Chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO: Bài học và ứng dụng cho Việt Nam

Chuyên khảo nông nghiệp phân tích Luận án chính sách phát triển nông nghiệp trung quốc sau khi gia nhập wto bài học kinh nghiệm và, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất

Chuyên ngành

Lịch Sử Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2018

230
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội

1.2. Ảnh hưởng của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đến nông nghiệp

1.3. Thực trạng phát triển nông nghiệp Trung Quốc và Việt Nam trong bối cảnh WTO

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

3.2. Các phương pháp nghiên cứu sử dụng

4. CHƯƠNG 4: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

4.1. Lý thuyết lợi thế so sánh

4.2. Lý thuyết phát triển bền vững

5. CHƯƠNG 5: ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

5.1. Đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

5.2. Đóng góp mới về phương diện thực tiễn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nó không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm mà còn là nguồn nguyên liệu cho các ngành khác. Sự phát triển của nông nghiệp tạo ra thị trường cho công nghiệp và dịch vụ, đồng thời tăng thu ngoại tệ từ xuất khẩu. Các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản vẫn chú trọng đến nông nghiệp dù tỷ trọng GDP thấp. Đối với các nước đang phát triển, nông nghiệp là trụ cột kinh tế, hỗ trợ công nghiệp hóa. Toàn cầu hóa mang đến cơ hội và thách thức cho nông nghiệp, đặc biệt là khi gia nhập WTO. Các quy định của WTO về xuất nhập khẩu nông sản, hàng rào kỹ thuật thương mại, an toàn thực phẩm đặt ra yêu cầu cao cho các nước, đặc biệt là Việt Nam.

II. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Trung Quốc sau WTO

Trung Quốc đã có những thành tựu đáng kể trong phát triển nông nghiệp sau khi gia nhập WTO. Từ trạng thái tự cấp tự túc, nông nghiệp Trung Quốc đã chuyển sang sản xuất hàng hóa và xuất khẩu. Năm 2018, sản lượng lương thực đạt hơn 657,9 triệu tấn, tăng gấp 4,8 lần so với năm 1949. Trung Quốc hiện là một trong những nước sản xuất lương thực lớn nhất thế giới, với nhiều mặt hàng đứng đầu về sản lượng. Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách phát triển nông nghiệp để phù hợp với quy định quốc tế, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và xuất khẩu nông sản.

III. Ứng dụng chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc cho Việt Nam

Việt Nam cần học hỏi từ kinh nghiệm của Trung Quốc trong phát triển nông nghiệp sau WTO. Nông nghiệp Việt Nam cũng giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nhưng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh và yêu cầu khắt khe từ thị trường quốc tế. Chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam cần thay đổi để phù hợp với quy định của WTO, đồng thời hướng tới phát triển bền vững. Việc tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam xây dựng chính sách hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh trong sản xuất nông nghiệp.

IV. Đề xuất chính sách phát triển nông nghiệp cho Việt Nam

Chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam cần tập trung vào các công cụ phi thuế quan mà WTO cho phép. Cần có cảnh báo sớm để ứng phó với hàng rào kỹ thuật thương mại từ các đối tác. Đồng thời, chính sách hỗ trợ trong nước cần được tăng cường để nông nghiệp Việt Nam hội nhập bền vững. Việc thực thi chính sách cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng để đảm bảo hiệu quả và thích ứng tốt nhất với yêu cầu của WTO.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Nông nghiệp Trung Quốc là mảng đề tài được rất nhiều học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Đây là một quốc gia đất rộng người đông với dân số hơn 1,4 tỷ người. Hơn nữa, nền nông nghiệp Trung Quốc bị chi phối bởi các mô hình phát triển kinh tế ở các thời kỳ trước và sau cải cách, mở cửa. Gần đây, sau khi gia nhập WTO, nông nghiệp Trung Quốc có nhiều thay đổi.

