Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về HIV/AIDS và điều trị bằng thuốc kháng virus 1. Đại cương về HIV/AIDS 1. Định nghĩa HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus” là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh.
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired Immune Deficiency Syndrome” là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong [3], [4]. Dịch tễ học Theo WHO thống kê, trên toàn cầu năm 2022 ước tính có khoảng 39,0 triệu (33,1–45,7 triệu) người đang sống chung với HIV; 1,5 triệu (1,2–2,1 triệu) trẻ em (0– 14 tuổi). 1,3 triệu (1,0–1,7 triệu) người nhiễm HIV vào năm 2022. Kể từ năm 2010, số người nhiễm HIV đã giảm 38%, từ 2,1 triệu (1,6–2,8 triệu).
130 000 (90 000–210 000) trẻ em nhiễm HIV vào năm 2022. Vào năm 2022, 630 000 (480 000–880 000) người chết vì các nguyên nhân liên quan đến HIV trên toàn cầu. Kể từ năm 2010, số ca tử vong liên quan đến HIV đã giảm 51%, từ 1,3 triệu (970. Dịch HIV toàn cầu đã cướp đi sinh mạng của ít hơn 69% vào năm 2022 kể từ đỉnh điểm năm 2004.
HIV tiếp tục là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn trên toàn cầu, cướp đi sinh mạng của 40,4 triệu (32,9–51,3 triệu) cho đến nay. Có 29,8 triệu người nhiễm HIV đang được điều trị bằng thuốc kháng vi-rút trên toàn cầu. Trong số những người nhiễm HIV vào năm 2022, 86% (73–>98%) biết tình trạng của mình, 76% (65–89%) đang được điều trị và 71% (60–83%) đã ức chế được tải lượng vi rút [50]. Khu vực Đông Nam Á, ước tính có khoảng 3,9 triệu (3,4–4,6 triệu) người đang sống chung với HIV vào năm 2022, trong đó 81% (70–94%) biết tình trạng của mình, 65% (57–76%) đang được điều trị và 61% (53–71 %) đã ức chế tải lượng virus.
Ước tính có khoảng 2,6 triệu người được điều trị bằng thuốc kháng vi-rút vào năm 2022. 4 Ước tính có khoảng 110.000) người nhiễm HIV vào năm 2022; và số người nhiễm HIV ở mọi lứa tuổi giảm xuống 0,06 (0,04–0,08) trên 1000 dân số không nhiễm bệnh vào năm 2022 từ 0,12 (0,09–0,16) vào năm 2010.000) tử vong được cho là do các nguyên nhân liên quan đến HIV vào năm 2022, giảm 63,4% so với năm 2010 [50]. Tại Việt Nam, năm 2020, tổng số ca mắc hiện mắc HIV/AIDS năm 2020 là 322.897 người; tỷ lệ mắc HIV/100.131; số đang điều trị ARV đến hết năm 2020 là 155. Tại Cần Thơ, lũy tích đến 30/6/2022, số người nhiễm phát hiện được là hơn 7.000 người; trong đó, gần 4.500 người còn sống, tử vong gần 2.
Đặc biệt, số người nhiễm HIV mới phát hiện được trong những năm gần đây tiếp tục tăng. Nam giới chiếm 95,7% trên tổng số ca nhiễm HIV mới được phát hiện và hầu hết đều do quan hệ đồng giới nam không an toàn. Số người nhiễm HIV tập trung từ 16 - 49 tuổi. Những năm gần đây, nhóm tuổi trẻ từ 16 - 25 tuổi nhiễm HIV có dấu hiệu gia tăng, gần 20% là học sinh, sinh viên.
