CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp Định nghĩa THA\ Theo WHO, một người lớn bị THA thực sự khi HA tối đa, HA tâm thu (HATT) > 140 mmHg và/ hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương (HATTr) > 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA [26], Định nghĩa này đơn giản nhưng có nhược điểm là trị số huyết áp không hoàn toàn ổn định và huyết áp thay đổi theo tuổi, giới,. THA là một triệu chứng của nhiều bệnh, nhiều nguyên nhân nhưng cũng có thể là một bệnh THA nếu không tìm thấy nguyên nhân. Đây không phải là tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng và do đó đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau.
Phân loại THA Trong những năm gần đây, phân loại THA cũng có nhiều thay đổi. Theo Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC - Join National Committee) lần thứ VI [13] thì THA được chia làm 3 độ: Bảng 1.1 Phân loại THA theo JNC VI - 1997 Phân loại THA Huvết áp (mmHa) Tâm thu Tâm trương Huyết áp tối ưu < 120 <80 Huyết áp bình thường < 130 <85 130-139 85-89 Huyết áp bình thường cao THA đội 140-159 90-99 THA độ II 160-179 100-109 THA độ III > 180 >110 7 Đến năm 2003, JNC VII lại phân loại THA như sau [13]: Bảng 1.2 Phân loại THA theo JNC VII - 2003 Phân loại THA Huyết áp (mmHg) Tâm thu Tâm trương Bình thường < 120 <80 Tiền THA 120-139 80-89 THA độ I 140-159 90-99 THA độ II > 160 > 100 Sự thay đổi cơ bản của hai cách phân loại này là: - Số HA bình thường ở JNC VI từ < 140/ 90 mmHg nay hạ xuống còn 120/ 80 mmHg. Các chỉ số huyết áp từ 120 - 139/ 80 - 89 thuộc giai đoạn tiền THA. - THA độ I vẫn giữ nguyên trị số huyết áp là từ 140 - 159/ 90 - 99 mmHg.
- THA độ II và III theo JNC VI được gộp thành THA độ II theo cách phân loại của JNC VII vì tỷ lệ biến chứng của hai cấp độ THA này không khác nhau rõ ràng và thái độ xử trí thì giống nhau. Xuất phát từ cách phân loại THA của WHO/ ISH và JNC, Bộ Y tế đã đưa ra cách phân loại THA áp dụng tại Việt Nam trong “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp” như sau [2]: 8 Bảngl.3 Phân loại THA theo Bộ Y tế - 2010 Phân loại THA Huyết áp (mmHg) Tâm thu Tâm trương Huyết áp tối ưu < 120 và <80 Huyết áp bình thường 120-129 và/ hoặc 80-84 Tiền THA 130-139 và/ hoặc 85-89 THA độ 1 140-159 và/ hoặc 90-99 THA độ 2 160-179 và/ hoặc 100-109 THA độ 3 > 180 và/ hoặc > 110 THA tâm thu đơn độc > 140 và <90 (Neu HATT và HATTr không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại. THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của HATT). Như vậy, phân độ THA của Bộ y tế Việt Nam gần giống với cách phân loại theo JNC VI, chỉ có hai điểm khác biệt giữa hai cách phân loại này là huyết áp bình thường cao ở JNC VI được thay bằng tiền huyết áp theo phân loại của Bộ y tế và trong bảng phân loại được áp dụng ở Việt Nam có thêm khái niệm THA tâm thu đơn độc.
Đại đa số bệnh nhân THA (trên 90%) thường không có các dấu hiệu cảnh báo nào trước. Quan điểm trước đây cho rằng cứ THA là phải có các dấu hiệu như đau đầu, mặt đỏ bừng, người béo,. là hết sức sai lầm. Ở nhiều trường họp, sự xuất hiện triệu chứng đau đầu đã có thể là sự kết thúc của người bệnh THA do đã bị tai biến mạch máu não.
Do vậy, việc kiểm tra huyết áp thường xuyên, đặc biệt đối với những người có nguy cơ cao là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng. 9 THA ở người lớn chủ yểu là không có căn nguyên, chỉ có một số nhỏ dưới 5% là THA có căn nguyên (tức là người bệnh bị THA do hậu quả của những bệnh lý khác). Người ta chia nguyên nhân của THA thành hai loại là THA nguyên phát và THA thứ phát. THA nguyên phát-, là các trường hợp THA không tìm thấy nguyên nhân, chiếm 90 - 95% các trường hợp THA, cơ chế bệnh sinh đến nay chưa được rõ ràng.
Yếu tố nguy cơ của THA nguyên phát có thể kể đến như: chế độ ăn nhiều muối, nhiều mỡ động vật, hút thuốc lá/ thuốc lào, uống rượu/ bia, lối sống tĩnh tại, lười vận động. Ngoài ra THA nguyên phát có thể xảy ra do các yếu tố di truyền, bệnh mang tính chất gia đình hoặc do các yếu tố tâm lý xã hội, tình trạng căng thẳng stress thường xuyên [4]. Các yếu tố này có thể phối hợp với nhau trên cùng một bệnh nhân và càng nhiều yểu tố nguy cơ kết hợp với nhau thì tiến triển của bệnh và nguy cơ bị biến chứng do THA càng nhiều, tiên lượng của bệnh nhân càng xấu. THA thứ phát-, là những trường họp bị THA do hậu quả của một bệnh lý khác.