Do đó, an ninh lương thực và những lợi thế trong trao đổi thương mại cũng là nội dung có tầm quan trọng đặc biệt trong các nghiên cứu của các chuyên gia, nhà khoa học và các học giả trong và ngoài nước. Khái lược chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc trước khi gia nhập WTO Giai đoạn trước 1978 Sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957), trong giai đoạn 1958 - 1978, Trung Quốc đã thực hiện nhiều phong trào: Đại nhảy vọt, Đại cách mạng văn hóa, Bốn hiện đại hóa. “Đại nhảy vọt” (1958 - 1965) là một chiến dịch của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó yêu cầu tất cả người dân Trung Quốc phải tham gia sản xuất thép, nông dân buộc phải dồn sức vào nhiệm vụ này nên sao nhãng việc đồng ruộng vốn là công việc chủ đạo của họ, dẫn tới nông dân bỏ hoang mùa vụ. Về nông nghiệp, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng các “công xã nhân dân” (quy mô mỗi công xã nhân dân rất lớn: phạm vi một huyện, khoảng 5.000 hộ nông dân).

Năm 1958, phần lớn các hộ nông dân đã được đưa vào các công xã. Đây là giai đoạn khắp nông thôn Trung Quốc tiến hành tập trung tư liệu sản xuất của nông dân, kinh tế phụ gia đình bị xóa bỏ và thực hiện chính sách “phân phối bình quân” theo phương châm “cả nước ăn chung một nồi cơm to, cả nước cùng quá độ nghèo đi lên chủ nghĩa xã hội, càng nghèo càng cách mạng”. Tư tưởng “tả khuynh” trong phát triển đã khiến cho nền kinh tế Trung Quốc đứng trước những hậu quả nghiêm trọng. Sản lượng lương thực năm 1960 sụt giảm xuống còn 160 triệu tấn, hàng năm Trung Quốc phải nhập một khối lượng lương thực bằng khoảng hơn 30% tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu.

Đây là một thảm họa kinh tế dẫn tới “nạn đói lớn”, một nạn đói toàn quốc đã lấy đi khoảng 40 triệu sinh mạng. Từ năm 1966 đến 1976, Trung Quốc thực hiện phong trào “Đại cách mạng văn hóa vô sản”, công nghiệp nặng lại tiếp tục được tập trung 12 phát triển. Sản xuất nông nghiệp ngày càng trì trệ, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, năng suất và thu nhập của người lao động thấp. Tốc độ tăng trưởng hàng năm giảm bình quân 0,4%.

So với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953 - 1957) sản xuất ngũ cốc chỉ còn 15%. Chính sách “Bốn hiện đại hóa” trong giai đoạn 1976 - 1978, dẫn đến hàng năm Trung Quốc phải nhập khẩu một lượng lương thực và thực phẩm chiếm tới 20% tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu. Có thể thấy, trong các chính sách này, tư tưởng “tả khuynh”, chủ quan, nóng vội đã không mang lại kết quả mong muốn. Cuối cùng, nền kinh tế rơi vào tình trạng bế tắc, khủng hoảng trầm trọng mà người Trung Quốc đã đúc kết lại trong ba từ “Tử - lãn - cùng”.

Đứng trước tình hình đó, Trung Quốc đã nhận thức, đánh giá lại thực trạng nền kinh tế và chủ trương cải cách, mở cửa năm 1978. Kể từ đó, Trung Quốc bước sang giai đoạn mới của sự phát triển5. Giai đoạn 1978 – trước khi gia nhập WTO Đề cập đến nông nghiệp và phát triển nông nghiệp của Trung Quốc sau khi nước này tiến hành chính sách cải cách và mở cửa từ năm 1978, có rất nhiều công trình nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu trên thế giới và của Trung Quốc. Tất cả các nghiên cứu này đều xoay quanh chủ đề về đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân (gọi là Tam nông) ở Trung Quốc.

Nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, các phương pháp nâng cao năng suất lao động và chuyên môn hóa. Nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế chính sách chuyển đổi nền nông nghiệp Trung Quốc từ sản xuất tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về những thay đổi trong cơ chế chính sách nhằm xóa bỏ các rào cản trong nông nghiệp để giải phóng sức sản xuất, nghiên cứu về chế độ khoán tới hộ nông dân trong thập niên 80 của thế kỷ trước. Tiêu biểu như các tác giả có các công trình nghiên cứu được đề cập dưới đây: Yiphing Huang (1997) đã phân tích nhiều khía cạnh trong công cuộc cải cách nền nông nghiệp Trung Quốc từ sau khi thành lập nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa (1949) cho đến những năm 1990. Cải cách nông nghiệp ở Trung Quốc bắt đầu từ cuối năm 1978.

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khóa XI (1978), Trung Quốc đã coi “Nông nghiệp là cơ sở của nền kinh tế quốc dân và nhiệm vụ hàng đầu đặt ra trước mắt là tập trung tinh lực làm cho nền nông nghiệp lạc hậu mau chóng phát triển”. Với tinh thần ấy, Hội nghị Trung ương lần thứ 3 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhấn mạnh phải quan tâm đầy đủ tới lợi ích vật chất của người lao động, phải trả thù lao cho xã viên theo số lượng và chất lượng lao động, kiên quyết chống “chủ nghĩa bình quân” trong phân 5 Dẫn theo giáo trình Lịch sử kinh tế, chủ biên: Nguyễn Trí Dĩnh, Phạm Huy Vinh, Trần Khánh Hưng (2013). Trong nông nghiệp, chế độ công xã nhân dân được xóa bỏ, thay vào đó Trung Quốc đã thực hiện “chế độ khoán hộ” trong sản xuất nông nghiệp. Chế độ khoán thực chất là hình thức lao động hợp đồng, được ký kết giữa 3 bên: nhà nước, tập thể, hộ hay nhóm hộ nông dân.

Sau khi ký kết, các đội sản xuất căn cứ vào kế hoạch của nhà nước và điều kiện cụ thể để giao ruộng đất và các tư liệu sản xuất cho các hộ hoặc nhóm hộ nhận khoán kinh doanh. Chế độ khoán ở nông thôn Trung Quốc là hình thức cụ thể của việc tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng ruộng đất. Nhờ đó, người nông dân đã phát huy được quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, sức sản xuất trong nông nghiệp nông thôn được giải phóng. Từ 1979 đến 1984 sản phẩm nông nghiệp tăng 7,4 %/năm và sản lượng ngũ cốc tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 5%.

Từ 1982 đến 1984, sản lượng ngũ cốc tăng trưởng khá “ngoạn mục”, trung bình khoảng 8%/năm. Cải cách trong nông nghiệp Trung Quốc được đánh giá là rất thành công với kỷ lục tăng trưởng cao trong sự trỗi dậy của giai đoạn đầu cải cách được gọi là "điều kì diệu" (Huang, 1997). Tuy nhiên, sau năm 1985 khi chính phủ thúc đẩy cải cách thị trường, các vấn đề bức thiết lại nằm ở chính lĩnh vực nông nghiệp. Tỷ lệ tăng trưởng nông nghiệp giảm (trở lại mức dưới 4%).

Tăng trưởng trung bình hàng năm là 3,8% trong suốt thời kỳ 1985-1994. Mặc dù tỷ lệ này không thấp so với tiêu chuẩn quốc tế, nhưng ở Trung Quốc nó được coi là sự sụt giảm đáng kể. Sản lượng ngũ cốc chỉ tăng 0,9% mỗi năm, giảm lần đầu tiên vào năm 1985 sau đó thấp hơn ở các năm 1988, 1991, 1994. Giá cả trong nông nghiệp tăng lên và sản lượng ngũ cốc giảm đã gây ra vấn đề kinh tế vĩ mô nghiêm trọng.

Theo Cục thống kê Trung Quốc, giá thực phẩm tăng khoảng 32% năm 1994. Áp lực lạm phát cao tác động đến chi phí tiêu dùng, làm tăng chi phí sản xuất đã ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước. Sự đối lập sâu sắc giữa nền nông nghiệp giai đoạn trước và sau năm 1985 là do chính sách cải cách nông nghiệp. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, chính phủ giảm đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp.

