CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất 1. Một số thuật ngữ - Cơ cấu: Là một phạm trù triết học dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống. Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định hay nói cách khác đó là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng của chỉnh thể (Viện Ngôn ngữ học, 2006).
- Chuyển đổi: Là sự thay đổi từ một loại này sang một loại khác hay nói cách khác đó chính là sự thay đổi từng bước từ cái này sang cái khác để không gây xáo trộn lớn (Viện Ngôn ngữ học, 2006). - Sử dụng đất đai: Đem đất đai dùng vào mục đích nào đó (Viện Ngôn ngữ học, 2006). - Cơ cấu sử dụng đất: Được xác định bằng tỷ lệ phần trăm của mục đích sử dụng đất đó chia cho tổng diện tích đất tự nhiên. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất.
Trên cơ sở tổng hợp chúng tôi đưa ra quan điểm về chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất như sau: Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất là thay đổi mục đích sử dụng đất đai nhằm đạt được hiệu quả cao hơn phù hợp với điều kiện và cơ hội sản xuất khác nhau. Sử dụng đất đai 1. Những lữi ích khác nhau vữ sữ dững đữt Những người trực tiếp sử dụng đất và những người có liên quan đến việc sử dụng đất có những lợi ích khác nhau về việc sử dụng đất do đất là nguồn tài nguyên, là tư liệu sản xuất được sử dụng để thoả mãn nhu cầu cho những người có mối quan hệ gắn bó với đất. Có những vấn đề ưu tiên trước mắt và lâu dài, tuỳ thuộc vào mục tiêu của từng người sử dụng đất, từ đó họ có những quyết định sử dụng đất theo hướng mục tiêu của mình.
Vấn đề ưu tiên trước mắt của người nông dân là sản xuất lương thực và 5 thu nhập. Do đó các quyết định sử dụng đất của người nông dân với những mục tiêu cho thời gian gần, còn các lợi ích về lâu dài thường ít được chú trọng và quan tâm. Một cộng đồng lớn hơn - như ở cấp quốc gia - cũng là một đối tượng sử dụng đất theo cách nhìn nhận đất đai được dùng cho: đô thị, điều kiện cơ sở vật chất, công nghiệp, giải trí. Ở phạm vi này, các mục tiêu cơ bản là nâng cao mức sống và đáp ứng mọi nhu cầu của người dân.
Các mục tiêu của quốc gia có xu hướng lâu dài, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên cho tương lai. Vì vậy, thường tồn tại một sự phân biệt cơ bản về lợi ích giữa các mục tiêu của người sử dụng đất thực tế và của cộng đồng nơi họ sinh sống. Cộng đồng - dù là địa phương, tỉnh hoặc quốc gia - sẽ thường xuyên cố gắng gây ảnh hưởng lên cách thức sử dụng đất hoặc là bằng việc mở rộng các chương trình, trợ cấp hoặc là bằng pháp luật. Vậy trong sử dụng đất đai phải tính đến lợi ích đa dạng của mọi tổ chức, cá nhân từ lợi ích của người sử dụng đất trực tiếp, lợi ích của khu vực, lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia.
Ngoài ra, việc sử dụng đất của người dân và quốc gia này cũng ảnh hưởng tới các nước lân cận và các nước khác trên toàn thế giới. Đó là tình hình ô nhiễm hoặc những tác động có hại gây ảnh hưởng từ nước này sang nước khác, hoặc là nơi mà các hoạt động của một nước hoặc một nhóm các nước trong khu vực gây ảnh hưởng đến các hệ thống toàn cầu làm tổn hại tới tất cả chúng ta (Cục Khuyến nông và Khuyến lâm, 1996). Những nhân tữ ữnh hữững đữn viữc sữ dững đữt a) Nhân tố tự nhiên: Do vị trí địa lý của vùng quyết định sự sai khác về tình trạng nguồn nước, nhiệt độ, ánh sáng và các điều kiện tự nhiên khác của đất đai, ở một mức độ tương đối lớn, chúng quyết định khả năng sử dụng của đất đai. Vị trí của đất đai và mức độ thuận lợi, khó khăn, quyết định công dụng tối ưu và hiệu quả sử dụng đất đai.
Do vậy, trong quá trình thực tiễn nên sử dụng theo quy luật tự nhiên, phục tùng điều kiện tự nhiên, lợi dụng thế mạnh, tận dụng mặt có lợi để có thể đạt tới sử dụng đất với hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường. b) Nhân tố kinh tế - xã hội: Đây là nhân tố thường có tác dụng quyết định đối với sử dụng đất đai. Việc xác định phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và một mục tiêu kinh tế nhất định. Trong một vùng hoặc trong một nước thì điều kiện vật chất tự nhiên của đất đai là cố định, nhưng do điều 6 kiện kinh tế xã hội khác nhau nên việc khai thác và sử dụng đất đai cũng khác nhau.
Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, cũng có tác dụng khống chế và quản lý đối với sử dụng đất đai khác nhau, phương thức và hiệu quả sử dụng đất cũng không giống nhau. Trình độ phát triển xã hội và kinh tế cũng làm cho trình độ sử dụng đất đai phát triển ngày càng cao. c) Nhân tố không gian: Nhân tố không gian của đất đai có đặc tính là không thể thay thế và cũng không thể dịch chuyển được. Từ đó, việc phân bổ sử dụng đất của con người không thể vượt qua phạm vi giới hạn không gian hiện có.
