Chương 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Định nghĩa mù và thị lực thấp Đánh giá thị lực được WHO phân loại tuân theo định nghĩa sau[8],[ 14]: - Mù: là thị lực dưới 3/60 (mù ở đây bao gồm cả mù và lòa). - Tổn thương thị lực trầm trọng: là thị lực lớn hơn hoặc bằng 3/60 đến dưới 6/60.
- Tổn thương thị lực: là thị lực từ lớn hơn hoặc bằng 6/60 đến dưới 6/18. Bảng phân loại các mức độ tổn hại thị lực của WHO như sau[14]: Bảng 1. 1: Phân loại các mức độ tổn hại thị lực (WHO) Thị lực ở mắt tốt nhất Thị lực từ Đến Phân loại 6/6 6/18 Bình thường <6/18 6/60 Tổn hại thị lực <6/60 3/60 Tổn hại thị lực nặng <3/60 Sáng tối (-) Mù (Nguồn: Thị giác 2020 quyền được nhìn thấy) Có nhiều cách để thử thị lực. Hệ thống ghi thị lực thường được sử dụng nhất trên Thế giới là ký hiệu phân số Snellenfl 1 ],[12].
Ký hiệu này là một phân số để thể hiện kết quả thị lực khám: trong đó tử số là khoảng cách cần thiết để người được thử có thể đọc được mẫu thử và mẫu số là khoảng cách mà mắt bình thường đọc được. Ở Việt Nam, đánh giá thị lực theo ký hiệu số thập phân, thường dùng loại bảng Landolt đo thị lực vòng hở rất thích hợp dùng để đo thị lực cho cả người lớn và trẻ em, mức độ tổn thương theo quy định của WHO. Thị lực thấp là thị lực của mắt tốt nhất với kính điều chỉnh nhỏ hơn 3/10. Thị lực của mắt tốt nhất với điều chỉnh kính đếm ngón tay (ĐNT) dưới 3 mét gọi là người bị mù.
2: Bảng thử thị lực Snellen Chữ ký hiệu Snellen Ký hiệu thập phân Ký hiệu % 6m 20 ft 6/6 20/20 1,0 100 5 6/9 20/30 0,67 67 6/12 20/40 0,5 50 6/18 20/60 0,33 33 6/24 20/80 0,25 25 6/36 20/120 0,17 17 6/60 20/200 0,1 10 -------2--------—- ------------------------------------------------------------------------------------------------ (Nguón: s. Mayer(2005), Khóa đào tạo tật khúc xạ) Loại bảng này thường được sử dụng để khám chữa bệnh và trong các nghiên cứu trên Thế giới. Bệnh đục thể thủy tinh gây mù Thể thủy tinh là một thấu kính hội tụ nằm trong nhãn cầu, có công suất khoảng +19, + 20 diop. Bình thường thể thủy tinh trong suốt, có khả năng điều tiết có thể phồng lên xẹp xuống để luôn đưa ảnh của vật mà ta nhìn thấy rơi trên võng mạc, khiến ta có thể nhìn rõ mọi vật [7],[11], Từ 40 tuổi trở đi, thể thủy tinh mất dần khả năng điều tiết do bị lão hóa, thay đổi các thành phần hóa học và cũng mất dần độ trong.
Khi TTT bị đục đi một cách đáng kể nó sẽ ngăn cản ánh sáng xuyên qua nó và gây nên những triệu chứng về nhìn và tạo ra sự khó chịu. Đục TTT do tuổi già là quá trình diễn ra từ từ và được chia ra làm 3 giai đoạn[7],[l 1], [17]: - Giai đoạn đục bắt đầu: Mắt bắt đầu có các biểu hiện nhìn mờ dần và khó chịu, khi khám thì thấy đục dần ở vùng vỏ hoặc ngoại vi của TTT, đáy mắt vẫn soi được, ánh đồng tử hồng nhưng không đồng nhất. - Giai đoạn đục tiến triển: Thị lực giảm rõ và giảm dần đến mức chỉ nhìn đếm được ngón tay trước mắt. Nhìn thấy TTT mờ đục, soi đáy mắt không thấy rõ, ánh đồng tử mờ.
