Tổng quan nghiên cứu
Tăng huyết áp được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xác định là một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch hàng đầu, gây ra khoảng 7,1 triệu ca tử vong sớm mỗi năm và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu với 64 triệu người phải sống trong tình trạng tàn phế. Tại Việt Nam, dịch tễ học bệnh tim mạch ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng theo đà phát triển kinh tế và đô thị hóa. Nếu như năm 1992 tỷ lệ tăng huyết áp toàn quốc là 11,79%, thì đến năm 2008 con số này ở người từ 25 tuổi trở lên đã tăng lên 25,1%, tương đương với việc cứ 4 người trưởng thành lại có 1 người mắc bệnh. Đáng báo động hơn, có tới 52% người mắc bệnh không hề biết về tình trạng sức khỏe của bản thân, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu chỉ chiếm khoảng 36,2%.
Huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội là khu vực ngoại thành có tốc độ đô thị hóa nhanh với dân số trên 212.000 người, chịu nhiều áp lực về biến động dân cư và ô nhiễm môi trường. Sự chuyển dịch mô hình bệnh tật từ các bệnh truyền nhiễm sang các bệnh không lây nhiễm mạn tính tại địa phương đang diễn ra rõ rệt, trong đó tăng huyết áp là bệnh lý phổ biến nhất. Khảo sát sơ bộ cho thấy kiến thức và thực hành kiểm soát bệnh của người dân vẫn còn nhiều khoảng trống nghiêm trọng.
Nghiên cứu của học viên Ngô Thị Hương Giang thuộc Trường Đại học Y tế Công cộng được thực hiện nhằm giải quyết ba mục tiêu trọng tâm:
- Mô tả thực trạng kiến thức về phòng ngừa biến chứng ở người bệnh tăng huyết áp tại huyện Thanh Trì năm 2013.
- Đánh giá mức độ thực hành phòng chống biến chứng ở nhóm đối tượng này.
- Xác định các yếu tố kinh tế, xã hội và bệnh lý liên quan trực tiếp đến kiến thức và thực hành phòng ngừa biến chứng.
Nghiên cứu được triển khai từ tháng 01/2013 đến tháng 06/2013 trên 250 bệnh nhân tại thị trấn Văn Điển và xã Vĩnh Quỳnh. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp hệ thống số liệu định lượng chuẩn xác về khoảng cách nhận thức - hành vi, làm cơ sở thực chứng để Trung tâm Y tế huyện Thanh Trì xây dựng các can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe và quản lý bệnh không lây nhiễm hiệu quả tại tuyến y tế cơ sở.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng nền tảng của Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model - HBM) kết hợp với Khung lý thuyết KAP (Kiến thức - Thái độ - Thực hành) trong dịch tễ học hành vi. Mô hình khẳng định rằng nhận thức đúng đắn của người bệnh về mức độ nghiêm trọng và tính nhạy cảm của biến chứng tăng huyết áp sẽ trực tiếp thúc đẩy việc tuân thủ các hành vi dự phòng tích cực.
Về mặt học thuật và pháp lý y tế, đề tài chuẩn hóa các khái niệm chuyên ngành căn cứ theo:
- Định nghĩa tăng huyết áp của WHO và Quyết định số 3192/QĐ-BYT năm 2010 của Bộ Y tế: Xác định một người bị tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu $\ge 140$ mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương $\ge 90$ mmHg, hoặc đang sử dụng thuốc hạ áp hằng ngày, hoặc đã được bác sĩ chẩn đoán xác định tối thiểu 2 lần.
- Tiêu chuẩn phân loại theo Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị tăng huyết áp Hoa Kỳ (JNC VI năm 1997 và JNC VII năm 2003) cùng Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế Việt Nam năm 2010.
- Khái niệm biến chứng cơ quan đích: Tổn thương thứ phát do tăng huyết áp kéo dài tại 5 cơ quan trọng yếu gồm não (tai biến mạch máu não, đột quỵ), tim (suy tim, nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực), thận (suy thận, xơ hóa tiểu động mạch thận), mắt (bệnh võng mạc do tăng huyết áp, suy giảm thị lực, mù lòa) và hệ thống mạch máu ngoại vi (phình bóc tách động mạch chủ, xơ vữa động mạch).