Điều này nói lên rằng, theo đà phát triển của dân số và kinh tế - xã hội tác dụng hạn chế của không gian đất đai sẽ thường xuyên xảy ra. Sự cố định bất biến của tổng diện tích đất đai, không chỉ hạn chế sự mở rộng không gian sử dụng đất, mà còn qui định giới hạn thay đổi của cơ cấu dùng đất. Do vậy, trong khi tiến hành điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, cần phải chú ý tới yêu cầu của xã hội đối với loại đất và số lượng đất đai mà sản xuất cần, đồng thời xác định sức sản xuất và diện tích cần có để đảm bảo sức tải của đất đai (Lê Xuân Thảo, 2004). Sữ dững đữt đai trên thữ giữi - Diện tích: Tổng diện tích đất đai trên thế giới 133.137 nghìn km2 - Phân bổ: theo các châu lục (km2): châu Phi 30.312 nghìn km2; châu Mỹ 42.322 nghìn km2; châu Á 31.877 nghìn km2; châu Âu 23.061 nghìn km2; châu Đại Dương 8.
- Tiềm năng đất nông nghiệp: Hiện nay, thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp. Tiềm năng đất nông nghiệp của hành tinh chúng ta là lớn, khoảng 3 - 5 tỷ ha. Tuy nhiên trong lịch sử tiến hóa của nhân loại, con người đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hàng năm có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn và thoái hóa. Với năng suất trung bình hiện nay để thỏa mãn nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp phải có 0,04 ha đất canh tác trên đầu người.
Như vậy, hàng năm trên thế giới phải khai thác để đưa vào sản xuất nông nghiệp khoảng 30 triệu ha (Nguyễn Đình Bồng và Lê Thanh Khuyến, năm 2010). Sữ dững đữt đai tữi Viữt Nam Theo Bộ TN&MT tổng diện tích tự nhiên của cả nước khoảng 33.095 nghìn ha 7 (tính đến 01/01/2010), được chia làm các mục đích sử dụng như sau: - Đất nông nghiệp: Diện tích đất nông nghiệp đến năm 2010 có 26.226 nghìn ha, tăng 4.694 nghìn ha so với năm 2000 (bình quân tăng khoảng 470 nghìn ha/năm) và 1.404 nghìn ha so với năm 2005 (bình quân tăng khoảng 281 nghìn ha/năm). - Đất phi nông nghiệp: Có 3.705 nghìn ha (tăng 855 nghìn ha so với năm 2000), chiếm 11,20% diện tích tự nhiên. - Đất chưa sử dụng: 3.164 nghìn ha, chiếm 9,56% diện tích tự nhiên.
Đất chưa sử dụng có xu hướng giảm mạnh trong những năm qua (bình quân mỗi năm 557 nghìn ha), chủ yếu đưa vào mục đích lâm nghiệp cho khoanh nuôi phục hồi rừng và trồng rừng. Mặc dù, diện tích đất chưa sử dụng giảm mạnh, nhưng hiện cả nước vẫn còn 3.164 nghìn ha, trong đó: đất bằng chưa sử dụng còn 237 nghìn ha, phân bố rải rác ở các xã, nhất là khu vực ven sông, ven biển.; đất đồi núi chưa sử dụng còn 2.633 nghìn ha, phần lớn là đất dốc đã qua sử dụng để canh tác nương rẫy, chất lượng đất bị suy giảm (Bộ TN&MT, 2010b). Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất được xem là một đóng góp quan trọng của sự thay đổi môi trường toàn cầu. Ước tính cho thấy rằng sự thay đổi đất con người đã tác động đến 40% bề mặt bị đóng băng của trái đất, chủ yếu là do sự chuyển đổi của các hệ sinh thái tự nhiên cho đất canh tác và đồng cỏ (Foley and DeFries, 2005).
Các tác động của chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đai trên các hệ sinh thái lớn hơn trên các vùng nhiệt đới, nơi chuyển đổi đất nông nghiệp chủ yếu xảy ra trên vùng đất rừng còn nguyên vẹn (Gibbs and Ruesch, 2010). Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất là kết quả của sự tương tác từ nhiều yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường xảy ra ở nhiều cấp bậc và quy mô không gian (Lambin, and Geist, 2003). Thay đổi dân số, nông thôn di cư đô thị, mô hình tiêu thụ, sự hiện diện và hiệu quả của các tổ chức xã hội và các chính sách sử dụng đất là tất cả các ví dụ về các yếu tố địa phương có thể ảnh hưởng đến các mô hình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đai (Morton and DeFries 2006), ( Lambin and Turner, 2001). Ngoài ra, biến đổi khí hậu và biến đổi (ví dụ , hạn hán , bão nhiệt đới ) là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thay đổi đất (Grau and Aide, 2008).
Từ góc độ khu vực, khu 8 vực địa lý nhất định dễ bị tác động kết hợp của khí hậu toàn cầu, chính trị - xã hội và các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến biến động đất đai (Lambin and Geist, 2003), (O’Brien and Leichenko, 2000).