- Giai đoạn đục thể thủy tinh hoàn toàn: TTT đục chín, thị lực thậm chí chỉ còn ở mức thấy sáng tối. Khám không soi được đáy mắt, ánh sáng đồng tử không còn. Neu không được điều trị ngay sẽ bị mù. Ớ giai đoạn TTT đục bắt đầu và đục tiến triển thì sẽ làm cho thị lực của người bệnh giảm từ từ, thời gian bị thường kéo dài và tùy thuộc theo thể trạng của từng 6 bệnh nhân.
Hậu quả ở các giai đoạn này chỉ làm cho người bệnh bị giảm tầm nhìn, khó khăn trong các hoạt động gây giảm sút chất lượng cuộc sống. Trong giai đoạn TTT đục hoàn toàn sẽ làm cho bệnh nhân mất thị lực không nhìn thấy, thời gian này nếu không mổ thường hay có các biến chứng gây tăng nhãn áp, viêm màng bồ đào, không được phẫu thuật kịp sẽ gây mù vĩnh viễn. Tình hình đục thể thủy tinh trên Thế giói và ở Việt Nam 1. Tình hình đục thể thủy tinh trên Thế giới Theo số liệu của WHO về sự phân bố tình hình mù lòa, số người mù lòa thường tập trung nhiều ở các nước đang phát triển, các châu lục điều kiện kinh tế kém hoặc dân số nhiều và tốc độ tăng dân số nhanh[14].
3: số người mù ước tính ở các khu vực (WHO - 2000) Ước tính số người Khu vực Số nước Dân số (triệu người) mù (triệu người) Châu Phi 46 650 8 Châu Mỹ 36 800 4 Trung Đông 22 500 5 Châu Âu 51 870 4 Đông Nam Á 10 1.500 17 Tây Thái Bình Dương 28 1.000 50 (Nguôn: Thị giác 2020 quyên được nhìn thây ) Số người mù có xu hướng tăng nhanh, nhiều ở Châu Phi và Châu Á, nhất là ở những nước có dân số cao và kinh tế chậm phát triển. 4: Các nguyên nhân chính gây mù Ước tính số người bị mù Khu vực Nguyên nhân chính gây mù (triệu người) Bệnh đục thể thủy tinh, glôcôm, sẹo Châu Phi 8 giác mạc 7 Bệnh đục thể thủy tinh, glôcôm, bệnh Châu Mỹ 4 võng mạc Bệnh đục thể thủy tinh, glôcôm, sẹo Trung Đông 5 giác mạc Bệnh đục thể thủy tinh, glôcôm, bệnh Châu Âu 4 võng mạc Bệnh đục thê thủy tinh, glôcôm, sẹo Đông Nam Á 17 giác mạc Tây Thái Bình Bệnh đục thể thủy tinh, glôcôm, bệnh 12 Dương võng mạc Tổng số 50 (Nguồn: Thị giác 2020 quyền được nhìn thấy) Theo số liệu của WHO, nguyên nhân số 1 gây mù lòa trên toàn Thế giới là đục TTT[14]. Khảo sát mới nhất trên Thế giới tại 39 quốc gia cho thấy, trên Thế giới hiện có khoảng 39 triệu người bị mù. số người từ 50 tuổi trở lên bị mù có nguyên nhân bị mù do đục TTT chiếm 51%[30].
Đánh giá nhanh tình hình PCML tại một số quốc gia như: Bangladesh năm 2005 ở những người từ 50 tuổi trở lên tỷ lệ mù 2M là 2,9%, suy giảm thị lực 10%; nguyên nhân gây mù chủ yếu do đục TTT chiếm 79% mù và 78,2% gây suy giảm thị lực[33]. Kênia năm 2006 ở những người từ 50 tuổi trở lên tỷ lệ mù 2M là 2%, suy giảm thị lực 5,8%; nguyên nhân gây mù chủ yếu do đục TTT chiếm 42% mù và 36% gây suy giảm thị lực[32]. Philipin năm 2006 ở những người từ 50 tuổi trở lên tỷ lệ mù 2M là 2,6% và 3%, suy giảm thị lực 10%; nguyên nhân gây mù chủ yếu do đục TTT chiếm 54% và 63% mù và 75% -72% gây suy giảm thị lực[22]. Ẩn Độ năm 2007 ở những người từ 50 tuổi trở lên tỷ lệ mù và suy giảm thị lực 8,2% ở vùng nông thôn và 7,1% ở thành thị.
