận từ phía cộng đồng. 51 CHƯƠNG 2 CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG SÁNG TÁC CỦA. 54 NATSUME SOSEKI VÀ MURAKAMI HARUKI.
Con người cá nhân trong sáng tác của Natsume Soseki. Con người tự vấn. Con người thức tỉnh. Con người tìm kiếm sự dung hòa.
Con người cá nhân trong sáng tác của Murakami Haruki. Con người cô đơn, mất mát. Con người tha hóa, biến chất. Con người hành động, tìm đường.
78 CHƯƠNG 3 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC HIỆN ĐẠI NHẬT BẢN TỪ NATSUME SOSEKI ĐẾN MURAKAMI HARUKI. Bước khởi đầu mang tính cách mạng về tư tưởng của Natsume Soseki. Giải quyết mâu thuẫn giữa các luồng tư tưởng: truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây. Sự thiết lập mối quan hệ giữa Chủ nghĩa cá nhân – Chủ nghĩa dân tộc và Chủ nghĩa quốc tế.
Tinh thần đối thoại và dấn thân trong sáng tác của Murakami. Đối thoại với lịch sử và tiếng nói phản tư bản sắc văn hóa Nhật Bản. Tìm kiếm sự chữa lành chấn thương và hoàn thiện bản ngã – con đường phát triển của mỗi cá nhân trong thời đại mới (chủ nghĩa tự thân). 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Lý do chọn đề tài Nhà nghiên cứu Baranov từng khẳng định: “Trong giai đoạn phát triển hiện đại của nền văn minh loài người, chủ nghĩa dân tộc chắc chắn không thể được xem như là chuẩn mực” (Baranov, Đỗ Thu Thủy dịch, 1996, tr. Tuy nhiên, tình hình chung của nhân loại hiện nay đã cho thấy chủ nghĩa dân tộc chẳng những không biến mất mà thậm chí còn có xu hướng phát triển. Đặc biệt, nó luôn là nguồn gốc sâu xa của các cuộc chiến tranh, những cuộc xung đột sắc tộc trên thế giới. Sự lệch lạc tinh thần ở cấp độ quốc gia ấy trở thành một bệnh lý dân tộc không có thuốc giải, mang đến nhiều hiểm họa khôn lường.
Mặc dù các lực lượng kiến tạo hòa bình liên quốc gia đã được thành lập trên thế giới, nhưng chủ nghĩa dân tộc vẫn như một thứ ung nhọt, phát triển âm thầm và đe dọa hòa bình của nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới. Là một trong những quốc gia châu Á sớm hội nhập và hiện đại hóa theo đường lối tư bản chủ nghĩa phương Tây, Nhật Bản đầu thế kỉ XX đã từng theo khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Từ những thập niên cuối của thế kỉ XX đến nay, tư tưởng chủ nghĩa dân tộc ở Nhật lại có dấu hiệu trỗi dậy. Chủ nghĩa dân tộc ở thế kỉ XXI tồn tại dưới những hình thức phức tạp và tinh vi hơn, không giản đơn chỉ là sự đề cao tinh thần yêu nước cuồng nhiệt, thái quá.
Hơn thế, những áp lực vô hình trong cuộc chạy đua, cạnh tranh kinh tế và quyền lực mềm giữa các nước lớn như tình trạng hiện nay đã cho thấy chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã mang đến những hệ lụy, tác động khôn lường lên đời sống tinh thần người Nhật trong giai đoạn hậu kì tư bản. Chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản bắt đầu xuất hiện và phát triển vào giai đoạn đầu thế kỉ XX, từ những năm Minh Trị duy tân; sau đó được đẩy lên đến đỉnh điểm khi Nhật Bản liên tiếp giành được thắng lợi từ hai cuộc chiến tranh với quân đội nhà Thanh - Trung Quốc (1894 – 1895) và với Nga (1904 - 1905). Sau những lần giành thắng lợi liên tiếp, Nhật Bản chính thức theo đuổi chủ nghĩa thực dân. Với tham vọng bành trướng khắp khu vực Đông Á, chính quyền Minh Trị tiến hành thâu tóm các quốc gia khác trong khu vực lân cận, nhằm hiện thực hóa giấc mơ đại Đông Á.
Vào thời điểm ấy, quân đội Nhật Bản đi đến đâu, 1 Dẫn từ công trình: Nghiêm Văn Thái (chủ biên) (1998). Căn tính tộc người. Hà Nội: Viện thông tin khoa học xã hội. 2 chiến tranh và bạo lực kéo theo đến đó.
Không chỉ gây ra nỗi khiếp đảm với các dân tộc khác, những chính sách hà khắc của chính quyền trong giai đoạn này cũng khiến người dân trong nước đau khổ và phải đứng lên đấu tranh chống lại nhà cầm quyền. Tầng lớp trí thức Minh Trị có tinh thần yêu nước và sáng suốt về mặt tư tưởng là những người tiên phong trong cuộc kháng cự này. Lần đầu tiên trong lịch sử một dân tộc vốn lấy tinh thần đoàn kết làm nền tảng trong mọi lĩnh vực, giờ đây phải tự chia rẽ trong nội bộ quốc gia. Để ổn định tình hình đất nước, chính quyền Nhật Bản sẵn sàng áp dụng những hình phạt nặng nề nhất đối với những người chống đối chính phủ.
