Chương I: Cơ sở khoa học về tích tụ đất trong sản xuất nông nghiệp. Chương II: Thực trạng TTRĐ trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Chương III: Định hướng và giải pháp khuyến khích TTRĐ nhằm nâng cao hiệu quả SDĐ tại huyện Kiến xương, tỉnh Thái Bình. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1.
Khái niệm về tích tụ đất đai “Tích tụ là dồn tất cả vào một chỗ để tăng cường sức mạnh; Ruộng đất: đất đai trồng trọt nói chung; Tích tụ: Dồn vào, tập trung nhiều vào một chỗ. Thực chất tích tụ đất đai là việc tăng quy mô diện tích cho hộ dân do thuê, thuê lại, mua, hoặc các hình thức khác như khai hoang, nhận thừa kế, nhận cầm cố để tạo ra quy mô ruộng đất lớn hơn nhằm mục đích SXNN. ; như vậy, TTRĐ khác với dồn điền đổi thửa. Bởi vì, dồn điền đổi thửa tuy cũng làm tăng quy mô một thửa đất, và giảm số thửa đất của một hộ nhưng nó không làm tăng quy mô ruộng đất của hộ đó.
Hoạt động góp đất, liên kết giữa các chủ thể sở hữu đất để cùng sản xuất (theo kiểu hợp tác xã) cũng làm tăng quy mô ruộng đất nhưng cũng không phải là TTRĐ vì nó không làm tăng quy mô ruộng đất của một hộ.” Đối với sản xuất thì việc TTRĐ, tăng quy mô kinh doanh của các chủ thể kinh doanh là vấn đề có tính quy luật. Nó diễn ra với quy mô và tốc độ khác nhau tuỳ từng khu vực và phụ thuộc trước hết vào quá trình Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp. Quá trình này đã làm thay đổi tương quan giữa lao động và đất đai trong sản xuất, kinh doanh theo các giai đoạn khác nhau của tiến trình lịch sử. Như vậy, tích tụ đất đai có thể được hiểu là phương thức làm tăng quy mô về diện tích của chủ thể SDĐ.
Quy mô ruộng đất được tăng lên thông qua việc tích tụ đất đai trên cơ sở các quan hệ ruộng đất trên phương diện tự nhiên và quan hệ sở hữu. Ngoài ra, trong phạm vi đề tài này, cụm từ “mua bán” ruộng đất được dùng để chỉ việc “chuyển nhượng quyền SDĐ” và cụm từ quyền “sở hữu đất đai” đôi khi được dùng để thay cho quyền “SDĐ đai” theo quy định của pháp luật Việt Nam.TS Vũ Trọng Khải (năm 2008): “Cho rằng tích tụ và tập trung ruộng đất chính là quá trình tích tụ tư bản với đất đai là tư liệu sản xuất chính để mở rộng sản 6 xuất và phát huy được lợi thế kinh tế theo quy mô. Hoạt động tích tụ và tập trung ruộng đất được thực hiện trên thị trường đất đai. Để có đất đai đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, nhà đầu tư có thể mua quyền sở hữu hay thuê quyền SDĐ theo nguyên tắc "thuận mua, vừa bán" hoặc thuê lại đất và trả địa tô cho người cho thuê đất.
Như vậy, tích tụ và tập trung ruộng đất gắn liền trực tiếp tới thị trường đất, khác với dồn điền đổi thửa. Dồn điền đổi thửa chỉ có tác dụng mở rộng qui mô của 1 thửa đất, và giảm số thửa đất của nông hộ, khiến họ quản lý sản xuất thuận lợi và có hiệu quả cao hơn, mà không làm tăng qui mô ruộng đất của nông hộ. Tương tự như cách tiếp cận của PGS. Vũ Trọng Khải (2008) khẳng định rằng, tích tụ và tập trung ruộng đất sẽ làm tăng quy mô diện tích trung bình của nông hộ và giảm tình trạng phân tán đất đai.
Các nghiên cứu này cho rằng sự phát triển của thị trường đất đai, hoạt động phi nông nghiệp phát triển và môi trường thể chế được hoàn thiện là nhân tố quan trọng cho sự thành công của tích tụ và tập trung ruộng đất”. Lê Trọng, Trường Đại học Kinh tế quốc dân: “TTRĐ là một biểu hiện về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất trong quá trình CNH nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa, phát triển các loại cây trồng thâm canh cao để sản xuất nông sản hàng hóa, đáp ứng được yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước. TTRĐ đã và đang diễn ra rất phong phú trong thực tiễn” (http://thongtinphapluatdansu.vn số ra ngày 30/7/2010) 1. Tác dụng của TTRĐ nông nghiệp “- TTRĐ làm thay đổi phƣơng thức sản xuất của ngƣời nông dân: Thực tế cho thấy, tình trạng ruộng đất manh mún đã và đang khiến nông dân ở nhiều nơi không thể đoạn tuyệt với phương thức sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu, từ đó không thể nâng cao hơn được năng suất, cũng không thể sản xuất ra được những sản phẩm có số lượng lớn, chất lượng cao theo yêu cầu của thị trường.
