Tổng quan nghiên cứu
Thực trạng sử dụng thuốc không hợp lý, đặc biệt là việc tự ý mua bán thuốc kháng sinh và thuốc đặc trị không qua thăm khám, đang là thách thức y tế công cộng nghiêm trọng tại Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Y tế, có tới 9/10 người dân mua thuốc kháng sinh tại các cơ sở bán lẻ mà không xuất trình đơn của bác sĩ, trong đó nhóm thuốc kháng khuẩn chiếm xấp xỉ 25% tổng doanh số bán lẻ hàng ngày. Việc lạm dụng thuốc kê đơn không chỉ làm gia tăng chi phí điều trị ngoại trú mà còn đẩy nhanh tốc độ đề kháng kháng sinh, dẫn đến nhiều biến chứng lâm sàng phức tạp.
Tại tỉnh An Giang, mặc dù toàn bộ 1.534 cơ sở bán lẻ thuốc (bao gồm 12 nhà thuốc bệnh viện, 05 quầy thuốc bệnh viện và hơn 1.500 nhà thuốc, quầy thuốc tư nhân) đều đã được cấp chứng nhận đạt chuẩn Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc (GPP), tình trạng cung ứng thuốc kê đơn tùy tiện vẫn diễn biến phức tạp. Nhằm giải quyết thực trạng này, đề tài được triển khai với ba mục tiêu trọng tâm:
- Xác định tỷ lệ bán thuốc kê đơn đúng quy chế cùng mức độ kiến thức, thực hành chuẩn của 94 nhân viên tại 17 nhà thuốc và quầy thuốc bệnh viện trên địa bàn tỉnh An Giang.
- Phân tích các yếu tố liên quan và căn nguyên dẫn đến hành vi bán thuốc không đơn dựa trên khung lý thuyết hành vi có dự định (TPB).
- Đánh giá sự thay đổi về nhận thức và thực hành của nhân viên sau khi áp dụng chương trình can thiệp thông tin, giáo dục và truyền thông (IEC).
Nghiên cứu được tiến hành toàn diện từ tháng 04/2018 đến tháng 09/2019. Kết quả cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, góp phần hỗ trợ Sở Y tế tỉnh An Giang triển khai hiệu quả Quyết định số 4041/QĐ-BYT về kiểm soát kê đơn và bán thuốc kê đơn giai đoạn 2017–2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu tích hợp các mô hình hành vi xã hội và quy chuẩn pháp lý y tế để làm sáng tỏ bản chất của hành vi bán thuốc:
- Mô hình hành vi có dự định (Theory of Planned Behavior – TPB): Được phát triển bởi Icek Ajzen (1991) từ Thuyết hành động hợp lý (TRA), mô hình giải thích ý định và hành vi thực tế của nhân viên bán lẻ thuốc qua ba thành tố: Thái độ đối với hành vi (niềm tin về kết quả và lợi nhuận mang lại), Chuẩn chủ quan (áp lực từ người mua, đồng nghiệp và chủ cơ sở kinh doanh), và Nhận thức kiểm soát hành vi (năng lực nhận diện thuốc, thói quen nghề nghiệp và mức độ giám sát pháp lý).
- Phương pháp Thông tin – Giáo dục – Truyền thông (IEC): Khung can thiệp chuyển đổi hành vi sức khỏe cộng đồng thông qua việc cung cấp kiến thức hai chiều, thảo luận nhóm nhỏ có tương tác và huấn luyện kỹ năng tư vấn chuyên biệt cho nhân viên nhà thuốc.
- Hệ thống văn bản quy chuẩn hành nghề Dược: Khung tham chiếu pháp lý bao gồm Luật Dược số 105/2016/QH13 (nghiêm cấm bán lẻ thuốc kê đơn không đơn), Nghị định số 176/2013/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính trong y tế), Thông tư số 07/2017/TT-BYT (ban hành danh mục thuốc không kê đơn), Thông tư số 52/2017/TT-BYT (quy định về đơn thuốc và kê đơn ngoại trú) và Thông tư số 02/2018/TT-BYT (bộ nguyên tắc GPP).
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp thiết kế can thiệp giáo dục sức khỏe đánh giá trước – sau không nhóm chứng.
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu chọn mẫu toàn bộ (toàn bộ quần thể đích) gồm 17 nhà thuốc, quầy thuốc trực thuộc các bệnh viện trên địa bàn tỉnh An Giang và toàn bộ 94 nhân viên y tế trực tiếp tham gia bán lẻ thuốc tại các cơ sở này.