- Khái niệm can thiệp dự phòng cấp 2 và cấp 3: Bao gồm việc dùng thuốc hạ áp liên tục theo chỉ định y khoa kết hợp kiểm soát các yếu tố nguy cơ thay đổi được qua lối sống (chế độ ăn giảm muối dưới 6g/ngày, kiểm soát chỉ số khối cơ thể BMI từ 18,5 đến 22,9 $\text{kg/m}^2$, hạn chế rượu bia, ngừng hút thuốc lá và tăng cường hoạt động thể lực 30-60 phút mỗi ngày).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích (Cross-sectional analytical design) để đánh giá đồng thời thực trạng và tìm kiếm mối liên quan giữa các biến số độc lập với biến số phụ thuộc.
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu tối thiểu được xác định là 250 người bệnh dựa trên công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95%, mức sai số mong muốn $d = 0,06$ và tỷ lệ thực hành đạt tham chiếu $p = 0,615$ từ một nghiên cứu dịch tễ tại tỉnh Vĩnh Phúc. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu $k = 4$ được thực hiện trên danh sách trích xuất 1.139 bệnh nhân tăng huyết áp đã được phát hiện qua chương trình khám sàng lọc cộng đồng năm 2011 tại thị trấn Văn Điển và xã Vĩnh Quỳnh.
- Thu thập dữ liệu: Sử dụng bộ phiếu phỏng vấn cấu trúc thiết kế sẵn, đã trải qua giai đoạn điều tra thử nghiệm trên 10 đối tượng để chuẩn hóa nội dung. Đội ngũ gồm 8 điều tra viên là cán bộ y tế địa phương được tập huấn kỹ lưỡng về kỹ thuật tiếp cận cộng đồng, giải thích mục đích nghiên cứu, đảm bảo đạo đức bảo mật thông tin và thu thập phiếu trực tiếp trong tháng 03/2013.
- Phương pháp phân tích số liệu: Toàn bộ dữ liệu được làm sạch, mã hóa và nhập kép bằng phần mềm EpiData 3.0 nhằm giảm thiểu tối đa sai sót nhập liệu. Phân tích thống kê được thực hiện trên phần mềm SPSS phiên bản 17.0. Thống kê mô tả được dùng để tính tần số, tỷ lệ phần trăm các đặc điểm nhân khẩu học, mức độ kiến thức và thực hành. Kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), tính toán tỷ suất chênh (Odds Ratio - OR) cùng khoảng tin cậy 95% (95% CI) với ngưỡng ý nghĩa thống kê $p < 0,05$ được áp dụng để xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi của người bệnh.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu trên 250 bệnh nhân (độ tuổi trung bình 63 tuổi, trong đó 56,4% trên 60 tuổi; 48% nam và 52% nữ; 90,8% sống cùng gia đình) ghi nhận các kết quả định lượng nổi bật:
-
Thực trạng nhận thức về bệnh và biến chứng còn nhiều lỗ hổng:
- Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức chung đạt tiêu chuẩn về phòng ngừa biến chứng tăng huyết áp chỉ dừng lại ở mức 41,2% (tương ứng 58,8% chưa đạt).
- Về thói quen theo dõi huyết áp, có tới 51,2% người bệnh nhận thức sai lầm khi cho rằng chỉ cần đo huyết áp khi có triệu chứng đau đầu hoặc chóng mặt, và chỉ có 40,8% hiểu đúng tầm quan trọng của việc đo huyết áp định kỳ hằng ngày.
- Về nhận diện biến chứng cơ quan đích, hiểu biết của người bệnh có sự phân hóa sâu sắc: Biến chứng đột quỵ não được biết đến nhiều nhất với 75,4%, tiếp theo là biến chứng tim mạch đạt 51,2%, biến chứng mạch máu đạt 28,0%. Ngược lại, biến chứng tại mắt và suy thận chỉ được nhận biết lần lượt ở mức 24,6% và 21,8%. Đáng chú ý, có tới 15,6% người bệnh hoàn toàn không biết bất kỳ biến chứng nào và chỉ có 5,7% người bệnh có khả năng nhận biết đầy đủ cả 5 biến chứng nguy hiểm.
