Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE AN TOÀN VỆ SINH LAO DONG VA PHAP LUAT VE AN TOÀN, VỆ SINH LAO DONG 1. Khai quat vé an toan, vé sinh lao dong 1. Khái niệm về an toàn, vệ sinh lao động Trong quá trình làm việc, con người luôn phải chịu tác động của điều kiện lao động tiềm ân những rủi ro có thể gây ra tai nạn lao động, thậm chí là tử vong. ATLĐ và VSLĐ là hai phạm trù không thê tách rời trong quá trình lao động tạo ra sản phẩm đảm bảo an toàn tính mạng và sức khỏe nghề nghiệp cho NLD.
Dé bảo vệ con người một cách tốt nhất, từng phạm trù phải được thực hiện một cách hiệu quả, và trước hết, ATVSLĐ phải được đảm bảo dé phong tranh tai nan lao dong, BNN. Trên bình diện quốc tế, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã xây dựng nhiều Công ước, Khuyến nghị liên quan đến ATVSLĐ như Nghị định thư năm 2002, Công ước số 155 về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp năm 1981, Công ước số 148 về môi trường làm việc năm 1977, Công ước số 167 về an toàn và VSLĐ trong ngành xây dựng năm 1988. Trong các văn bản này, ILO không đưa ra khái niệm cụ thé nào về an toàn VSLĐ mà thông qua các nội dung khác dé có cách hiểu toàn diện về hoạt động an toàn VSLĐ. Theo định nghĩa “sức khỏe” tại Công ước số 155 về an toàn lao động, VSLĐ và môi trường lao động, “sức khỏe, liên quan đến công việc, không chỉ là tình trạng không có bệnh tật, mà còn bao gom cả các yếu tô vé thé chất và tinh than có tác động đến sức khỏe và có liên quan trực tiếp đến an toàn va VSLĐ” [18].
Tại định nghĩa chung về sức khỏe nghề nghiệp giữa ILO va WHO được thông qua bởi Ủy ban về sức khỏe nghề nghiệp tại phiên họp đầu tiên vào năm 1950, được sửa đổi tại kỳ họp thứ 12 trong năm 1995, sức khỏe nghề nghiệp phải đạt được ba mục tiêu khác nhau: (i) duy trì và nâng cao sức khỏe NLD và khả năng lao động; (ii) cải thiện môi trường làm việc để việc làm trở thành an toàn và có lợi cho sức khỏe; (iii) Phát triển văn hóa làm việc theo hướng đảm bảo sức khỏe va an toàn tai nơi làm việc, khi dat được các yếu tố trên sẽ thúc đây một môi trường xã hội tích cực, hoạt động trơn tru và có thé nâng cao năng suất lao động [10, tr. Từ các nội dung trên có thé thấy, dé có sức khỏe nghề nghiệp, hoạt động ATVSLD sẽ phải tuân thủ các yêu cầu về ATVSLD theo đúng quy định của pháp luật và việc tuân thủ này là trách nhiệm và nghĩa vụ của NSDLĐ, đồng thời, NLD cần được chi đạo và cam kết thực hiện các hoạt động ATVSLD cũng như được tạo điều kiện dé thiết lập hệ thống ATVSLD tại cơ sở. Bên cạnh các tô chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới đều mong muốn xây dựng một xã hội phát triển bền vững thông qua việc tạo dựng môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, cân bằng giữa bảo vệ sức khỏe và cơ hội việc làm, cải thiện đời sống và sức khỏe cho NLD. Có thé kế đến một số quốc gia tiêu biểu, đi đầu trong việc nghiên cứu chính sách về an toàn VSLĐ nhằm đảm bảo sức khỏe và tính mạng của NLD, như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,.
Cu thé: Tại Mỹ, Luật An toàn và sức khỏe nghề nghiệp năm 1970 (Chapter 15 - Occupational safety and Health) không đưa ra khái niệm về an toàn VSLD mà định nghĩa về “tiêu chuẩn về ATLD va sức khỏe nghề nghiệp”, theo đó, các tiêu chuẩn này yêu cầu phải có điều kiện, được thừa nhận, sử dụng một hoặc nhiều phương tiện, phương pháp, quy trình hợp lý, cần thiết, thích hợp để cung cấp một công việc và môi trường làm việc an toàn và lành mạnh. Tại Nhật Bản có hai đạo luật tiêu biểu cho chính sách chăm sóc, bảo vệ an toàn, sức khỏe của NLĐ là Luật An toàn và sức khỏe công nghiệp và Luật Tiêu chuẩn lao động. Tuy không có định nghĩa thế nào là an toàn VSLĐ nhưng Luật đã đề ra những trường hợp NLD bị thương, bệnh tật hoặc thiệt hại về tính mạng vì các công trình, thiết bị, khí, hơi hay nguyên vat liéu,.trong lao động hoặc do công việc yêu cầu sự có mặt của NLĐ; hệ thống các tiêu chuẩn phòng ngừa yếu tô nguy hiểm tại nơi làm việc; trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động. Mục đích của những đạo luật này nhăm đảm bảo an toàn và sức khỏe của NLD ở noi làm việc, cũng như dé tạo ra môi trường làm việc thoải mái bang cách thúc đây các biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động một cách toàn diện và có hệ thống.