Mặc dù vậy, chúng ta vẫn phải ghi nhận, những cải cách quyết liệt từ cuối năm 1978 đã giúp hàng triệu người dân Trung Quốc thoát nghèo. Tỷ lệ nghèo của Trung Quốc đã giảm từ 53% (năm 1981) xuống còn 8% vào năm 20016. Giai đoạn đàm phán, chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, Trung Quốc đã có những thay đổi trong chính sách thuế quan và các rào cản phi thuế. Thuế nhập khẩu nông sản giảm dần để phù hợp với lộ trình gia nhập (Martin, 2001; J.

6 Cục Thống kê Trung Quốc. Họ cũng sử dụng hệ thống hạn ngạch thuế quan như một công cụ chủ yếu để điều tiết việc xuất, nhập khẩu đối với một số mặt hàng “nhạy cảm” như lúa mì, ngô, gạo, dầu đậu nành, bông, len, đường, dầu cọ (W. Trước khi gia nhập WTO, mức độ tham gia thị trường thế giới của nông nghiệp Trung Quốc ở mức độ rất thấp. Trung Quốc vẫn cân nhắc tự giải quyết vấn đề lương thực quốc gia.

Đồng thời, họ cũng hạn chế các doanh nghiệp có quyền hợp pháp tham gia vào thương mại quốc tế. Các loại ngũ cốc, bông, dầu thực vật chỉ được nhập khẩu thông qua các doanh nghiệp thương mại nhà nước (Martin, 1999; Huang và Rozelle, 2001). Mức độ đầu tư của chính phủ Trung Quốc cho phát triển nông nghiệp, như chính sách khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng, đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn còn nhiều hạn chế về các nguồn lực. Nhiều nghiên cứu cũng ghi nhận, việc thay đổi “công nghệ dẫn đầu” là động cơ chủ yếu trong tăng trưởng nông nghiệp (J.

Huang and Rozelle, 1996; Fan and Pardey, 1997). Giai đoạn từ 1970 đến đầu những năm 1990, tỷ lệ đầu tư nông nghiệp so với tổng sản phẩm nông nghiệp trong nước (AGDP) cũng có sự giảm sút (năm 1978: 7,65% giảm xuống 3,6% năm 1995). Tổng quan các chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO Khi toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành trào lưu trên toàn thế giới, mỗi quốc gia là một thực thể và tồn tại độc lập trong mối liên hệ phụ thuộc, có tác động qua lại với nhau. Trong xu thế chung của thế giới, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đặt ra là một tất yếu khách quan.

Bước vào thập niên 90, khi Trung Quốc chuyển sang giai đoạn nhìn ra thế giới và bắt đầu khởi động gia nhập WTO, nhiều nghiên cứu về mảng chủ đề này đã được công bố.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO: Bài học và ứng dụng cho Việt Nam" của tác giả Lê Hữu Tầng và Lưu Hàm Nhạc, được công bố bởi Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, phân tích những thay đổi trong chính sách nông nghiệp của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO và rút ra những bài học quý giá cho Việt Nam. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các chính sách phù hợp để phát triển nông nghiệp bền vững, đồng thời chỉ ra những thách thức mà Việt Nam có thể gặp phải trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức cải thiện chính sách nông nghiệp, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Giáo trình hướng dẫn tổ chức công tác khuyến nông hiệu quả, nơi cung cấp những phương pháp tổ chức công tác khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ về pháp luật môi trường trong hoạt động nông nghiệp ở Việt Nam cũng là một tài liệu quan trọng, giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý ảnh hưởng đến nông nghiệp. Cuối cùng, Sử dụng Đất Nông Nghiệp ở Nông Cống, Thanh Hóa (2014-2019): Hiện Trạng và Phân Tích sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại một địa phương cụ thể, từ đó rút ra những bài học cho các vùng khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về chính sách và thực tiễn nông nghiệp tại Việt Nam.