-
Mức độ thực hành phòng ngừa biến chứng còn thấp:
- Tỷ lệ đối tượng đạt tiêu chuẩn thực hành phòng ngừa biến chứng chỉ đạt 34,0% (66,0% không đạt).
- Trong tuân thủ điều trị bằng thuốc, có 64,0% bệnh nhân duy trì uống thuốc hạ áp liên tục và lâu dài; vẫn còn 25,2% người bệnh chỉ uống thuốc khi huyết áp tăng cao hoặc uống theo từng đợt ngắt quãng, cùng 10,8% hoàn toàn không sử dụng thuốc.
- Dù 78,4% người bệnh báo cáo có áp dụng chế độ ăn hạn chế muối và 79,6% có hoạt động thể lực, việc kết hợp đồng thời giữa dùng thuốc đúng phác đồ và thay đổi lối sống chỉ đạt 50,4%.
-
Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố xã hội - bệnh lý với nhận thức và hành vi:
- Yếu tố kinh tế hộ gia đình: Bệnh nhân thuộc hộ nghèo và cận nghèo có tỷ lệ kiến thức không đạt cao gấp 2,9 lần so với nhóm có kinh tế trên cận nghèo (OR = 2,9; 95% CI: 1,41 - 6,03; $p = 0,03$).
- Thời gian mắc bệnh: Nhóm bệnh nhân mắc tăng huyết áp từ 5 năm trở xuống có tỷ lệ kiến thức không đạt cao gấp 2,9 lần so với nhóm mắc bệnh trên 5 năm (OR = 2,9; 95% CI: 1,59 - 5,38; $p = 0,0001$).
- Tiền sử biến chứng: Người chưa từng trải qua biến chứng có tỷ lệ kiến thức không đạt cao gấp 1,9 lần nhóm đã từng bị biến chứng (OR = 1,9; 95% CI: 1,05 - 3,49; $p = 0,033$).
- Nghề nghiệp và sự hỗ trợ xã hội: Nhóm đối tượng làm nông nghiệp hoặc lao động tự do có nguy cơ thực hành không đạt cao gấp 2,4 lần so với nhóm cán bộ hưu trí (OR = 2,4; 95% CI: 1,43 - 4,19; $p = 0,001$). Đồng thời, người có kiến thức đúng thể hiện khả năng thực hành đúng cao hơn rõ rệt so với nhóm thiếu kiến thức.
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu tại huyện Thanh Trì phản ánh sự tương đồng với nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng trong nước. Tỷ lệ kiến thức đạt 41,2% và thực hành đạt 34,0% cho thấy rào cản nhận thức vẫn là thách thức trọng tâm trong can thiệp y tế công cộng. Tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Phương năm 2011 tại Hà Nội (ghi nhận 48,4% kiến thức không đạt và 55,2% thực hành không đạt), nhưng thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ thực hành đạt 61,5% trong nghiên cứu của tác giả Đỗ Văn Sơn năm 2012 tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Nguyên nhân của khoảng trống nhận thức xuất phát từ bản chất diễn tiến âm thầm của bệnh tăng huyết áp. Người bệnh thường có xu hướng xem nhẹ bệnh lý khi chưa xuất hiện các cơn tăng huyết áp kịch phát hoặc biến chứng thực tổn. Việc người dân biết rõ biến chứng tai biến mạch máu não (75,4%) nhưng lại xem nhẹ tổn thương đáy mắt (24,6%) và suy thận mạn (21,8%) phản ánh nội dung truyền thông đại chúng trước đây chủ yếu tập trung vào đột quỵ mà chưa nhấn mạnh tính toàn diện của tổn thương đa cơ quan.
Về mặt trình bày dữ liệu học thuật, các phát hiện trên có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua:
- Biểu đồ cột phân nhóm thể hiện sự chênh lệch rõ rệt giữa tỷ lệ nhận biết từng loại biến chứng (75,4% ở biến chứng não so với 21,8% ở biến chứng thận).
