Chương 1: Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng nhìn từ phương diện đề tài Chương 2: Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng nhìn từ cảm hứng sáng tạo hình tượng nhân vật Chương 3: Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng nhìn từ phương diện nghệ thuật thể hiện 6 CHƢƠNG 1 SỰ VẬN ĐỘNG TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN ĐỀ TÀI Với nhận thức, năng lực và những trải nghiệm của mình, mỗi nhà văn sẽ có sự lựa chọn đề tài. Đề tài là một phương diện nội dung tác phẩm, là đối tượng đã được nhận thức, kết quả lựa chọn của nhà văn. Đó là sự khái quát về phạm vi xã hội, lịch sử của đời sống được phản ánh trong tác phẩm. Qua sự lựa chọn đề tài, nhà văn thể hiện rõ khuynh hướng trong lập trường tư tưởng của mình.
Không chỉ được khơi gợi từ cuộc sống hiện thực, đề tài còn được xác lập bởi cách nhìn, quan niệm nghệ thuật, cá tính, tài năng sáng tạo, phụ thuộc vào những yêu cầu của thời đại và hoàn cảnh sáng tác riêng của mỗi nhà văn. Từ vùng biên ải thời kì đấu tranh xây dựng đất nƣớc Có thể nói, cảnh sắc và con người các dân tộc miền núi luôn là một đối tượng thẩm mỹ hấp dẫn và kỳ thú, có sức cuốn hút các văn nhân, thi sĩ. Đã có rất nhiều nhà văn khai phá mảnh đất này như Lan Khai, Thế Lữ, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyên Ngọc…. Ngoài ra, một số tác giả người dân tộc thiểu số như Nông Minh Châu, Triều Ân, Vi Hồng, Vi Thị Kim Bình, Y Điên…cũng đã có những đóng góp nhất định trong việc giữ gìn mạch ngầm văn chương ấy để nó ngày càng phát triển sâu rộng.
Vì thế, khi Ma Văn Kháng “đến với văn đàn thì cuộc sống miền núi phía Bắc Tổ quốc đã được miêu tả qua một cái nhìn ổn định trong những tác phẩm xuất sắc tạo nên thành tựu của văn xuôi kháng chiến chống Pháp. Canh tác trên một mảnh đất đã có người cày xới, Ma Văn Kháng không dừng lại ở cái nhìn quen thuộc gói gọn trong quan điểm giai cấp”[25, tr. Trên nền tảng và tiếp bước những nhà văn đi trước, ông đã tạo nên nét riêng của mình. Trong bối cảnh sáng tạo mới, nhà văn luôn ý thức tìm tòi và tạo ra dấu ấn riêng bằng những tác phẩm đặc sắc.
Sau khi tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội, Ma Văn Kháng xung phong lên Tây Bắc trong không khí náo nức của tuổi trẻ. Ông đã góp công sức không nhỏ cho đồng bào miền núi trong giai đoạn cực khổ nhất khi trực tiếp tham gia, trải qua những đợt tiểu phỉ, đi làm thuê, xây dựng hợp tác xã, dạy học, làm thư kí, nhà báo, nhà văn… Hơn hai mươi năm sinh sống và làm việc ở vùng miền núi, nhà văn đã hòa nhập với môi trường, gắn bó, làm việc hết mình và xem Tây Bắc là quê hương thứ hai của mình. Khoảng thời gian ấy đã tạo cơ hội cho ông gần gũi và am hiểu về thiên nhiên, phong tục tập quán, lối sống, suy nghĩ và tình cảm của con người nơi đây. Người thanh niên yêu quý mảnh đất này và xác định nó như máu thịt nên việc ông khởi đầu nghiệp văn 7 của mình với đề tài miền núi là điều như một lẽ tự nhiên.
