Chương 1: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về việc làm Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về việc làm của Sở Lao Động - Thương binh và Xã hội tỉnh Long An Chương 3: Giải pháp và lộ trình bảo đảm thực hiện pháp luật về việc làm của Sở Lao Động - Thương binh và Xã hội tỉnh Long An. CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM 1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về việc làm 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về việc làm Theo khoản 1 Điều 3 của Luật Việc làm 2013 quy định “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm.
Ngoài ra theo khoản 1 điều 9 của Bộ Luật lao động 2019 “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm.” Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO) thuật ngữ “việc làm” được đề cập trong nhiều văn kiện: Tuyên ngôn Philadenphia năm 1944; “Chương trình việc làm thế giới” năm 1969; Tuyên bố tại Hội nghị việc làm thế giới năm 1976; Công ước số 22 năm 1964. nhưng trong các văn kiện này chưa nêu ra khái niệm “việc làm”. Đến năm 2005, ILO đã đưa vào Từ điển chuyên ngành khái niệm “Việc làm là một công việc được trả công. Việc làm cũng đề cập đến số người tự tạo việc làm và tham gia làm việc để được trả công.” Dù được nhìn nhận từ bất kỳ góc độ nào, các khái niệm về việc làm đều nhấn mạnh những tiêu chí cơ bản rằng việc làm là các hình thức hoạt động lao động, trong đó người lao động sử dụng sức lao động của bản thân để hướng đến mục tiêu tạo ra lợi ích, cụ thể là thu nhập, nhằm thỏa mãn các nhu cầu của bản thân, gia đình và góp phần vào sự phát triển của xã hội.
BLĐTBXH đã có những đề cập rõ ràng đến khái niệm pháp luật về việc làm, theo đó, pháp luật về việc làm được hiểu là một hệ thống các quy định pháp lý nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của cả người lao động và người sử dụng lao động. Hệ thống này bao gồm các quy định chi tiết liên quan đến hợp đồng lao động, tiền lương, thời gian làm việc, điều kiện làm việc, BHXH và an toàn lao động. Mục tiêu của các quy định pháp luật này là tạo ra một môi trường lao động an toàn, công bằng và bền vững, nơi mà quyền lợi của người lao động được bảo vệ một cách tối đa và người sử dụng lao động cũng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình. 8 Các khái niệm về pháp luật việc làm có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung, pháp luật việc làm có thể hiểu là tập hợp các quy định pháp lý liên quan đến việc làm và quản lý lao động, bao gồm những quy định cụ thể về quá trình tuyển dụng, nội dung hợp đồng lao động, các vấn đề về tiền lương, thời gian làm việc và nghỉ ngơi, an toàn lao động và BHXH.
Những quy định này không chỉ đảm bảo rằng người lao động được bảo vệ đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong suốt quá trình làm việc, mà còn đảm bảo rằng người sử dụng lao động thực hiện đúng và đầy đủ các trách nhiệm pháp lý của mình, góp phần vào việc duy trì một môi trường làm việc hài hòa và hiệu quả. Thực hiện pháp luật về việc làm là quá trình quan trọng trong việc đưa các quy định của pháp luật về việc làm vào thực tế cuộc sống, đảm bảo rằng các quy tắc và quy định này không chỉ tồn tại trên giấy mà còn được áp dụng một cách hiệu quả trong thực tiễn. Quá trình này bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, từ việc tổ chức, quản lý, giám sát cho đến xử lý các vấn đề liên quan đến việc làm, nhằm đảm bảo rằng các quy định pháp luật được tuân thủ một cách đúng đắn và đầy đủ. Việc thực hiện pháp luật về việc làm không chỉ nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của người lao động, mà còn để đảm bảo rằng người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ các trách nhiệm pháp lý của mình, từ đó góp phần vào việc xây dựng một môi trường làm việc công bằng, an toàn và hiệu quả.
Các quy phạm pháp luật về việc làm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm thực hiện Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản dưới luật. Trong số đó, Luật Việc làm năm 2013 và Luật Lao động năm 2019 đóng vai trò trung tâm, quy định cụ thể về các chế độ, thông tin liên quan đến lương thưởng, giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi, an toàn lao động, cũng như quyền và trách nhiệm của cả người lao động và người sử dụng lao động và của các cơ quan và tổ chức liên quan. Những quy định này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan, mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của môi trường làm việc và xã hội nói chung. 9 Các báo cáo từ các cơ quan nhà nước cung cấp những thông tin quan trọng về tình hình lao động hiện nay, cũng như về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ dành cho người lao động.