Theo thống kê chỉ có 30% người nhiễm trong cộng đồng được xác định, còn lại 70% chưa xét nghiệm HIV [6]. Điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV) 1. Mục đích điều trị - Ức chế tối đa và lâu dài quá trình nhân lên của HIV trong cơ thể; - Phục hồi hệ thống miễn dịch [3], [4]. Lợi ích của điều trị - Giảm nguy cơ mắc bệnh và tử vong liên quan tới HIV; - Dự phòng lây truyền HIV từ người nhiễm sang người khác (bạn tình/bạn chích); dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Khi người bệnh điều trị ARV đạt tải lượng HIV < 200 bản sao/mL và tuân thủ điều trị sẽ không làm lây truyền HIV cho bạn tình qua đường tình dục (K=K) [3], [4]. Nguyên tắc điều trị - Điều trị ARV ngay khi người bệnh được chẩn đoán nhiễm HIV; - Phối hợp đúng cách ít nhất 3 loại thuốc ARV; - Đảm bảo tuân thủ điều trị hàng ngày, liên tục, suốt đời [3], [4]. Thư viện ĐH Thăng Long 5 1. Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV - Tất cả người nhiễm HIV không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng, số lượng tế bào CD4.
- Trẻ dưới 18 tháng tuổi có kết quả xét nghiệm NAT lần một dương tính hoặc có kháng thể kháng HIV dương tính đồng thời có biểu hiện bệnh HIV tiến triển. Ngừng điều trị ARV khi trẻ được xác định không nhiễm HIV [3], [4]. Thời điểm bắt đầu điều trị ARV Điều trị ARV càng sớm càng tốt ngay khi người nhiễm HIV có kết quả xét nghiệm HIV dương tính, được đánh giá tình trạng lâm sàng và sẵn sàng điều trị ARV [3], [4]. Thời điểm bắt đầu điều trị ARV [3], [4].
Đối tượng, tính trạng lâm sàng Thời điểm bắt đầu điều trị ARV Người nhiễm HIV mọi lứa tuổi không có Điều trị ARV trong cùng ngày có kết triệu chứng của bệnh lao quả xét nghiệm HIV dương tính (gọi là điều trị ARV trong ngày) sau khi đánh giá lâm sàng và sẵn sàng điều trị ARV Người nhiễm HIV mọi lứa tuổi nghi ngờ Điều trị ARV trong ngày sau khi đánh mắc bệnh lao (trừ trường hợp nghi ngờ giá lâm sàng. Thực hiện ngay chẩn lao màng não) đoán lao trong vòng 7 ngày sau khi bắt đầu điều trị ARV. Điều trị bệnh lao nếu người bệnh được chẩn đoán mắc lao Người nhiễm HIV mọi lứa tuổi đang điều Bắt đầu điều trị ARV càng sớm càng trị bệnh lao (bao gồm cả lao đa kháng tốt trong vòng hai tuần sau bắt đầu điều thuốc) trị lao với bất kỳ số lượng tế bào CD4 nào Người nhiễm HIV mọi lứa tuổi bị lao Trì hoãn điều trị ARV ít nhất 4 tuần và màng não xác định bằng lâm sàng hoặc bắt đầu điều trị ARV trong vòng từ 4 xét nghiệm đến 8 tuần sau khi bắt đầu điều trị lao 6 màng não. Nên điều trị bổ sung corticosteroid cho các trường hợp lao màng não Người nhiễm HIV được chẩn đoán mắc Điều trị lao trước, sau đó điều trị ARV bệnh lao nhưng chưa được điều trị ARV trong vòng hai tuần đầu của điều trị lao và chưa được điều trị lao Người nhiễm HIV bị viêm màng não do Điều trị ARV sau 4–6 tuần điều trị cryptococcus cryptococcus.
Người nhiễm HIV bị mắc bệnh nấm Điều trị ARV cần được bắt đầu càng histoplasma sớm càng tốt ở những người bị bệnh histoplasma lan tỏa nếu không nghi ngờ hoặc đã loại trừ tổn thương hệ thần kinh trung ương 1. Các điểm cần lưu ý trong những tháng đầu điều trị ARV - Tỷ lệ tử vong thường cao nhất trong ba tháng đầu điều trị ARV đặc biệt ở người bệnh HIV tiến triển, có các bệnh đồng nhiễm và/hoặc các bệnh đi kèm, thiếu máu nặng, suy mòn hoặc suy dinh dưỡng nặng. Vì vậy cần theo dõi chặt chẽ người bệnh trong thời gian này. - Việc cải thiện về lâm sàng, miễn dịch, tải lượng HIV đạt được ngưỡng ức chế phụ thuộc vào sự tuân thủ điều trị ARV, bệnh nhiễm trùng cơ hội và /hoặc hội chứng viêm phục hồi miễn dịch, các tác dụng không mong muốn và độc tính của thuốc [3], [4].