Vất vả nhưng thu nhập thấp, bấp bênh, ở nhiều nơi đã có tình trạng nông dân chán ruộng, bỏ đồng. Mặt khác trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh hiện nay, nền NN nước nhà mà đại diện là hơn 10 triệu hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ được ví như những chiến binh 7 nhỏ bé, đơn lẻ nhưng phải “đương đầu” với những binh đoàn, sư đoàn hùng mạnh đến từ những quốc gia có nền NN phát triển ở những thang bậc cao hơn hẳn. Chính vì vậy, trong nhiều yêu cầu đặt ra đối với ngành NN nước ta hiện nay, thực hiện TTRĐ, mở đường cho phương thức sản xuất hàng hóa tập trung, hiện đại, có tính liên kết, với sự tham gia hiệu quả, tích cực của các DN, các HTX nông nghiệp kiểu mới được xem là giải pháp cơ bản.” - TTRĐ cho phép khai thác được lợi thế của từng vùng: “Chủ trương khuyến khích TTRĐ nhằm nâng cao hiệu quả SXNN, thông qua mở rộng quy mô sản xuất phù hợp, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ và hình thành khu vực chuyên canh theo hướng SXNN hiện đại, chuyên môn hóa gắn với thị trường đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và tiếp tục được khẳng định trong văn kiện Đại hội XII của Đảng, đó là “khuyến khích tập trung ruộng đất, phát triển trang trại, DN nông nghiệp phù hợp về quy mô và điều kiện của từng vùng”. Như vậy, về lý luận và thực tiễn việc TTRĐ là bước đi cần thiết, đáp ứng đòi hỏi của tính hiệu quả trong SXNN, tạo điều kiện để thực hiện thành công CNH, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.” Hiệu quả của việc TTRĐ trong nông nghiệp đã thấy rõ.
Trong trồng trọt, sản xuất đã chuyển dịch theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng, miền. Đẩy mạnh áp dụng KHCN để tăng hiệu quả sản xuất và thích ứng với biến đổi khí hậu. Gắn quá trình TTRĐ với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, bố trí phân công lại lao động trên phạm vi địa phương. Nhờ đó mới bảo đảm giải quyết tốt công ăn, việc làm cho số lao động dôi dư, không còn đất chuyển sang ngành, nghề khác.
Như vậy cơ cấu lại nền kinh tế nhanh hay chậm sẽ tác động trực tiếp đến tốc độ và quy mô TTRĐ. Do đặc thù cơ cấu kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương khác nhau, nên tốc độ và quy mô tập trung ruộng đất cũng cần được tính toán cho phù hợp với đặc điểm của từng địa phương. “SXNN được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Đặc điểm trên cho thấy ở đâu có đất và 8 lao động thì có thể tiến hành SXNN.
Thế nhưng ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết – khí hậu rất khác nhau. Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau. Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v.v… trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và SDĐ. Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét.
Cần tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông – lâm – thuỷ sản trên phạm vi cả nước cũng như tính vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp; xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu SXNN ở từng vùng; có các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, từng khu vực nhất định.” TTRĐ tạo điều kiện ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao tay nghề và trình độ của người lao động: Việc ứng dụng khoa học, nâng cao kỹ thuật trong SXNN đã giúp thay thế giống cây trồng, vật nuôi cũ bằng giống có năng suất, chất lượng, đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa, đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; tăng dần tỷ trọng cơ giới hóa trong SXNN hiện nay. Việc đưa khoa học công nghệ vào SXNN đã được chuyển giao, ứng dụng cho người nông dân, nhất là việc nghiên cứu, lưu trữ, nhân rộng bộ gen quý, xây dựng bộ giống cây con mới đưa vào SXNN. Đã và đang tập trung vào việc tổ chức lại sản xuất, hình thành các chuỗi liên kết, làm cơ sở để thúc đẩy việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất ở các mặt hàng có lợi thế và biến khoa học công nghệ trở thành “chìa khóa vàng” cho sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp. Ngành nông nghiệp cùng với các ngành liên quan thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ tạo đột phá trong tái cơ cấu, ưu tiên cao nhất cho nghiên cứu, chuyển giao và sản xuất các loại giống chất lượng cao, công nghệ chế biến, bảo quản giảm tổn thất sau thu hoạch, phát triển 9 nông nghiệp công nghệ cao; đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế; phát triển thị trường, thúc đẩy xuất khẩu.
Chúng ta cần tăng cường hơn nữa công tác chuyển giao khoa học công nghệ cho người nông dân. Đã gắn kết được giữa hệ thống nghiên cứu khoa học công nghệ Nhà nước với tư nhân, hợp tác xã, người nông dân. Xây dựng các chương trình đào tạo để nâng cao tay nghề và trình độ của người lao động trong SXNN; Phương thức chuyển giao KHCN đến nông dân được áp dụng phổ biến là tổ chức điều tra mô hình sản xuất có hiệu quả.