- Biểu đồ tròn minh họa cơ cấu phân bố hành vi sử dụng thuốc (64,0% tuân thủ liên tục, 25,2% ngắt quãng/chỉ uống khi có triệu chứng, 10,8% không dùng thuốc).
- Bảng hồi quy phân tích đa biến thể hiện các chỉ số OR hiệu chỉnh và khoảng tin cậy 95% nhằm khẳng định vai trò quyết định của điều kiện kinh tế, thời gian mang bệnh và tính chất nghề nghiệp lên hành vi phòng ngừa biến chứng.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát huyết áp và giảm thiểu tỷ lệ tàn phế, tử vong do biến chứng tại huyện Thanh Trì cũng như các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng, 4 nhóm giải pháp can thiệp cụ thể được đề xuất:
-
Thiết lập và vận hành mô hình quản lý bệnh không lây nhiễm lồng ghép tại trạm y tế cơ sở:
- Hành động: Triển khai lập hồ sơ quản lý bệnh án ngoại trú điện tử, cấp phát thuốc hạ áp định kỳ bảo hiểm y tế tại trạm y tế và tổ chức kiểm tra số đo huyết áp định kỳ hằng tháng cho toàn bộ bệnh nhân trên địa bàn.
- Target metric: Quản lý và theo dõi điều trị liên tục cho tối thiểu 90% số bệnh nhân tăng huyết áp đã phát hiện; nâng tỷ lệ người bệnh đo huyết áp định kỳ hằng ngày từ 40,8% lên trên 75%.
- Timeline: Hoàn thiện quy trình quản lý trong 6 tháng đầu và duy trì thường quy hằng năm.
- Chủ thể thực hiện: Trung tâm Y tế huyện Thanh Trì, Trạm Y tế xã Vĩnh Quỳnh và Trạm Y tế thị trấn Văn Điển.
-
Đổi mới và cá thể hóa chiến dịch truyền thông giáo dục sức khỏe cộng đồng:
- Hành động: Đa dạng hóa các kênh truyền thông, chuyển đổi từ phát thanh chung chung sang tư vấn nhóm nhỏ, phát tờ rơi hướng dẫn trực quan về 5 biến chứng cơ quan đích, chế độ dinh dưỡng giảm muối dưới 6g/ngày và sự nguy hiểm của việc tự ý ngưng thuốc.
- Target metric: Tăng tỷ lệ người bệnh có kiến thức đạt từ 41,2% lên trên 70%; nâng tỷ lệ nhận biết biến chứng suy thận và tổn thương mắt lên trên 60%.
- Timeline: Thực hiện liên tục theo từng quý trong lộ trình 2 năm.
- Chủ thể thực hiện: Tổ truyền thông giáo dục sức khỏe huyện phối hợp cùng hệ thống truyền thanh xã/thị trấn và nhân viên y tế thôn bản.
-
Đào tạo liên tục và nâng cao kỹ năng tư vấn cho cán bộ y tế tuyến xã:
- Hành động: Tổ chức các lớp tập huấn cập nhật hướng dẫn chẩn đoán, điều trị tăng huyết áp của Bộ Y tế và rèn luyện kỹ năng tư vấn tuân thủ điều trị cho y bác sĩ, điều dưỡng trạm y tế.
- Target metric: 100% cán bộ y tế trực tiếp phụ trách chương trình được cấp chứng chỉ cập nhật phác đồ điều trị và thành thạo kỹ năng tư vấn thay đổi hành vi.
- Timeline: Hoàn thành trong 3 tháng đầu triển khai can thiệp.
- Chủ thể thực hiện: Sở Y tế thành phố Hà Nội và Trung tâm Y tế huyện Thanh Trì.
-
Xây dựng mạng lưới hỗ trợ người bệnh dựa vào gia đình và các tổ chức đoàn thể:
- Hành động: Thành lập các "Câu lạc bộ Người bệnh Tăng huyết áp", phát huy vai trò nhắc nhở uống thuốc và duy trì lối sống lành mạnh của thân nhân (vợ/chồng, con cái); lồng ghép nội dung phòng chống biến chứng vào các buổi sinh hoạt hội người cao tuổi, hội phụ nữ.
