ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành y tế thế giới cảnh báo: ''Bỏng là thảm hoạ nặng nề nhất, chỉ đứng sau cái chết mà nạn nhân phải gánh chịu'' [3]. Bỏng là một tai nạn phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em từ 1 đến 5 tuổi [70]. Không chỉ gây đau đớn, ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tâm lý, bỏng ở trẻ em có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách. Bỏng ở trẻ em, mặc dù nhỏ, có thể gây mất muối, nước, huyết tương.dẫn đến sốc, nhiễm trùng, ngộ độc và tử vong.
Tổn thương thương bỏng gây đau đớn và sợ hãi cho trẻ, thậm chí gây rối loạn nhân cách, suy giảm sức đề kháng, tạo ra tâm lý không thích tiếp xúc. Chấn thương bỏng ở trẻ em được báo cáo ngay cả ở các nước phát triển và thống kê cho thấy 50% số ca bỏng dưới 6 tuổi [40]. Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra bỏng đối với trẻ em. Hầu hết các vết bỏng xảy ra tại nhà do thiếu sự giám sát thích hợp của người chăm sóc trẻ em.
Điều rất quan trọng là phải sơ cứu ban đầu kịp thời khi phát hiện ra một đứa trẻ bị bỏng. Sơ cứu ban đầu là chăm sóc khẩn cấp được đưa ra trước khi hỗ trợ y tế được cung cấp [43]. Sơ cứu ban đầu đúng cách và kịp thời sẽ có thể cứu trẻ hoặc giúp trẻ trong trường hợp bỏng nặng, giảm thiểu các biến chứng và kết quả tiêu cực lâu dài [50]. Nếu sơ cứu ban đầu phù hợp, sẽ giúp giảm đau và giảm tác động của mô ở nhiệt độ cao, mô sâu của da được bảo vệ và vết bỏng vẫn còn biểu bì.
Tuy nhiên, đa số những người sơ cứu ban đầu thường sử dụng các biện pháp dân gian hoặc sơ cứu không chính xác làm cho tổn thương bỏng khó lành hơn [50]. Như vậy việc đảm bảo giờ vàng hay sơ cứu bỏng đúng ngay từ đầu sẽ có vai trò quan trọng trong bảo vệ trẻ khỏi bị nặng thêm. Ước tính mỗi năm, khoảng 300,000 người trên toàn thế giới chết vì bỏng và hỏa hoạn, hàng triệu người bị khuyết tật liên quan đến bỏng [67]. Hiệp hội Bỏng Hoa Kỳ (ABA), hơn 450,000 nạn nhân có mặt tại các khoa cấp cứu, phòng khám hoặc phòng mạch của bác sĩ để được điều trị chấn thương liên quan đến bỏng ở Hoa Kỳ và Canada [23].
Phần lớn tổn thương bỏng xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [67]. Ước tính có gần hai phần ba xảy ra ở Châu Phi và Đông Nam Á. Tỷ lệ tử vong liên quan đến hỏa hoạn cao nhất là ở Đông Nam Á, nơi 11,6 người chết trên 100,000 người mỗi năm; ở Đông Địa Trung Hải, 6,4 người chết trên 100,000 người mỗi năm; và ở Châu Phi, 6,1 người chết trên 100.000 người mỗi năm [84]. Mỗi ngày, hơn 300 trẻ em từ 0 đến 19 tuổi được điều trị tại các phòng cấp cứu vì các vết thương liên quan đến bỏng và 2 trẻ em chết vì bỏng [24], [30].
Mỗi năm, 25,000 trẻ em đến Khoa Cấp cứu (ED) ở Anh và xứ Wales bị bỏng hoặc bỏng nước sôi, và khoảng 3800 trẻ em được đưa vào bệnh viện để tiếp tục điều trị [80]. Mặc dù có sự tiến bộ trong chăm sóc, bỏng là một trong những dạng thương tích nặng nhất, chiếm tỉ lệ 3,9 trẻ chết trên 100,000 trẻ em [55]. Hầu hết các tổn thương bỏng ở trẻ em xảy ra tại nhà [42]. Tại Việt Nam, theo thống kê của Viện Bỏng quốc gia, cứ 100 nạn nhân bị bỏng phải nhập viện thì có khoảng 2/3 là trẻ em [4].