Hơn hai mươi năm gắn bó với mảnh đất Lào Cai, nhà văn đã nhận ra hiện thực và con người ở vùng cao là chất liệu, là nguồn cảm hứng vô tận cho những đứa con tinh thần của mình (Giàng Tả, Vệ sĩ của quan châu, Ông lão gác vườn và con chó Phúm, Người thợ bạc ở phố cũ, Mã Đại Câu, người quét chợ Mường Cang, Móng vuốt thời gian, Thím Hoóng. Dường như, đề tài về miền núi dần được thể hiện đầy đủ và sâu sắc hơn khi Ma Văn Kháng có một thời gian dài sinh sống và làm việc tại mảnh đất này. Trong hồi ký của mình, ông đã từng thổ lộ: “Ôi Lào Cai! Vùng đất biên cương của Tổ quốc, nơi tôi tự nguyện đến để dâng hiến tuổi trẻ, để lập nghiệp, tôi đã bắt đầu làm quen với nó và từ đây tôi đã bắt đầu yêu nó rồi sẽ gắn bó với nó. Trong manh nha tôi nhận ra, tôi có thể làm được một việc gì đó có ích cho cuộc đời, ở mảnh đất này”[44, tr.
Cùng với nhiều nhà văn khác, ông đã không ngừng lao động nghệ thuật, hòa chung vào mạch nguồn của văn chương dân tộc, tạo nên một “bộ phận đẹp đẽ”của văn học viết về dân tộc và miền núi, khiến cho dòng chảy này ngày một mạnh mẽ hơn. Trong hồi kí “Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương”, Ma Văn Kháng khẳng định: “Những tác phẩm lấy đề tài từ cuộc sống của đồng bào các dân tộc miền núi, một cấu thành quan trọng trong toàn bộ sáng tác của tôi. Thì phần nào cũng giống như Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Mạc Phi, Trung Trung Đỉnh, Phượng Vũ… các nhà văn người Kinh khác, tôi đã sống ở vùng đất này, đã hiểu biết, đã yêu thương nó và khao khát được trả ơn bằng việc miêu tả lại. Đây phải chăng cũng là một nét độc đáo, một sự phối ngẫu đẹp đẽ trong văn học nước ta? Bởi vì theo tôi trước hết và cũng là sau cùng, từ trong ý thức và tư tương thẩm mỹ, tôi không thấy có sự khu biệt, phân cách; đất nước là một chỉnh thể, tất cả các dân tộc đều chung một dòng chảy lịch sử; và đặc sắc của cái riêng chỉ làm phong phú thêm cái chung mà thôi!”[44, tr.
Giới nghiên cứu văn học cũng đánh giá cao về vị trí của nhà văn trong dòng chảy văn xuôi miền núi: “Ma Văn Kháng là một hiện tượng văn chương lớn. Chúng tôi mạnh dạn khẳng định, mảng văn chương về miền núi và dân tộc, được khởi lên từ đầu những năm 1950 và đạt tới thành tựu những năm cuối thế kỉ XX, là một thành công lớn của văn hóa Việt Nam ta. Trong thành công đó, có sự đóng góp nỗ lực của tài năng Ma Văn Kháng”(Anh Chi). Qua các tác phẩm của Ma Văn Kháng, độc giả nhận ra một vùng biên ải xưa và nay với hai mảng màu khác nhau: một xứ sở hoang sơ và dữ dội với “hình sắc của thời mới khai thiên”và một vùng đất yên bình, gắn với vẻ đẹp ngàn đời.
Xứ sở hoang sơ và dữ dội Khảo sát sơ bộ các truyện ngắn Ma Văn Kháng trong quá trình sáng tác, chúng ta có thể nhận thấy, từ những ngày đầu, với cảm hứng sử thi, chàng trai trẻ đã có 8 những khám phá bất ngờ đầy thú vị trước vẻ hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng cũng như sự hồn nhiên chân chất của người dân Tây Bắc. Ngay từ những trang viết đầu tay qua truyện ngắn Phố cụt ( 1961), Ma Văn Kháng đã phát họa một thị trấn nhỏ bé và heo hút với những con người chất phác. Từ đó, bằng khả năng quan sát và ý thức tìm tòi sáng tạo, nhà văn luôn thể hiện những điều mới mẻ ở khả năng chiếm lĩnh hiện thực đề tài miền núi. “Nếu tính theo thời gian thì có thể nói, dòng truyện ngắn về đề tài dân tộc và miền núi của Ma Văn Kháng được bắt đầu từ năm 1968, với truyện ngắn Xa Phủ đạt giả Nhì ( không có giải nhất) ở cuộc thi truyện ngắn do báo Văn nghệ tổ chức.
