mở đầu công cuộc đổi mới toàn diện, nhất là trong tư duy kinh tế và tư duy pháp lý. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam (năm 1991) tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới nền kinh tế và xã hội ở nước ta: "bước đầu đã hình thành nền kinh tế hang hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý cia Nhà nước” [19, tr. Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ IX cũng khẳng định: "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh" [22, tr.
Đặc biệt, Điều 15 Hiến pháp 1992 đã khẳng định: "Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý cuả Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Trong cơ chế thị trường, lợi ích là yếu tố chi phối nội dung và tính chất của các mối quan hệ lao động. Quan hệ giữa người lao động làm công ăn lương và người sử dụng lao động (thông qua hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể) là sự thay đổi cơ bản trong quan hệ lao động so với trước đây. Với cơ chế thị trường, người lao động hoàn toàn tự do về thân thể và họ có nhu cầu bán sức lao động (giới thợ).
Người sử dụng lao động (giới chủ) tăng nhanh và có nhu cầu thuê mướn lao động. Môi trường pháp lý và hệ thống pháp luật được xây dựng và từng bước được hoàn thiện, bảo đảm cho quan hệ chủ, thợ tồn tại và phát triển. Quan hệ lao động xuất hiện nhằm thực hiện chức năng lao động xã hội theo nội dung quan hệ sản xuất của một phương thức sản xuất nhất định. Đây là quan hệ giữa người với người trong hệ thống tổ chức sản xuất xã hội.
Sự hoà hợp giữa người sử dụng lao động với người lao động trong dạng quan hệ lao động chủ - thợ thường chỉ có tính bén vững và ổn định tương đối, bởi trong quá trình lao động, những cam kết tuy đã thoả thuận nhưng thường bị vi phạm (như ký kết hợp đồng, thoả ước lao động tập thể, tiền lương, thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi. Sự vi phạm này dẫn đến những bất đồng, mâu thuẫn, tranh chấp và đôi khi dẫn đến những xung đột lao động mà đỉnh cao của nó là đình công của người lao động với mục đích để điều chỉnh hoặc tạo áp lực buộc người sử dụng lao động thực hiện những cam kết đã thoả thuận hoặc tạo lập những cam kết mới. Tuy nhiên, các bất đồng về quyền và lợi ích trong quan hệ lao động cá nhân hay quan hệ lao động tập thể không phải lúc nào cũng dẫn đến tranh chấp lao động. Ví dụ: Người lao động đòi tăng 20USD/tháng.
Người sử dụng lao động đề nghị ở mức SUSD. Có sự bất đồng và tiém ẩn một vụ tranh chấp. Nhưng dần dần quá trình các bên đi đến một con số mà cả hai bên đều có thể chấp nhận được. Người lao động có thể giảm yêu cầu của mình xuống 16 USD và người sử dụng lao động có thể tăng mức đề nghị của mình lên đến SUSD.
Quá trình này tiếp tục cho đến khi hai bên thoả thuận được với nhau Ở mức 11 USD/tháng. Việc các bên sẵn sàng tiếp tục đàm phán để đi đến một thoả hiệp là ngăn chặn cuộc xung đột của họ trở thành một cuộc tranh chấp lao động. Các cuộc tranh chấp có thể được ngăn chặn bằng cách đành thời gian cho quá trình thương lượng để thảo luận, bao gồm bàn bạc, lắng nghe, đặt câu hỏi và nói chung là để chia sẻ thông tin và ý tưởng. Vì thế, những bất đồng giữa các bên trong quan hệ lao động chỉ được coi là tranh chấp khi các bất đồng ấy không thể thương lượng, thoả thuận với nhau được mà các bên phải nhờ đến người thứ ba có thẩm quyền giải quyết.
Như vậy, tranh chấp lao động phát sinh từ những mâu thuẫn cần phải giải quyết trong phạm vi quan hệ lao động, trong quá trình thi hành pháp luật lao động và các thoả thuận khác. Nếu những bất đồng xảy ra giữa hai bên không phải trực tiếp trong quá trình sử dụng, thuê mướn lao động thì không được coi là tranh chấp lao động. Định nghĩa tranh chấp lao động. Với những lý giải trên, tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Lao động của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: "Tranh chấp lao động là những tranh chap về quyền lợi có liên quan đến việc làm, tiên lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể và trong quá trình học nghề".
Đây là định nghĩa tương đối đầy đủ, không những chỉ ra được nội dung tranh chấp mà còn phân biệt được đối tượng của tranh chấp. Nó khẳng định tranh chấp lao động chỉ phát sinh trong quá trình thi hành pháp luật lao động và các thoả thuận khác trong quan hệ lao động. Tranh chấp lao động cũng có thể phát sinh ngay cả trong trường hợp các chủ thể quan hệ lao động đang xác lập các nguyên tắc, điều kiện, quyền lợi và nghĩa vụ của đôi bên khi thương lượng để ký thoả ước lao động tập thể nhưng không thành. Đặc điểm của tranh chấp lao động.