- Kỹ thuật thu thập số liệu: Sử dụng kỹ thuật "khách hàng bí mật" (đóng vai người mua thuốc kháng sinh và thuốc hạ huyết áp mà không có đơn tối đa 10 lần tại mỗi cơ sở) nhằm đo lường chính xác thực hành thực tế, kết hợp bộ phiếu phỏng vấn cấu trúc chuẩn hóa 20 câu hỏi kiến thức và 18 câu hỏi thực hành.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Số liệu được làm sạch, mã hóa và xử lý trên phần mềm thống kê SPSS phiên bản 18.0. Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm), kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$) để xác định mối liên quan giữa các biến nhân khẩu học với hành vi vi phạm, và kiểm định McNemar đối với mẫu bắt cặp nhằm so sánh sự biến thiên kiến thức, thực hành của 94 nhân viên trước và sau can thiệp 03 tháng tại ngưỡng ý nghĩa thống kê $p < 0,05$.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực địa và phân tích định lượng đã ghi nhận những chỉ số chuyên môn quan trọng:
- Tỷ lệ vi phạm bán thuốc ở mức cao: Khi tiến hành khảo sát thực tế qua đóng vai khách hàng, chỉ có 29,4% cơ sở (5/17 nhà thuốc bệnh viện) thực hiện bán thuốc đúng quy định, trong khi có tới 70,6% (12/17 cơ sở) đồng ý bán thuốc kê đơn dù người mua không xuất trình đơn hợp lệ.
- Mức độ tuân thủ của nhân viên bán thuốc thấp: Ở cấp độ cá nhân người trực tiếp đứng quầy, tỷ lệ nhân viên bán thuốc kê đơn đúng quy chế chỉ đạt 22,3% (21/94 người), đồng nghĩa với 77,7% (73/94 người) sẵn sàng cấp phát thuốc kháng sinh hoặc thuốc tim mạch theo yêu cầu chủ quan của người mua.
- Nghịch lý giữa kiến thức và hành vi: Có tới 92,6% nhân viên (87/94 người) đạt điểm kiến thức chung đúng về các văn bản pháp luật, tiêu chuẩn phân loại thuốc theo Thông tư 07/2017/TT-BYT và thời hạn lưu đơn thuốc. Tuy nhiên, mức độ hiểu biết lý thuyết xuất sắc này hoàn toàn đối lập với tỷ lệ thực hành bán thuốc đúng chỉ dừng lại ở con số 22,3%.
- Đặc điểm lực lượng lao động: Nữ giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 73,4% (69/94 người); độ tuổi từ 30 đến 44 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 53,2% (50/94 người). Về cơ cấu chuyên môn, Dược sĩ trung học chiếm tỷ trọng lớn nhất với 62,8% (59 người), Cao đẳng dược chiếm 14,9% (14 người), Dược sĩ đại học và sau đại học chiếm 20,2% (19 người), còn lại là Dược tá chiếm 2,1% (2 người). Về kinh nghiệm, nhóm có thâm niên từ 1 đến dưới 5 năm chiếm đa số với 45,7% (43 người).
Thực trạng tuân thủ bán thuốc kê đơn tại Nhà thuốc Bệnh viện (An Giang):
+-------------------------------------------------------------+
| Tiêu chí khảo sát | Tỷ lệ Đúng | Tỷ lệ Chưa đúng |
+-------------------------------------------------------------+
| Cấp độ Cơ sở (n = 17 nhà thuốc) | 29,4% | 70,6% |
| Cấp độ Cá nhân (n = 94 nhân sự) | 22,3% | 77,7% |
| Mức độ Kiến thức chuẩn (n = 94) | 92,6% | 7,4% |
+-------------------------------------------------------------+
Thảo luận kết quả
Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ kiến thức đạt chuẩn (92,6%) và tỷ lệ hành vi thực hành đúng (22,3%) minh chứng rằng hiểu biết pháp lý không tự động chuyển hóa thành hành động tuân thủ. Dưới góc nhìn của mô hình TPB, hành vi bán thuốc không đơn bị chi phối mạnh mẽ bởi các yếu tố:
- Chuẩn chủ quan và áp lực thị trường: Người bán chịu áp lực cạnh tranh doanh thu gay gắt và tâm lý sợ mất khách quen nếu từ chối yêu cầu. Thói quen tự điều trị của người dân tạo sức ép trực tiếp lên nhân viên quầy thuốc.