Từ đó, dòng mạch này được liên tục khơi nguồn và cho tới tận hôm nay, những gì ông đã thấy, đã cảm nhận, đã suy ngẫm (…) vẫn còn là những ấn tượng giàu chất mỹ cảm được trở đi trở lại nhiều lần trong cảm hứng sáng tạo của ông”. Vì thế, qua các giai đoạn cụ thể, một phần vì do sự lựa chọn của nhà văn trước cuộc sống, một phần chịu sự ảnh hưởng trước sự vận động nội tại của nền văn học Việt Nam, đề tài này được nhà văn phản ánh đa dạng, phong phú và sâu sắc trong các tác phẩm của mình. Tiếp cận những sáng tác của Ma Văn Kháng, người đọc nhận thấy ông không viết về miền núi phía Bắc nói chung mà hướng mọi sự chú ý về vùng biên ải với không gian mang tính chất sử thi. Trong các truyện ngắn về miền núi, nhà văn đã phác họa một xứ sở hoang sơ và dữ dội,”lúc nào cũng có hình sắc của thời mới khai thiên.
Đất hoang hóa chỉ cho phép tồn tại dưới ánh mặt trời những thế lực hùng mạnh, những thủ lĩnh gian ác, những tù trưởng thông thạo chiến chinh và kéo theo nó bọn theo đóm ăn tàn, những bản năng bán khai kinh thiên động địa”với “những cuộc chinh chiến, sát phạt tàn hại giữa các bầy đàn, phe cánh”[33, tr. Xứ sở ấy luôn tồn tại những hiểm nguy vây bọc xung quanh luôn rình rập con người trong “một khoảng trống giữa rừng già. Vừa hạ kiệu, bốn người cảm nhận được ngay vẻ hoang lạnh đến rởn da thịt của khung cảnh. Bụi rậm và vòm cây chen kín, xung quanh họ tối mờ.
Đã thế lại sương trắng mù mù vây bọc. Và từ trong xa xăm, vẳng lên tiếng róc rách của một con suối hoang, như một ám ảnh triền miên dai dẳng”[33, tr. Trong không gian núi rừng luôn hiện hữu cảnh thú dữ ăn thịt người. Đó là những con vật như hổ, lợn lòi, chó sói lửa.
đe dọa đến cuộc sống con người, chúng tấn công ăn thịt gia súc và con người bất cứ lúc nào: “Một con hổ đói đã theo đoàn người suốt chặng đường hôm qua giờ nó đang chờ ông lính ở bờ suối nọ. Nghe tiếng người lính thét rụng rời (…. Và họ cũng rét run lên”. Không ai có thể lường trước được những rủi ro mà thiên nhiên mang lại cho cuộc sống con người, mạng sống luôn bị đe dọa, những cái chết dường như đến thật bất ngờ: “Tinh hổ còn nhan nhản ở lẫn với người.
Người ta bảo con hổ gây ra tai họa này là con thú dữ còn lại duy nhất ở vùng rừng này (…. Nó già lắm rồi. Cõng trâu, bắt lợn là chuyện bình thường với nó. Nó giả làm người.
9 Nó còn biết lội xuống suối bắt cá. Năm nào nó cũng vồ người. Ranh ma, lọc lõi, ác độc tới mức nó thành tinh”[33, tr. Để sống và tồn tại trước những mối đe dọa luôn ẩn dật đó, con người phải luôn học cách chống chọi lại chúng.
Miền núi Tây Bắc luôn hiện ra không gian hoang vắng, ghê rợn, gợi một nỗi sợ hãi bởi cái hoang sơ, u ám.