10 Hay ở Hàn Quốc, các nhà xây dựng pháp luật không đưa ra một định nghĩa cụ thé về an toàn VSLĐ mà trực tiếp đưa ra những quy định về TNLD, bệnh nghề nghiệp với mục đích duy trì và thúc đây môi trường làm việc an toàn cho NLD thông qua việc phòng ngừa tai nạn lao động, BNN bằng cách xây dựng và đảm bảo thực hiện những tiêu chuẩn về ATLĐ và sức khỏe lao động. Tại Việt Nam, để bảo vệ an toàn tính mạng và sức khỏe của NLD, đồng thời thực hiện thông lệ quốc tế, Nhà nước đã xây dựng hệ thống các quy định về ATVSLĐ, tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn, ATVSLD lại được ghi nhận ở một mức độ khác nhau. Trước đây, ATVSLD được quy định là một bộ phận nhỏ trong chế định BHLĐ, theo đó: Bảo hộ lao động bao gồm tổng thé các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, xác định các điều kiện lao động an toàn và vệ sinh có tính chất bắt buộc, các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc khắc phục những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường lao động nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân cach NLD [14, tr. Theo nghĩa rộng, BHLĐ là tổng hợp các quy định về việc bảo vệ NLD khi tham gia quá trình lao động, nhằm đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của NLĐ.
Theo nghĩa hẹp, BHLD được hiểu là những quy định của Nhà nước liên quan đến việc đảm bảo ATLĐ, VSLĐ và các chế độ lao động khác nhằm bảo vệ nhân cách của NLD. Dé tránh những cách hiểu không thống nhất về thuật ngữ “BHLĐ”, kế thừa Bộ luật lao động năm 1994, Bộ luật lao động năm 2012 đã thay đôi tên gọi của các chế độ BHLĐ thành pháp luật về an toàn lao động, VSLĐ [14, tr. Dù ban hành muộn hơn các nước phát triển trên thé giới cho đến thời điểm hiện tại từ khi Luật ATVSLĐ năm 2015 ra đời, nhưng đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của luật chuyên ngành trong việc bao đảm an toàn, sức khỏe cho NLD. Theo đó, Luật ATVSLĐ năm 2015 đã định nghĩa một cách chi tiết những thương ton mà điều kiện lao động tác động xấu toi NLD.
Cụ thé: TNLĐ là tai nạn gây ton thương cho bat kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, 11 gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động và Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với NLD [22, Điều 3, Khoản 8, 9]. Đề hạn chế được những tác động xấu này, một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là công tác ATVSLD phải được nâng cao và thực hiện có chất lượng. An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động còn VSLĐ là giải pháp phòng chống tác động của yếu tô có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động [22, Điều 3, Khoản 2 - 3 ] Đây là một chế định pháp luật tập hợp các quy phạm pháp luật quy định các biện pháp phòng, tránh những sự cố có khả năng gây nguy hai cho con người trong quá trình lao động cũng như biện pháp khắc phục hậu quả TNLĐ, BNN và cải thiện điều kiện lao động cho NLD. Trong phạm vi của luận văn này, “ATVSLD là tổng thể các biện pháp đảm bao cho NLD được làm việc trong một điều kiện an toàn, không phải đối mặt với bat kỳ mỗi nguy hại nào về tính mạng, sức khỏe, đông thời duy trì tốt khả năng làm việc lâu dài của NLD”.
Đặc diém an toàn vệ sinh lao động ATLĐ, VSLĐ mặc dù là 2 phương diện có sự khác nhau nhất định nhưng lại luôn song hành cùng nhau và cùng hướng tới bảo vệ sức khỏe, tính mạng của NLD. Hoạt động đảm bảo ATLĐ, VSLD có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, ATLĐ, VSLĐ gắn liền với khoa học, kỹ thuật Đây là tính chất rất cơ ban, vì mọi hoạt động, biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các yếu tố gây nguy hiểm, độc hại đều xuất phát trên cơ sở nghiên cứu khoa học và được thực hiện bằng các giải pháp kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ. Các hoạt động điều tra, phân tích điều kiện lao động, khảo sát, đánh giá ảnh hưởng của các yêu tô độc hại đên sức khỏe NLD, nghiên cứu các 12 giải pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh trong từng công việc cụ thể. đều là những hoạt động khoa học, sử dụng các công cụ, phương tiện kỹ thuật và do cán bộ khoa học kỹ thuật thực hiện.
Đồng thời, cũng từ các phát minh, ứng dụng kỹ thuật ma NLD được trang bị các phương tiện bảo hộ cần thiết, các thiết bị vệ sinh trong lao động. Mặt khác, có thé thay dé đảm bảo an toàn VSLD thì NSDLĐ cần phải tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật về ATLD, VSLĐ. Đây là những tiêu chuân được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp và đánh giá yêu cầu an toàn, vệ sinh tối thiêu đối với từng ngành nghề, từng cơ sở sản xuất, do các cán bộ khoa học đảm nhiệm và có tính bắt buộc chung mang tính quốc gia hoặc trong phạm vi ngành. Theo quy định hiện hành, các bộ, ngành chức năng có trách nhiệm phối hợp với nhau trong việc ban hành và quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm về ATLĐ, VSLĐ.
Bên cạnh đó, trong quá trình cải tiến, lắp đặt các máy móc, trang thiết bị, dây chuyền sản xuất, các doanh nghiệp cũng cần chú ý tới những yếu tố an toàn, vệ sinh mang tính kỹ thuật như: khoảng cách an toàn, biện pháp xử lý sự cố.