Chương 1 của Khóa luận tác giả đã hệ thống hóa một số van dé lý luận chung về giao kết HDLD, bao gồm: Làm rõ khái niệm giao kết HDLD, pháp luật về giao kết HDLD, phân loại giao kết HDLD; trình bày khái quát các nội dung của pháp luật về giao kết HDLD như về nguyên tắc giao kết HDLD, chủ thé giao kết HDLD, nội dung giao kết HĐLĐ, trình tự, thủ tục giao kết.; làm rõ ý nghĩa, tam quan trong của van dé giao kết HDLD. Tùy theo tình hình kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia mà pháp luật có những quy định khác nhau về vẫn đề này nhưng tựu chung lại vẫn phản ánh các nội dung trên. Việc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống những van dé lý luận về giao kết HDLD cũng như pháp luật về giao kết HDLD là rất cần thiết, là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về giao kết HDLD trong Chương 2 và Chương 3 của Khóa luận. 18 CHUONG 2 THUC TRANG QUY DINH VA THUC TIEN THUC HIEN PHAP LUAT LAO DONG VIET NAM VE GIAO KET HOP DONG LAO DONG 2.
Vé nguyén tac giao két hop déng lao dong Nguyên tắc giao kết HDLD là những nguyên lí, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình giao kết HĐLĐ. Với tư cách là một quan hệ khế ước, quá trình giao kết HDLD phải tuân thủ các nguyên tắc giao kết HDLD nói chung, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc đặc thù của HDLD nói riêng. Các chủ thé tham gia giao kết quan hệ lao động phải tuân theo các nguyên tắc này. Tại Điều 15 BLLĐ 2019 quy định nguyên tắc giao kết HĐLĐ gồm: “1.
Tự nguyện, bình dang, thiện chí, hợp tác và trung thực; 2. Tự do giao kết hợp dong lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thé và đạo đức xã hội. ° , Thứ nhất, nguyên tắc tự nguyện, bình dang, thiện chí, hợp tác và trung thực. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, là tiền đề dé giải quyết các vấn đề xảy ra trong quan hệ lao động.
Trong đó: * Tự nguyện là biêu hiện về mặt chủ quan của người tham gia quan hệ lao động. Khi tham gia giao kết HDLD, các chủ thé hoàn toàn tự do thé hiện ý chí của mình và tự nguyện xác lập quan hệ lao động, thé hiện thông qua hành vi giao kết HĐLĐ. Mọi hành vi dùng thủ đoạn cưỡng bức, dụ dỗ, lừa gạt các bên phải giao kết hợp đồng trái với ý chí của họ đều bị cắm, hợp đồng giao kết trong trường hợp này sẽ không được pháp luật thừa nhận. Lí do pháp luật phải quy định như vậy là bởi đối tượng của giao kết HĐLĐ là sức lao động, một loại hàng hóa đặc biệt sắn liền với bản thân NLĐ.
Vậy nên, chính NLĐ đó là người tự định đoạt, quyết định sức lao động của mình sẽ bán cho ai, bán như thế nào, nghĩa là tự quyết định giao kết HDLD với ai, nội dung thỏa thuận là gì. Trong mối quan hệ lao động đó, NLD và NSDLĐ là những chủ thé được hưởng quyền và lợi ích đồng thời thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng giao kết mà không ai khác có quyền hưởng thay và thực hiện thay nghĩa vụ. 19 Tuy nhiên, pháp luật đã quy định một số trường hợp mà sự tự nguyện của các chủ thể là chưa đủ dé có thé giao kết HDLD. Cụ thể đó là trường hợp giao kết HDLD với NLD từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thì phải có sự đồng ý bằng văn ban của người đại diện theo pháp luật; một số trường hop NLD bị cắm đảm nhiệm công việc theo bản án, quyết định của Tòa án thì cũng không thé tự do giao kết HDLD.
*Bình đẳng nghĩa là ngang hàng nhau về địa vị, về quyền lợi. Nguyên tắc bình dang thé hiện địa vị pháp lý va tư cách chủ thể ngang nhau của NLD va NSDLD khi giao kết HDLD. Các chủ thé bình dang về vị trí, tư cách, địa vị pháp ly, phương thức biểu dat và hình thức thê hiện khi giao kết HDLD. Tuy nhiên, quan hệ lao động thực chất là quan hệ bat bình dang khi mà NLD thường ở vị thé bất lợi, là người làm công ăn lương, bán sức lao động của minh dé có thu nhập, trong khi đó, NSDLD là người chủ quản lí NLD.
Đó là mặt trái của nền kinh tế thị trường (lợi nhuận và mat cân đối cung — cầu sức lao động) đã làm cho mối quan hệ này không thật sự bình dang khi NLD bị đặt trước nguy cơ bị chèn ép, buộc phải chấp nhận những điều kiện lao động không có lợi cho mình. Vậy nên, nguyên tắc bình đăng ra đời nhằm tránh việc NSDLD lợi dung vi thé của mình dé áp đặt, gây khó dé cho NLD trong giao kết HDLD. Chỉ khi nguyên tắc bình đăng được dam bảo thực hiện, các chủ thé đàm phán, thỏa thuận với vị thế ngang hàng, quyên lợi bình dang thì VIỆC giao kết mới hiệu quả, tránh được mâu thuẫn, tạo ra môi trường lao động phát triên và lành mạnh. *Thiện chí, hợp tác và trung thực là nguyên tắc mới được bỗ sung trong BLLD 2012 và tiếp tục được kế thừa ở BLLĐ 2019 nhằm khuyên khích NSDLD và NLĐ đồng thuận thiết lập và duy trì quan hệ lao động.