Một số bệnh có thể là nguyên nhân gây ra THA như: các bệnh về thận (viêm cầu thận, bệnh thận đa nang, suy thận, .), bệnh về nội tiết (u tùy thượng thận, .), bệnh tim mạch (hẹp eo động mạch chủ, hở van động mạch chủ, .), do thuốc (sử dụng các hormone ngừa thai, cam thảo, corticoid, .), hoặc do một số nguyên nhân khác như ngộ độc thai nghén, bệnh cường giáp, bệnh đa hồng cầu,. [4] Đa số bệnh nhân bị THA không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện ra bệnh, dấu hiệu thể hiện bệnh THA của họ không có gì khác biệt so với người bình thường. Rất nhiều trường họp người bệnh đen khi bị biến chứng của THA, thậm chí tử vong mới biết mình bị THA hoặc mới hiểu rõ tầm quan trọng của việc kiểm soát tốt THA. Một số biểu hiện có thể có ở bệnh nhân THA như: đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, ngoài ra người bệnh có thể cảm thấy hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt,.
nhưng không đặc hiệu. Một số triệu chứng khác của THA tùy thuộc vào nguyên nhân THA hoặc biến chứng của THA. THA nếu không được điều trị đúng và đầy đủ sẽ dẫn đến nhiều biến chứng rất nặng nề, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại những di chứng ảnh hưởng rất 10 nhiều đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng bệnh tật và kinh tế cho gia đình và xã hội. Tình hình bệnh THA trên thế giói và tại Việt Nam Bệnh THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức cao, đặc biệt các nước phát triển.
Tại các nước phát triển, chuyển dịch mô hình bệnh tật từ các bệnh nhiễm trùng là chủ yếu sang các bệnh không nhiễm trùng là chính, trong đó có bệnh THA. số người bị THA trên thế giới năm 2000 ước tính vào khoảng 972 triệu người trong đó 333 triệu người THA ở các nước phát triển và 639 triệu người ở các nước đang phát triển và dự tính đến năm 2025 số người bị THA sẽ tăng khoảng 60% lên tới 1,56 tỷ người [18]. Theo báo cáo của WHO (2002), THA ước tính là nguyên nhân gây tử vong cho 7,1 triệu người trẻ tuổi và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (64 triệu người sống trong tàn phế) [23]. Đen năm 2009, trong báo cáo về các yếu tố nguy cơ sức khỏe toàn cầu của WHO, THA là một trong những yểu tố nguy cơ hàng đầu gây ra tử vong toàn cầu (13%) cao hơn cả hút thuốc lá (9%) [25].
Tỷ lệ hiện mắc hiệu chỉnh theo tuổi ở nam là 39% so với nữ 23,1%. Nhưng tỷ lệ THA ở nam chỉ cao hơn ở nữ lứa tuổi trước tuổi 45. Ở độ tuổi 45 - 54, tỷ lệ THA ở nữ bắt đầu nhỉnh hơn ở nam giới và ở các độ tuổi lớn hơn tỷ lệ THA ở nữ cao hơn nam [27], [3]. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt giữa tỷ lệ THA giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển.
Những năm gần đây, tỷ lệ THA của các nước đang phát triển đang tiến gần hơn so với các nước phát triển [20], Trên thế giới cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về bệnh THA ở người trưởng thành. Điều tra tại Hoa Kỳ năm 1999 - 2000 trên đổi tượng là người trưởng thành cho thấy có hơn 65 triệu người Mỹ bị THA chiếm 31,3% [15], còn theo thống kê năm 2007 của Hội Tim mạch học Hoa Kỳ có khoảng 72 triệu người bị THA [21]. Tỷ lệ THA tại Canada năm 1992 là 22% [17]. Năm 2007, một nghiên cứu về thực trạng THA và các yếu tố nguy cơ của THA tại môi trường làm việc tại châu Phi đã cho thấy tỷ lệ THA là 21,3% [16].
Một nghiên cứu ở Brazil, tỷ lệ THA trong nhóm tuổi từ 20 - 69 là 23,6%. Nghiên cứu này cũng cho thấy tỷ lệ THA tăng nhanh, đặc 11 biệt trong nhóm những người trẻ tuổi [14]. Theo một nghiên cứu khác tại Ấn Độ, tỷ lệ THA ở người dân thành thị là 20%, chiếm một phần năm dân số miền Nam Ấn Độ. Trong số những người bị THA chỉ có 32,8% quan tâm đến tình trạng THA của họ và trong số 70,8% người bệnh THA được điều trị chỉ có 45,9% người bệnh kiểm soát được huyết áp của họ [19].
Tình hình bệnh THA tại Việt Nam Ở Việt Nam, tỷ lệ phần trăm người bị THA ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển. Theo kết quả điều tra dịch tễ học bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam năm 1992 của GS. Trần Đỗ Trinh trên 39,3 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc 20 tỉnh thành thì tỷ lệ THA chung là 11,7% trong đó tỷ lệ mắc ở nam giới cao hơn so với nữ giới và tỷ lệ THA ở vùng 3 (Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Huế) cao hơn hẳn các vùng khác và các tỉnh đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ THA thấp nhất trong các vùng [3]. Nhưng đến năm 2002, theo kết quả điều tra tần suất mắc THA ở người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam của GS.