- Nhận thức kiểm soát và niềm tin chủ quan: 62,8% nhân viên là Dược sĩ trung học thường có xu hướng ỷ lại vào kinh nghiệm xử lý các triệu chứng thông thường, tự cho rằng mình đủ khả năng chẩn đoán và phối hợp thuốc mà không lường hết nguy cơ kháng thuốc hoặc phản ứng có hại (ADR).
- Hiệu lực chế tài chưa đủ sức răn đe: Dữ liệu thanh tra Sở Y tế tỉnh An Giang năm 2018 cho thấy đã kiểm tra 81 cơ sở bán lẻ và 16 doanh nghiệp dược với tổng số tiền phạt 386.000 đồng cho các lỗi bảo quản, nhãn mác, nhưng chưa từng xử phạt hành chính trường hợp nào bán thuốc kê đơn không đơn.
Mô hình can thiệp IEC kéo dài 03 tháng qua hình thức thảo luận nhóm nhỏ đã chứng minh hiệu quả vượt trội, tái lập chuẩn mực thực hành đạo đức và nâng cao tỷ lệ tuân thủ bán thuốc đúng quy định sau can thiệp có ý nghĩa thống kê rõ rệt ($p < 0,05$).
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và chuẩn hóa hoạt động bán thuốc kê đơn, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Ứng dụng công nghệ thông tin và liên thông dữ liệu quốc gia: Sở Y tế tỉnh An Giang cần đôn đốc và giám sát 100% cơ sở bán lẻ thuốc duy trì phần mềm kết nối mạng dữ liệu Dược quốc gia theo Thông tư 02/2018/TT-BYT; đặt mục tiêu kiểm soát trên 90% lượng thuốc kháng sinh bán ra thông qua mã đơn thuốc điện tử trong giai đoạn 2020–2025.
- Đổi mới và chuẩn hóa công tác đào tạo liên tục (CPE): Các bệnh viện tuyến tỉnh và trung tâm y tế huyện tổ chức định kỳ 02 khóa tập huấn chuyên môn mỗi năm cho 100% nhân viên nhà thuốc, tập trung rèn luyện kỹ năng tư vấn từ chối bán thuốc kê đơn không đơn và cập nhật Thông tư 07/2017/TT-BYT.
- Tăng cường kiểm tra đột xuất và siết chặt chế tài xử phạt: Thanh tra Sở Y tế cần định kỳ thanh tra tối thiểu 30% số cơ sở bán lẻ mỗi quý, áp dụng phương pháp đóng vai khách hàng để phát hiện sai phạm; nâng mức phạt tiền và xem xét đình chỉ chứng chỉ hành nghề đối với các cơ sở cố tình tái phạm bán thuốc kê đơn sai quy chế.
- Triển khai chiến dịch truyền thông cộng đồng (IEC) diện rộng: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) An Giang phối hợp với cơ quan báo đài phát sóng thông điệp cảnh báo nguy cơ kháng kháng sinh với tần suất 03 lần/tuần, hướng tới mục tiêu giảm 50% thói quen tự mua thuốc không đơn của người dân trong vòng 24 tháng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý Dược và Thanh tra Sở Y tế: Nắm bắt thực trạng tuân thủ 29,4% tại địa phương để xây dựng kế hoạch thanh tra chuyên đề, hoàn thiện quy chế giám sát nhà thuốc bệnh viện và triển khai các đề án kiểm soát kê đơn cấp tỉnh.
- Lãnh đạo Bệnh viện và Trưởng khoa Dược: Sử dụng kết quả đánh giá để tái cấu trúc quy trình quản lý quầy thuốc bệnh viện, chuẩn hóa quy chế giám sát nội bộ và xây dựng tiêu chí thi đua chuyên môn cho đội ngũ nhân viên trực tiếp bán thuốc.
- Dược sĩ, chủ cơ sở và nhân viên bán lẻ thuốc: Tham khảo hệ thống 20 chỉ số kiến thức và 18 chuẩn mực thực hành để tự đối chiếu, nâng cao năng lực nhận diện danh mục thuốc kê đơn và trau dồi kỹ năng giao tiếp y khoa khi xử lý tình huống người bệnh không có đơn.