Theo số liệu từ Khoa Bỏng- Tạo hỉnh- Bệnh viện Nhi đồng 1, từ năm 2017 đến 2019, khoa đã tiếp nhận và điều trị cho 1,630 trẻ bị bỏng, trung bình 543 trường hợp mỗi năm. Mỗi ngày Bệnh viện Nhi đồng 1 tiếp nhận trung bình 5 ca, có tới 1/3 trẻ bị bỏng nặng (độ 2, 3), 20% trẻ bị tai nạn nhập viện Nhi Đồng I vì bỏng. Hơn 75% trẻ bị bỏng ở nhà, thường ở khu bếp từ 8-10h sáng và chập choạng tối do người lớn bất cẩn, vô ý để tác nhân gây bỏng như nước sôi, dầu ăn, cháo nóng, bàn là, hóa chất, pô xe. trong tầm với của trẻ [3].
Viện Bỏng quốc gia cho biết, số ca bỏng nhập viện chiếm 53,83% tổng số người bệnh, trong đó trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 72,13%. Khoa Chấn thương - Bỏng, Bệnh viện Nhi đồng Hải Phòng, mỗi năm tiếp nhận khoảng 200 người bệnh bị bỏng. Theo tác giả Nguyễn Văn Hùng. (2015) [9], bỏng là một trong những nguyên nhân hàng đầu, thường gặp ở trẻ em < 5 tuổi (65,7%), xuất hiện vào mùa hè (tháng 6 - 8), hầu hết là do trẻ em gây ra.
Nguyên nhân bao gồm: nhiệt ướt (83%); điện (8,7%); nhiệt khô (6,1%) và hóa chất (2,2%). Sau khi bị bỏng, 79,1% được chuyển đến bệnh viện trước 6 giờ; 59,8% được gia đình trẻ tự điều trị và sau đó được đưa đến bệnh viện mà không cần đến cơ sở y tế cấp cơ sở và hầu hết các trường hợp này không được điều trị sơ cứu đúng cách [9]. Trong số các tai nạn hàng ngày: bỏng ở trẻ em là nguyên nhân hàng đầu thứ ba gây tử vong cho trẻ em tại nhà [14]. Tại miền Bắc, một số nghiên cứu trước đây cho thấy tỷ lệ người có kiến thức và thực hành đúng trong sơ cứu tổn thương bỏng không cao, tỷ lệ kiến thức đúng chỉ đạt từ 5% đến 6% [8], [10].
Tại miền Nam, theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Kim Yến Thi, kết quả đánh giá kiến thức về sơ cứu bỏng: trong số 303 người được khảo sát, có tới 200 (66%) có kiến thức thấp, chỉ 103 người có kiến thức cao và trung bình, 23,1% và 10,9%, tương ứng, có 31,4% nạn nhân được điều trị sơ cứu vết thương bỏng đúng cách (rửa bằng nước bình thường) [13]. Tại các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Bệnh viện Nhi đồng 1 và Nhi đồng 2, nơi tiếp nhận và điều trị bỏng cho trẻ em, hiện tại chưa có nghiên cứu nào về kiến thức, thực hành sơ cứu ban đầu ở trẻ bị tổn thương bỏng do nhiệt của người chăm sóc được công bố. Do đó, tôi thực hiện nghiên cứu này với câu hỏi nghiên cứu 1/ Hiện trạng kiến thức và thực hành sơ cứu ban đầu của người chăm sóc cho trẻ em bị bỏng do nhiệt ở Thành phố Hồ Chí Minh ra sao? 2/ Có hay không mối liên hệ giữa kiến thức và thực hành sơ cứu ban đầu với mức độ bỏng (độ sâu và diện tích tổn thương bỏng) của một trẻ em bị bỏng?. Giả thuyết nghiên cứu: 1/ Kiến thức và thực hành sơ cứu ban đầu của người chăm sóc cho trẻ em bị bỏng do nhiệt có mức độ đạt trên 70%.