Thiện chí được hiểu là cách đối xử tốt đẹp, ý chí hướng đến việc tốt, thiện lành. Hợp tác là sự phối hợp cùng nhau trong công việc. Và trung thực là sự trung thành, thực thà trong mối quan hệ giữa người với người. Sự thiện chí, hợp tác và trung thực trong giao kết HDLD sé làm cho quan hệ lao động được tôn tại lâu dài và bền vững.
Thứ hai, nguyên tắc tự do giao kết hop đồng lao động nhưng không được trai pháp luật, thỏa ưóc lao động tập thể và đạo đức xã hội. Nguyên tắc tự do giao kết HDLD nghĩa là NLD có quyén tự do giao kết HDLD ma không bị hạn chế, bó hẹp, tự mình tìm kiếm việc làm mà mình muốn, tự 20 do thỏa thuận, tự do giao kết với NSDLĐ mà mình muốn. Điều đó phù hợp với quyền lao động của công dân trước pháp luật được quy định tại Khoản 1 Điều 32 Hiến pháp 2013: “Công dan có quyên làm việc, lựa chọn nghệ nghiệp, việc làm và noi làm việc”. Tương tự, NSDLD cũng có quyền tự do trong giao kết, trong tuyên dụng, tự do lựa chon NLD phù hop với tiêu chi tuyển dụng của mình.
Pháp luật cho phép các chủ thể được tự do giao kết HĐLĐ, được tự do thỏa thuận. nhưng tự do không có nghĩa muốn làm gì thì làm, muốn giao kết như nào cũng được mà nó vẫn phải được đặt trong khuôn khổ, trong một phạm vi nhất định pháp luật không cắm dé vừa đảm bảo lợi ích cá nhân của chính những chủ thé tham gia giao kết HDLD vừa đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội, giữ trật tự chung cộng đồng. Nguyên tắc tự do giao kết HDLD là sự tôn trọng cái riêng tư, cá nhân của các bên trong quan hệ lao động. Nhưng dé được xã hội tôn trọng, dé được pháp luật chấp thuận và bảo vệ thì cái riêng của các bên phải được đặt trong cái chung của xã hội tức là tuân thủ nguyên tắc không trái pháp luật!?.
Đồng thời nó cũng không được trái với đạo đức xã hội, trái với chuẩn mực hành vi xử sự, với thuần phong mỹ tục của đất nước. Bên cạnh đó, việc tự do giao kết cũng không được trái với thỏa ước lao động tập thể - văn bản thỏa thuận giữa tập thé NLD và NSDLĐ về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua đàm phán, thương lượng tập thé, có thé ví đó như bộ luật lao động thu nhỏ của từng doanh nghiệp. Vậy nên, lẽ dĩ nhiên là việc giao kết không được trái với thỏa ước lao động tập thé. Nhu đã dé cập ở trên, quan hệ lao động là một quan hệ bat bình dang ma NSDLD ở vị thế mạnh còn NLD ở vi thé yếu, bởi lẽ đó, có được sự bình đăng giữa các bên trong quá trình giao kết HDLD không hề đơn giản.
Trên thực tế, trong quá trình thiết lập các quan hệ lao động, các nguyên tắc giao kết HDLD được thực hiện chưa đảm bảo đúng tinh thần của nó. Cụ thê là với nguyên tắc tự nguyện, bình đăng trong nhiều trường hợp thê hiện không rõ ràng. Thông thường, khi giao kết HDLD, NSDLD sẽ soạn thảo trước nội dung HDLD với các điều khoản thỏa thuận về tiền lương, việc làm, thời gian làm việc, nghỉ ngơi. Và sau khi NLD xem xét nội dung !9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Tập 1, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 21 HDLD đó, nếu đồng ý thì kí hợp đồng, như vậy đã xác lập một quan hệ lao động va ngược lại. Với cách thức như trên, NSDLĐ không bị xem là vi phạm nguyên tắc giao kết HDLD vì họ không ép buộc NLD phải kí vào hợp đồng đó, chỉ là đưa ra trước một ý chí cố định. Xét dưới góc độ ý chí, cách tiến hành giao kết như trên chưa thật sự đảm bảo yếu t6 tự nguyện, bình đăng như pháp luật mong muốn là có sự đàm phán, thương lượng ngang hàng giữa các chủ thẻ.
Về chủ thể giao kết hợp đồng lao động Chủ thé giao kết HDLD bao gồm NLD và NSDLĐ. Dé có thé giao kết HĐLĐ va dé HĐLĐ có giá trị pháp lý, pháp luật đặt ra một số điều kiện nhất định cho những chủ thé giao kết hợp đồng. *Đắi với NLD: Khoản | Điều 3 BLLD 2019 định nghĩa “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quan ly, diéu hành, giám sát của người sử dụng lao động” và độ tuôi tôi thiêu của NLD là đủ 15 tuổi. Như vậy có thé rút ra điều kiện cơ bản dé NLD trở thành chủ thé của quan hệ lao động là từ đủ 15 tuổi và có khả năng lao động.
Con dé có thê trực tiếp tham gia vào một quan hệ pháp luật lao động cụ thể, trực tiếp giao kết HDLD thì NLD can đáp ứng những điều kiện cụ thé khác theo quy định của pháp luật, nhất là với những đối tượng cần sự quan tâm đặc biệt như người dưới 15 tuôi, lao động nữ, lao động là người cao tuôi. Cụ thé đối với NLD đủ 18 tuổi trở lên có thé tự mình trực tiếp giao kết HĐLĐ.