- Giảng viên và học viên sau đại học ngành Tổ chức Quản lý Dược: Tiếp cận một nghiên cứu mẫu mực về phương pháp kết hợp điều tra cắt ngang với can thiệp cộng đồng IEC, ứng dụng mô hình TPB và kỹ thuật xử lý dữ liệu SPSS trong nghiên cứu quản lý y tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nào để đo lường chính xác tỷ lệ vi phạm bán thuốc?
Tác giả áp dụng phương pháp "khách hàng bí mật", cử nghiên cứu viên đóng vai người mua thuốc kháng sinh và thuốc tim mạch không mang theo đơn tại 17 cơ sở nhà thuốc bệnh viện (tối đa 10 lần/nhà thuốc). Phương pháp này giúp ghi nhận hành vi thực tế khách quan mà không bị chi phối bởi tâm lý đối phó của nhân viên khi biết có đoàn kiểm tra.
2. Vì sao có sự chênh lệch lớn giữa kiến thức đúng (92,6%) và thực hành đúng (22,3%)?
Nguyên nhân chủ yếu do áp lực tối ưu hóa lợi nhuận kinh doanh, tâm lý sợ mất khách hàng vào tay các quầy thuốc khác, thói quen nể nang người mua và sự thiếu vắng các biện pháp xử phạt nghiêm minh từ cơ quan quản lý y tế địa phương đối với hành vi bán thuốc không đơn.
3. Đối tượng nhân viên nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong lực lượng bán lẻ thuốc bệnh viện tại An Giang?
Dược sĩ trung học chiếm tỷ trọng lớn nhất với 62,8% (59/94 người), tiếp theo là Dược sĩ đại học và sau đại học chiếm 20,2% (19 người), Cao đẳng dược chiếm 14,9% (14 người) và Dược tá chiếm 2,1% (2 người). Nữ giới chiếm đa số với 73,4%.
4. Can thiệp bằng phương pháp IEC trong nghiên cứu mang lại giá trị gì?
Chương trình can thiệp thông qua thảo luận nhóm nhỏ trong 03 tháng giúp giải tỏa các vướng mắc pháp lý, cung cấp kiến thức phân loại thuốc theo Thông tư 07/2017/TT-BYT và rèn luyện kỹ năng tư vấn, qua đó tạo chuyển biến rõ rệt về tỷ lệ thực hành đúng sau can thiệp ($p < 0,05$).
5. Các văn bản pháp luật cốt lõi nào được sử dụng làm căn cứ đánh giá trong luận văn?
Nghiên cứu căn cứ trên Luật Dược số 105/2016/QH13, Nghị định số 176/2013/NĐ-CP, Thông tư số 07/2017/TT-BYT quy định danh mục thuốc không kê đơn, Thông tư số 52/2017/TT-BYT về kê đơn thuốc ngoại trú và Thông tư số 02/2018/TT-BYT về chuẩn GPP.
Kết luận
- Đề tài đã phản ánh bức tranh thực tế về hoạt động cung ứng thuốc tại 17 nhà thuốc bệnh viện tỉnh An Giang với tỷ lệ bán thuốc kê đơn chưa đúng quy định chiếm tới 70,6% ở cấp cơ sở và 77,7% ở cấp nhân viên bán thuốc.
- Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý sâu sắc giữa nhận thức lý thuyết đạt chuẩn ở mức rất cao (92,6%) và thực hành tuân thủ thực tế còn thấp (22,3%), chịu tác động đa chiều từ chuẩn chủ quan và lợi ích kinh tế theo mô hình TPB.
- Khẳng định tính ưu việt và khả năng nhân rộng của mô hình can thiệp giáo dục truyền thông IEC trong việc thay đổi nhận thức, củng cố đạo đức hành nghề Dược.
- Xác lập lộ trình trọng tâm giai đoạn 2020–2025: Đẩy mạnh kết nối mạng 100% nhà thuốc, siết chặt quản lý đơn thuốc điện tử và tăng cường thanh kiểm tra định kỳ.
- Đội ngũ Dược sĩ và các cơ sở y tế cần nâng cao tinh thần trách nhiệm cộng đồng, kiên quyết tuân thủ nguyên tắc "chỉ bán thuốc kê đơn khi có đơn hợp lệ" nhằm bảo vệ an toàn người bệnh và ngăn chặn thảm họa kháng thuốc kháng sinh.