- Target metric: Giảm tỷ lệ người bệnh tự ý bỏ thuốc hoặc chỉ uống khi có triệu chứng từ 25,2% xuống dưới 10%; đạt tỷ lệ 85% người bệnh có người thân đồng hành nhắc nhở dùng thuốc.
- Timeline: Triển khai thí điểm trong 6 tháng và nhân rộng toàn huyện trong 12 tháng tiếp theo.
- Chủ thể thực hiện: Hội Người cao tuổi, Hội Phụ nữ huyện Thanh Trì phối hợp cùng mạng lưới y tế cơ sở.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn thạc sĩ này là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
- Nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách y tế công cộng: Cung cấp bức tranh thực tế về năng lực quản lý bệnh mạn tính tuyến cơ sở, giúp lãnh đạo các Sở Y tế, Trung tâm Y tế cấp quận/huyện hoạch định phân bổ ngân sách, nhân lực và xây dựng các chương trình can thiệp bệnh không lây nhiễm phù hợp với đặc thù khu vực đô thị hóa.
- Bác sĩ, nhân viên y tế tuyến huyện và trạm y tế xã/thị trấn: Hỗ trợ đội ngũ y tế trực tiếp điều trị nắm bắt được tâm lý, các nhận thức sai lầm phổ biến của bệnh nhân (như thói quen chỉ đo huyết áp khi đau đầu hoặc tự ý dừng thuốc), từ đó cải thiện quy trình tư vấn lâm sàng và xây dựng chiến lược truyền thông cá thể hóa cho từng nhóm đối tượng.
- Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh và giảng viên khối ngành Sức khỏe: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn mực về thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ quần thể khám sàng lọc, cũng như kỹ thuật xử lý dữ liệu dịch tễ học bằng EpiData và SPSS.
- Các tổ chức xã hội, Hội Người cao tuổi và tổ chức phi chính phủ về sức khỏe cộng đồng: Là cơ sở khoa học để thiết kế các mô hình can thiệp sức khỏe dựa vào cộng đồng, thành lập câu lạc bộ đồng đẳng và phát triển tài liệu truyền thông chăm sóc người cao tuổi mắc bệnh mạn tính.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao bệnh nhân tăng huyết áp dưới 5 năm lại có nguy cơ thiếu kiến thức phòng biến chứng cao gấp 2,9 lần so với nhóm mắc bệnh lâu năm?
Số liệu nghiên cứu chỉ ra rằng có tới 64,8% bệnh nhân mắc bệnh dưới 5 năm không đạt yêu cầu về kiến thức (OR = 2,9; $p = 0,0001$). Nguyên nhân chủ yếu do trong những năm đầu, bệnh thường diễn tiến thầm lặng không triệu chứng rõ rệt khiến người bệnh nảy sinh tâm lý chủ quan. Nhóm bệnh nhân này chưa có đủ thời gian tiếp cận thông tin y tế lặp lại từ nhân viên y tế và chưa từng trải nghiệm các biến cố tim mạch như nhóm bệnh nhân lâu năm.
Nghiên cứu ghi nhận nhận thức về các loại biến chứng tăng huyết áp có sự chênh lệch như thế nào?
Kiến thức của người bệnh có sự phân hóa nghiêm trọng: Biến chứng não được biết đến nhiều nhất với 75,4%, biến chứng tim mạch đạt 51,2%, nhưng biến chứng ở mắt chỉ đạt 24,6% và suy thận chỉ đạt 21,8%. Đáng lưu ý, chỉ có 5,7% người bệnh nhận biết đầy đủ cả 5 biến chứng cơ quan đích, trong khi có tới 15,6% hoàn toàn không biết bất kỳ biến chứng nào do thiếu hụt thông tin truyền thông chuyên sâu.
Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc hạ áp tại huyện Thanh Trì đạt mức nào và sai lầm phổ biến nhất là gì?