Trong đó 88,2% có thể phòng tránh được mà đục TTT chiếm tới 81,9%[25]. Các nghiên cứu trên đều thực hiện dựa trên các cuộc điều tra cắt ngang nhằm đánh giá nhanh chóng được tỷ lệ và các nguyên nhân gây mù lòa để lên được kế hoạch PCML cụ thể cho từng quốc gia. Ưu điểm các nghiên 8 cứu trên là dễ thực hiện, nhanh chóng, chi phí thấp. Tuy nhiên, nghiên cứu còn mang nhiều hạn chế như mẫu chỉ có tính đại diện cho các vùng, miền điều tra và kết quả chỉ mang tính chất tương đối.
Tình hình đục thể thủy tinh ở Việt Nam Bệnh đục TTT ở Việt Nam hiện tại và nhiều năm nữa vẫn là nguyên nhân gây mù hàng đầu. Ngoài số lượng lớn bệnh nhân bị đục TTT còn tồn đọng tại các địa phương, mỗi năm lại phát sinh thêm số mới làm gia tăng tỷ lệ đục TTT trong cộng đồng. Trong những năm qua, bệnh viện Mắt Trung ương với chức năng là Viện đầu ngành nhãn khoa, phụ trách công tác PCML đã tiến hành nhiều cuộc điều tra dịch tễ học để đánh giá tình hình và hoạch định kế hoạch chiến lược PCML cho nhân dân ta. Cuộc điều tra trong thời gian gần đây nhất “Đánh giá nhanh mù lòa có thể phòng tránh được (RAAB) tại 16 tỉnh thành của Việt Nam”[8].
Đe thu thập số liệu cơ bản về mù lòa, 16 tỉnh thành đã được chọn một cách có mục đích để tiến hành RAAB. Trong đó, 8 trong số 16 tỉnh này đã được điều tra RACSS (Đánh giá nhanh dịch vụ phẫu thuật đục thể thủy tinh) vào năm 2001-2002 (Bình Phước, Bình Định, Gia lai, Hải Phòng, Hà Tây, Nghệ An, Phú Thọ và Tiền Giang). Những phát hiện của cuộc điều tra năm 2007 có thể dễ dàng so sánh với kết quả điều tra năm 2000-2002 để tìm hiểu xem có sự thay đổi nào về các chỉ số mù lòa từ đó đến nay. Các tỉnh khác được chọn để cung cấp số liệu về mù lòa ở các vùng khác nhau của Việt Nam.
Tất cả các vùng sinh thái, ngoại trừ vùng núi Tây bắc đều có 1 hoặc vài tỉnh được chọn để điều tra[8]. Ket quả: tỷ lệ mù 2 mắt của mẫu được chọn (thị lực của mắt tốt hơn với kính lỗ nhỏ hơn 3/60) ở người từ 50 tuổi trở lên dao động từ 2,4% ở tỉnh Lào Cai tới 7,0% ở tỉnh Bình Định. Tỷ lệ này ở nam giới dao động từ 1,6% ở tỉnh Tiền Giang tới 5,1% ở Nghệ An và Bình Định. Tỷ lệ này ở nữ giới dao động từ 2,8% ở Thành phố Hồ Chí Minh tới 8,2% ở tỉnh Bình Định.
Tỷ lệ mù trung bình cho toàn Việt Nam là 4,0%, trong đó 2,9% ở nam và 4,6% ở nữ giới[8]. Tỷ lệ mù do đục TTT ở mẫu được chọn (thị lực của mắt tốt hơn với kính lỗ nhỏ hơn 3/60) ở người từ 50 tuổi trở lên. Tỷ lệ này dao động từ 0,4% ở tỉnh Ninh Thuận 9 tới 4,0% ở Bình Định, ở nam giới dao động từ 0,1% ở Ninh Thuận đến 3,0% ở Bình Định, ở nữ giới dao động từ 0,6% ở Ninh Thuận đến 4,6% ở Huế và Bình Định. Tỷ lệ trung bình về mù do đục TTT được ước tính cho toàn Việt Nam là 2,3%; 1,5% ở nam và 2,8% ở nữ[8].
Được sự giúp đỡ của Sở Y tế và Sở kế hoạch Đầu tư Thành phố Hà nội, bệnh viện Mắt Hà Nội đã tiến hành điều tra ngẫu nhiên trên cụm. Khám trên toàn địa bàn thành phố năm 2007, tỷ lệ mù 2 mắt ở người từ 50 tuổi trở lên là 2,87%, trong đó ở nam là 1,56% và nữ là 3,88%.