So với các tranh chấp gần gũi khác, tranh chấp lao động có những đặc điểm chính sau: - Tranh chấp lao động luôn phát sinh, tổn tại gắn liên với quan hệ lao động. Nghĩa là, phát sinh từ việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cả hai bên chủ thể quan hệ lao động. Quan hệ lao động (nói chính xác là quan hệ pháp luật lao động) được thiết lập thì đồng thời sự xuất hiện quyền và nghĩa vụ của hai bên chủ thể, việc thực hiện nghĩa vụ của người này là cơ sở đảm bảo cho việc thực hiện quyền của người kia và ngược lại. Trong quan hệ lao động, sức lao động của người lao động được sử dụng trong thời gian tương đối dài và ổn định.
Trong thời gian đó, các bên phải thực hiện đúng những quyền và nghĩa vụ đã được quy định trong pháp luật lao động. Tuy nhiên, trong thực tế, vì những mục đích riêng khác nhau, các bên có thể phá vỡ sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ, xâm phạm đến quyền lợi của bên kia và lý do này dẫn đến bất đồng hoặc xung đột giữa hai bên chủ thể của quan hệ, đưa đến tranh chấp lao động. - Tranh chấp lao động không chỉ bao gồm những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ chi thể mà còn gôm những tranh chấp về lợi ích giữa hai bên chủ thể của quan hệ lao động. Nghĩa là, tranh chấp có thể phát sinh trong những trường hợp có hoặc không có vi phạm pháp luật.
Đặc điểm này thể hiện rõ bản chất của quan hệ lao động là sự tự do thương lượng và thoả thuận. Khi tham gia vào quan hệ lao động, các bên đều dựa trên lợi ích của mình, khả năng đáp ứng của bên kia và tình hình kinh tế xã hội nói chung. Để đảm bảo lợi ích, hai bên tiến hành ký kết hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể đến một lúc nào đó, những thoả thuận không còn phù hợp cần có sự thay đổi.
Muốn thay đổi phải có ý chí thống nhất của cả hai bên. Nếu một trong hai bên không chấp nhận, có thể dẫn đến xung đột và phát sinh tranh chấp lao động. Trường hợp này tranh chấp lao động không phát sinh từ sự vi phạm pháp luật lao động, không phát sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ. - Tranh chấp lao động là loại tranh chấp mà tuỳ theo quy mô và mức độ tham gia của các chủ thể có thể làm thay đổi cơ bản tính chất và mức độ tranh chấp.
Tuỳ theo tính chất mà có thể phân thành tranh chấp lao động cá nhân hoặc tranh chấp lao động tập thể. Tranh chấp lao động cá nhân phát sinh giữa một người lao động và người sử dụng lao động hoặc đối tượng tranh chấp chỉ liên quan đến quyền lợi 10 của một người (cá nhân người lao động). Sự ảnh hưởng của tranh chấp này đối với hoạt động sản xuất kinh doanh ở một chừng mực nhất định. Tranh chấp lao động tập thể phát sinh giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động.
Sự ảnh hưởng của tranh chấp này có tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và nhiều khi ảnh hưởng đến cả trật tự công cộng và lợi ích xã hội. - Tranh chấp lao động là loại tranh chấp có tác dụng trực tiếp và rất lớn đối với người lao động, nhiều khi làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và đời sống kinh tế. Quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động luôn được gắn liền với lợi ích của toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: "Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" [22, tr. Tranh chấp lao động, nhất là tranh chấp lao động tập thể một khi xảy ra sẽ là yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến những én định và sự phát triển đó.
Phân loại tranh chấp lao động. Việc phân loại tranh chấp lao động là nhằm đánh giá đúng thực chất của tranh chấp lao động. Trên cơ sở đó hạn chế và giải quyết có hiệu quả đối với từng loại tranh chấp, có thể phân loại tranh chấp lao động theo các tiêu chí sau: * Can cứ vào quy mô của tranh chấp, có thể phan chia tranh chấp lao động thành: - Tranh chấp lao động cá nhân: là tranh chấp giữa cá nhân người lao động và người sử dụng lao động. Nội dung tranh chấp lao động này là các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của quan hệ lao động cá nhân, chúng phát sinh trong quá trình thực hiện, thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động, trong việc thực hiện các chế độ tiền lương, tiền thưởng, điều kiện lao động, v.
Đối tượng của tranh chấp này là quyénva lợi ích của cá nhân người lao động 11 hoặc người sử dung lao động, nó chi mang tính chất cá nhân (trong một trường hợp cụ thể) và không ảnh hưởng tới các quan hệ lao động khác.