Cụ thể, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cung cấp thông tin chi tiết về tình hình việc làm, tỷ lệ thất nghiệp, cùng với các hoạt động thực hiện các chính sách hỗ trợ người lao động trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, Cục Thống kê cũng đóng góp một phần quan trọng thông qua việc cung cấp các số liệu thống kê chính xác về thị trường lao động, tỷ lệ thất nghiệp và mức lương trung bình của người lao động trong các ngành nghề khác nhau. Những thông tin này là cơ sở để các cơ quan nhà nước phân tích và điều chỉnh các chính sách hiện hành, nhằm đảm bảo rằng chúng phù hợp với thực tiễn xã hội và đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của thị trường lao động hiện tại. Đặc điểm thực hiện pháp luật về việc làm - Thực hiện pháp luật về việc làm được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau, trong đó chủ thể quan trọng nhất là Nhà nước.
Đây là chủ thể đóng vai trò chủ đạo trong việc giải quyết việc làm. Nhà nước tham gia vào giải quyết việc làm bằng cách đề ra chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn năm năm và hàng năm. Bên cạnh đó, các quy định, chính sách hỗ trợ việc làm và giải quyết việc làm cũng được Nhà nước rất quan tâm. Một số quy định hỗ trợ việc làm được cụ thể hóa trong các chính sách như Nghị định số 38/2020/NĐ-CP ngày 03/04/2020 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã khuyến khích, tạo điều kiện cho người lao động có nhu cầu và khả năng đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; hỗ trợ người lao động được tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để đáp ứng yêu cầu của nước tiếp nhận lao động; hỗ trợ người lao động được tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để đáp ứng yêu cầu của nước tiếp nhận lao động.
Các chính sách hỗ trợ tạo việc làm thông qua việc phát triển thị trường lao động, Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 05/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030 theo đó Nhà nước có 10 một số nhiệm vụ hỗ trợ như: thu thập, cung cấp thông tin thị trường lao động, phân tích, dự báo thị trường lao động, kết nối cung cầu lao động; hiện đại hóa hoạt động dịch vụ việc làm và hệ thống thông tin thị trường lao động; đầu tư nâng cao năng lực trung tâm dịch vụ việc làm. Ngoài ra Nhà nước còn có một số chính sách hỗ trợ khác như hỗ trợ người lao động vay vốn ưu đãi; người lao động độ tuổi thanh niên sẽ được tạo việc làm qua việc hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội, được tư vấn, định hướng nghề nghiệp và giới thiệu việc làm miễn phí; hàng năm Nhà nước tổ chức kế hoạch chương trình việc làm, đề án tạo việc làm. Không chỉ dừng lại ở việc trực tiếp hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động mà Nhà nước còn những chính sách khuyến kích, hỗ trợ các doanh nghiệp chuyển đổi số, từng bước tiếp cận với các nền tảng công nghệ số để thị trường lao động trong nước không bị tụt hậu. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng Chương trình hỗ trợ chuyển đổi số trong doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh giai đoạn 2021-2025.
Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Quyết định số 377/QĐ-BTTTT ngày 26/3/2021 về Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số với mục tiêu giới thiệu để các doanh nghiệp tiếp cận sử dụng các nền tảng công nghệ số. Với những chính sách hỗ trợ đó đã giúp đóng góp hiệu quả vào công tác giải quyết việc làm trong bối cách mạng 4.0 đang phát triển mạnh mẽ. - Thực hiện pháp luật về việc làm cần có sự tham gia của người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động đứng vị trí trung tâm trong giải quyết việc làm.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 BLLĐ 2019 thì người sử dụng lao động bao gồm doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận. Pháp luật cho phép người sử dụng lao động được thực hiện quản lý lao động của mình như tăng, giảm lao động theo nhu cầu, điều hành lao động theo sản xuất kinh doanh, ban hành nội quy, thỏa ước lao động tập thể, khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động, ký kết thỏa ước lao động tập thể, được chấm dứt hợp 11 đồng và được yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động. Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định trách nhiệm giải quyết việc làm của người sử dụng lao động thông qua các hoạt động như quy định về tuyển dụng người lao động, trong việc sắp xếp, bố trí công việc, môi trường làm việc cho người lao động, tạo điều kiện làm việc cũng như nâng cao chất lượng bảo đảm việc làm cho người lao động.