Người Nhật trong giai đoạn này phải sống trong bầu không khí u tối và ngột ngạt, không có được tự do cá nhân đúng nghĩa. Là một trí thức thế hệ Minh Trị thứ nhất, Natsume Soseki ý thức được những xung đột, mâu thuẫn đang diễn ra trên quê hương mình. Khoảng thời gian hơn hai năm sinh sống và học tập ở Anh đã giúp ông nhận ra nguyên nhân khiến quốc gia lâm vào cảnh khốn cùng, chủ yếu xuất phát từ sự ràng buộc khắc nghiệt tự do cá nhân. Đối với Soseki, tự do cá nhân không chỉ là liều thuốc có thể chữa lành căn bệnh dân tộc mà hơn hết, đó chính là con đường phù hợp nhất để nước Nhật có thể thực hiện cuộc duy tân một cách đúng đắn.
Vì thế, những trang văn không chỉ là nơi để Soseki trút hết phiền muộn mà còn là nơi để ông cất lên tiếng nói yêu nước của mình, với tư cách là một công dân, một trí thức chân chính trong xã hội luôn khao khát đấu tranh cho tự do, dân chủ. Nếu giai đoạn Minh Trị duy tân là thời điểm những luồng tư tưởng tự do phương Tây bắt đầu bén rễ thì tại Nhật Bản thì trải qua hai giai đoạn tiếp theo của thời Taisho (1912 – 1926) và Showa (1926 – 1989), dù vẫn phải chịu sự kìm hãm bởi hệ tư tưởng dân tộc nặng nề nhưng tư tưởng về tự do cá nhân cũng đã hình thành và có chỗ đứng vững chắc hơn trong xã hội Nhật Bản. Cột mốc đánh dấu sự thay đổi vận mệnh lịch sử nước Nhật là thời điểm mà Nhật Bản phải hứng chịu những thất bại nặng nề từ cuộc Thế chiến thứ II. Hai quả bom nguyên tử mà Mĩ ném xuống nước Nhật không chỉ hủy diệt hai thành phố Hiroshima và Nagasaki mà còn xóa bỏ toàn bộ quá khứ huy hoàng của một đế quốc hiếu chiến trong suốt thời kì chiến tranh cũng như những thành quả của cuộc cải cách Minh Trị diễn ra trước đó.
Tuy nhiên, với bản tính tự tôn dân tộc và sức mạnh ý chí tiềm tàng vốn có, chỉ sau hai thập kỉ, Nhật Bản đã thành công trong công cuộc tái thiết đất nước từ những đổ nát sau cuộc chiến. Thời kì hậu tư bản cũng là giai đoạn quốc gia này tham gia vào cuộc chạy đua kinh tế, phát 3 triển năng lượng và công nghệ,… Chỉ trong một thời gian ngắn, Nhật Bản đã hoàn toàn đảo ngược tình thế và trở thành một trong những siêu cường kinh tế hàng đầu thế giới vào giai đoạn nửa sau của thế kỉ XX. Đất nước thịnh vượng làm cho đời sống vật chất của người Nhật dần ổn định và trở nên giàu có hơn so với giai đoạn trước. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển thần tốc và những thành tựu trong cuộc chạy đua kinh tế ấy lại là sự lao dốc của đời sống tinh thần của người dân đất nước Mặt trời mọc.
Sự trống rỗng và cảm giác vô nghĩa của con người giữa lòng thịnh vượng cứ mãi đeo đuổi các thế hệ người Nhật những thập niên 80, 90 trở về sau. Tỉ lệ tự sát, tỉ lệ thất nghiệp, tình trạng lạm phát liên tục gia tăng. Đặc biệt là sự kiện bong bóng kinh tế vào những năm 1990 đã làm thay đổi đời sống, khiến cho niềm tin đối với chính phủ trong mỗi người Nhật dần suy giảm. Sinh ra và lớn lên trong thời kì hậu chiến, trải qua các giai đoạn nước Nhật phục hồi và hàn gắn những chấn thương tinh thần thời hậu chiến, Murakami Haruki đã chứng kiến những cuộc xung đột diễn ra trong đời sống thường nhật của dân tộc mình.
Khi trưởng thành, giống như Natsume Soseki, Murakami Haruki cũng có khoảng thời gian trải nghiệm văn hóa phương Tây. Ngay từ thời trung học, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ông đã được nuôi dưỡng trong bầu không khí văn chương, âm nhạc mang đậm hơi thở Âu – Mĩ, khi đó đã tràn ngập và đã trở thành món ăn tinh thần chủ đạo của giới trẻ Nhật trong thời kì Âu hóa mạnh mẽ sau một thời gian bị Mĩ chiếm đóng. Cơ hội này đã giúp ông nhận thức rõ tình trạng tinh thần của giới trẻ Nhật Bản thế hệ hậu chiến với tư cách là người trong cuộc. Nhờ vậy mà Murakami đã nhận ra sự khác biệt rõ rệt giữa Nhật Bản và các quốc gia khác trong khu vực và thế giới.
Hiện thực xã hội Nhật Bản và hiện trạng đời sống tinh thần người Nhật thời kì Showa và Heisei đã được Murakami phản ánh trong những cuốn tiểu thuyết lớn, mang tính phản biện xã hội, trải dài qua các giai đoạn sáng tác của nhà văn. Nếu như trong giai đoạn đầu thế kỉ XX của Natsume Soseki, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa dân tộc cực đoan Nhật Bản là nguồn cơn tác động và bóp nghẹt tự do con người, thì ở giai đoạn hậu chiến của Murakami, khi chủ nghĩa thực dân đã hoàn toàn biến mất cùng với sự thất bại của Nhật Bản, thì sự đè nén tự do cá nhân trong xã hội lúc này lại có nguyên nhân từ chính sự sai lầm trong đường lối xây dựng cơ cấu, hệ thống tổ chức của quốc gia.