Kết quả cho thấy có 64,0% bệnh nhân tuân thủ uống thuốc liên tục và lâu dài theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Tuy nhiên, vẫn còn 25,2% người bệnh mắc sai lầm nguy hiểm khi chỉ uống thuốc ngắt quãng hoặc chỉ uống khi cảm thấy huyết áp tăng cao (đau đầu, hoa mắt), và 10,8% người bệnh không sử dụng thuốc do nhận thức sai lầm rằng thuốc hạ áp gây phụ thuộc.
Yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hành phòng chống biến chứng?
Nghiên cứu chứng minh bệnh nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo có tỷ lệ kiến thức không đạt cao gấp 2,9 lần nhóm khá giả ($p = 0,03$). Bên cạnh đó, nhóm đối tượng làm nông nghiệp và lao động tự do có nguy cơ thực hành không đạt cao gấp 2,4 lần so với cán bộ hưu trí ($p = 0,001$), do cán bộ hưu trí có điều kiện kinh tế ổn định hơn, có thẻ bảo hiểm y tế và nhiều thời gian chăm sóc sức khỏe bản thân.
Giải pháp nào giúp khắc phục tình trạng 51,2% người bệnh chỉ đo huyết áp khi có triệu chứng khó chịu?
Để thay đổi quan niệm sai lầm này, trạm y tế cần triển khai chương trình giáo dục truyền thông nhấn mạnh tăng huyết áp là "kẻ giết người thầm lặng", hướng dẫn kỹ năng tự đo huyết áp tại nhà bằng máy đo điện tử bắp tay chuẩn hóa, đồng thời thiết lập các điểm đo huyết áp miễn phí tại nhà văn hóa thôn, tổ dân phố nhằm tạo điều kiện cho người dân kiểm tra định kỳ mỗi ngày.
Kết luận
- Thực trạng kiến thức và thực hành còn nhiều hạn chế: Tỷ lệ người bệnh tăng huyết áp có kiến thức đạt về phòng ngừa biến chứng chỉ chiếm 41,2% và tỷ lệ thực hành đạt chỉ ở mức 34,0%.
- Nhận thức sai lệch về triệu chứng và biến chứng: 51,2% người bệnh chỉ đo huyết áp khi có dấu hiệu bất thường; hiểu biết về biến chứng suy thận (21,8%) và biến chứng võng mạc mắt (24,6%) còn rất thấp so với biến chứng đột quỵ não (75,4%).
- Tuân thủ điều trị bằng thuốc chưa triệt để: Dù có 64,0% người bệnh dùng thuốc liên tục, vẫn còn 25,2% bệnh nhân tự ý dùng thuốc ngắt quãng hoặc chỉ dùng khi xuất hiện triệu chứng, tạo ra nguy cơ bùng phát các biến cố tim mạch cấp tính.
- Xác định rõ các nhóm nguy cơ cao: Tình trạng kinh tế nghèo/cận nghèo (OR = 2,9), thời gian mắc bệnh $\le 5$ năm (OR = 2,9) và nhóm làm nghề nông nghiệp/lao động tự do (OR = 2,4) là những rào cản chính ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ hiểu biết và thực hành dự phòng.
- Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn: Công trình của tác giả Ngô Thị Hương Giang đã cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực chứng chuẩn xác cho ngành Y tế công cộng, khẳng định tính cấp thiết của việc chuyển đổi mô hình từ điều trị thụ động tại bệnh viện sang quản lý dự phòng chủ động, lồng ghép truyền thông đa kênh và phát huy vai trò hỗ trợ của gia đình tại y tế cơ sở.
Lộ trình tiếp theo đòi hỏi Trung tâm Y tế huyện Thanh Trì và các cơ quan y tế địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa các khuyến nghị trên thành kế hoạch hành động cụ thể trong giai đoạn tới. Quý độc giả, cán bộ y tế và các nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực dịch tễ học bệnh không lây nhiễm hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ này tại thư viện Trường Đại học Y tế Công cộng để khai thác chi tiết bộ công cụ điều tra và các phân tích chuyên sâu.