2/ Có mối liên hệ giữa kiến thức và thực hành sơ cứu ban đầu với độ sâu và diện tích tổn thương bỏng của một trẻ em bị bỏng. Từ đó, xây dựng một chương trình giáo dục sức khỏe phù hợp trong tương lai với cộng đồng để giúp mọi người có kiến thức đúng đắn và cách điều trị ban đầu cho trẻ bị bỏng do nhiệt đúng cách. Kết quả của nghiên cứu này nhằm mục đích nâng cao nhận thức của nhân viên y tế, cũng như xã hội về sơ cứu bỏng và ngăn ngừa tổn thương do bỏng, và là cơ sở dữ liệu để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo trong cùng lĩnh vực. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU CHUNG Xác định tỷ lệ những người chăm sóc cho trẻ em bị bỏng do nhiệt có kiến thức và thực hành đúng về tổn thương bỏng và mối quan hệ giữa các đặc điểm xã hội với tỷ lệ này.
MỤC TIÊU CỤ THỂ 1. Xác định tỷ lệ trẻ bị bỏng nhiệt theo từng mức độ. Xác định tỷ lệ phần trăm người chăm sóc trẻ em bị bỏng do nhiệt tại khoa Bỏng- Tạo hình- Bệnh viện Nhi đồng 1, 2 có kiến thức, thực hành sơ cứu ban đầu đúng. Xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành sơ cứu ban đầu tổn thương bỏng do nhiệt của người chăm sóc tại Khoa Bỏng- Tại hình- Bệnh viện Nhi đồng 1,2.
Xác định các yếu tố liên quan đến mức độ bỏng của trẻ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 SƠ LƯỢC VỀ BỎNG Bỏng là một tổn thương trên da hoặc các mô hữu cơ khác chủ yếu do nhiệt hoặc do phóng xạ, điện, ma sát hoặc tiếp xúc với hóa chất. Tổn thương da do bức xạ cực tím, phóng xạ, điện hoặc hóa chất, cũng như tổn thương hô hấp do hít phải khói thuốc, cũng được coi là bỏng [83]. Bỏng có thể được gây ra bởi nhiều nguồn nhiệt nhưng phổ biến nhất là bỏng nước sôi; tiếp xúc trực tiếp với chất rắn nóng; sự bức xạ; hoặc tiếp xúc trực tiếp với khí nóng hoặc ngọn lửa, hơi nước và sưởi ấm bằng điện.
Ở đây, bức xạ bao gồm sưởi ấm hồng ngoại (thường được gọi là sưởi ấm bức xạ) nhưng cũng có thể bao gồm cháy nắng. Bỏng cũng có thể được gây ra bởi hóa chất (hóa chất axit hoặc cơ bản), trong đó quá trình đốt cháy được thúc đẩy bởi các phản ứng hóa học thay vì năng lượng nhiệt. Mức độ nghiêm trọng của tổn thương bỏng được xác định chủ yếu bởi nhiệt độ và thời gian phơi nhiễm. Có mối quan hệ phức tạp về thời gian và nhiệt độ có thể gây bỏng.
Tổn thương bỏng có thể xảy ra ở thời gian ngắn dần dần dưới nhiệt độ cao hơn [49]. Theo nghiên cứu trên 4515 nạn nhân bỏng và điều trị tại Khoa Bỏng, Bệnh viện Saint Paul, Hà Nội, từ tháng 1/2012 đến tháng 12 năm 2016 của tác giả Nguyễn Thống và cộng sự (2015) nguyên nhân chính gây bỏng ở trẻ em là do nhiệt (96,5%), bỏng thường xảy ra ở các gia đình (96,4%), người bệnh nhi không được sơ cứu hoặc sơ cứu không đúng cách chiếm 65,4% [14]. Theo số liệu từ Bệnh viện Nhi đồng 1, ở trẻ em bị bỏng do nhiệt ướt là nguyên nhân phổ biến nhất. So với các nguyên nhân khác, nhiệt độ của tổn.
thương bỏng do nhiệt ướt thường không cao, có thể là do nước sôi, thức ăn / đồ uống nóng, dầu mỡ sôi, hơi nước từ nồi áp suất [1]. Đánh giá sự khác biệt giữa quản lý tổn thương bỏng ở trẻ em và người lớn là quan trọng. Trẻ em có gần gấp ba lần diện tích bề mặt cơ thể (BSA) so với tỷ lệ khối lượng cơ thể của người lớn. Mất dịch ở trẻ em cao hơn tương đối ở trẻ em so với người lớn.