- Tuân thủ kém trong giai đoạn này cũng có liên quan đến nguy cơ thất bại điều trị sớm và phát triển kháng thuốc. Đánh giá tuân thủ điều trị ARV 1. Mục tiêu của việc duy trì tuân thủ điều trị - Đảm bảo hiệu quả điều trị; Thư viện ĐH Thăng Long 7 - Giảm nguy cơ xuất hiện HIV kháng thuốc ARV và thất bại điều trị; - Giảm nguy cơ lây truyền HIV sang người khác [3], [4]. Đánh giá tuân thủ điều trị - Đánh giá tuân thủ điều trị bao gồm đánh giá uống thuốc đúng theo chỉ định, tái khám và xét nghiệm đúng hẹn.
- Đánh giá sự tuân thủ điều trị: thực hiện trong tất cả các lần người bệnh đến tái khám dựa trên đếm số thuốc còn lại, tự báo cáo của người bệnh, sổ tự ghi, báo cáo của người hỗ trợ điều trị, kết quả xét nghiệm tải lượng HIV. - Trường hợp người bệnh không đến khám, lĩnh thuốc đúng hẹn: cơ sở y tế liên hệ với người bệnh qua điện thoại hoặc mạng lưới đồng đẳng viên/người hỗ trợ điều trị hoặc nhân viên y tế xã, phường, thôn bản. - Đánh giá mức độ TTĐT theo bảng 1. Nếu người bệnh tuân thủ điều trị không tốt, cần tìm hiểu lý do, đưa ra các giải pháp, giúp người bệnh tuân thủ điều trị [3], [4].
Đánh giá mức độ tuan thủ khi uống thuốc ARV [3], [4]. Số liều thuốc mỗi ngày Mức độ tuân Số liều thuốc thủ điều trị quên trong tháng Uống 1 liều ARV mỗi Tốt 1 ngày Không tốt ≥2 Uống 2 liều ARV mỗi Tốt 1-3 ngày Không tốt ≥4 1. Một số học thuyết điều dưỡng liên quan đến nghiên cứu Dorothea Orem’s xác định việc chăm sóc điều dưỡng cần nhấn mạnh về việc người bệnh tự chăm sóc. Orem khẳng định việc tự chăm sóc của người bệnh cần được hướng dẫn, chỉ dẫn họ cách thức để tự họ làm, người bệnh sẽ thích thú vì thấy đời sống của họ vẫn còn có ý nghĩa, sức khỏe được dần dần từng bước được nâng cao.
Mục tiêu của Học thuyết Orem là giúp người bệnh có năng lực tự chăm sóc. Khi họ có khả năng về tâm sinh lý và nhu cầu xã hội, việc nâng cao này được phát triển đến khi người bệnh tự làm lấy tất cả (Orem, 2001). Bà đã đưa ra 3 mức độ có thể tự chăm sóc: 8 - Phụ thuộc hoàn toàn: người bệnh không có khả năng tự chăm sóc, theo dõi và kiểm soát các hoạt động hàng ngày của mình phải nhờ vào điều dưỡng hoặc người chăm sóc trực tiếp cho họ. - Phụ thuộc một phần: chăm sóc hỗ trợ khi người bệnh bị hạn chế về việc tự chăm sóc, điều dưỡng cung cấp, giúp đỡ việc chăm sóc một phần cho họ.
- Không cần phụ thuộc: người bệnh tự mình hoàn toàn chăm sóc, điều dưỡng hướng dẫn, tư vấn cho họ tự làm. Liên quan của Học thuyết Orem’s với người điều dưỡng, với đồng đẳng viên, đó là phải tư vấn, hướng dẫn, chỉ dẫn cho họ có kiến thức và thực hành liên quan đến đã nhiễm HIV/AIDS. Chỉ dẫn cho họ cách thức để tự họ chăm sóc họ hàng ngày như ăn, uống, ngủ nghỉ, và cách phòng lây nhiễm cho người thân Dorothea Orem’s đã định nghĩa Điều dưỡng là “Hành động hỗ trợ người khác, cung cấp và quản lý việc tự chăm sóc để duy trì hoặc cải thiện hoạt động của con người ở mức độ hiệu quả.