Chương 1: Những vấn đề chung về doanh nghiệp cho thuê lại lao động Chương 2: Quy định của pháp luật việt nam về trách nhiệm của doanh nghiệp cho thuê lại lao động, so sánh với pháp luật Đức, Trung Quốc và Philippines. Chương 3: Thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp cho thuê lại lao động và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của doanh nghiệp cho thuê lại lao động 9. Nội dung khác a. Phạm vi nghiên cứu: Với những mục đích, nhiệm vụ chính được nêu trên đây, trong điều kiện về thời gian nghiên cứu, tài liệu tham khảo và trong khuôn khổ của một luận văn cao học, tác giả tự định ra cho mình phạm vi nghiên cứu phù hợp với một góc độ tiếp cận như sau: Thứ nhất, luận văn chủ yếu nghiên cứu doanh nghiệp cho thuê lại lao động, hoạt động cho thuê lại lao động và trách nhiệm của doanh nghiệp cho thuê lại lao 10 động trong hoạt động này dưới góc độ cơ sở lý luận, pháp luật thực định của Việt Nam mà cụ thể là Bộ luật lao động năm 2012 và các văn bản pháp luật liên quan; Thứ hai, luận văn sẽ nghiên cứu trách nhiệm của doanh nghiệp cho thuê lại lao động theo pháp luật thực định của Đức mà cụ thể là Luật về kinh doanh cho thuê lao động9; Trung Quốc là Luật về hợp đồng lao động10; Philippines là Bộ luật lao động11 và Quy tắc thực hiện Điều 106 đến 109 Bộ luật lao động sửa đổi của Philippines12.
Thứ ba, luận văn sẽ nghiên cứu trách nhiệm của doanh nghiệp cho thuê lại lao động với hai chủ thể trong hoạt động cho thuê lại lao động là (i) Doanh nghiệp thuê lại lao động; (ii) Người lao động thuê lại và hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp cho thuê lại lao động. Không gian nghiên cứu: Việt Nam, Đức, Trung Quốc và Philippines. 9 Luật về kinh doanh cho thuê lao động của Đức, được ban hành ngày 07/8/1972, được cập nhật sửa đổi bổ sung vào các năm 2003, 2011, 2017, có hiệu lực mới nhất từ ngày 01/4/2017. 10 Luật về hợp đồng lao động của Trung Quốc, được ban hành ngày 29/6/2007, có hiệu lực từ ngày 01/1/2008.
11 Bộ luật lao động của Philippines, được ban hành ngày 01/5/1974, có hiệu lực từ ngày 01/12/1974. 12 Quy tắc thực hiện Điều 106 đến 109 Bộ luật lao động sửa đổi của Philippines, được ban hành 14/11/2011, có hiệu lực từ ngày 30/11/2011. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG 1. Sơ lược về cho thuê lại lao động 1.
Khái niệm và đặc điểm của cho thuê lại lao động Trên thế giới, cho thuê lại lao động là một khái niệm không còn xa lạ và tương đối phổ biến, tồn tại dưới những hình thức khác nhau như cho thuê nhân viên hay cho thuê lao động phổ thông theo thời vụ…13 Tổ chức lao động quốc tế trong các công ước và khuyến nghị của mình tuy không quy định trực tiếp về vấn đề cho thuê lại lao động song gián tiếp thể hiện thông qua các quy định về việc làm tạm thời,14 đặc biệt là các quy định về tổ chức việc làm tư nhân.15 Theo đó, công việc tạm thời phải xuất phát từ sự tự do lựa chọn của người sử dụng lao động và người lao động. Đồng thời sự xuất hiện của thoả thuận việc làm tạm thời trong thị trường lao động nhất định phải dựa trên sự đồng thuận của xã hội.16 Còn các tổ chức việc làm tư nhân bao gồm những tổ chức cung cấp một hoặc nhiều hơn trong số các loại hình dịch vụ sau: Dịch vụ khớp chào việc (mà tổ chức đó sẽ không trở thành một bên trong mối quan hệ lao động có thể xuất phát từ đó); dịch vụ cung ứng người lao động cho bên thứ ba (trực tiếp sử dụng lao động) để giao việc làm, đồng thời giám sát việc thực hiện các công việc đó; các dịch vụ khác liên quan đến việc tìm kiếm việc làm, được xác định bởi cơ quan có thẩm quyền sau khi thống nhất với tổ chức đại diện của người sử dụng lao động và của người lao động, ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin chưa được đặt ra để phù hợp với khớp chào việc cụ thể. Trong mối quan hệ đó, tổ chức việc làm tư nhân có thể là người sử dụng lao động chính nhưng doanh nghiệp sử dụng cũng sẽ gánh một số nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi mối 13 Oxford Dictionaries. Tham khảo tại: http://www.com/definition/learner/outsource, truy cập ngày 15/82016.
14 Khuyến nghị về quan hệ việc làm số 198 của Tổ chức lao động quốc tế được thông qua vào ngày 15/6/2006. 15 Công ước về cơ quan dịch vụ việc làm tư nhân số 181, của Tổ chức lao động quốc tế được thông qua ngày 19/6/1997; Khuyến nghị về các cơ quan dịch vụ việc làm tư nhân số 188, của Tổ chức lao động quốc tế được thông qua ngày 19/6/1997. 16 International Labour Organization, “Private employment agencies, promotion of decent work and improving the functioning of labour markets in private services sectors”, Issues paper for discussion at the Global Dialogue Forum on the Role of Private Employment Agencies in Promoting Decent Work and Improving the Functioning of Labour Markets in Private Services Sectors, Geneva 18-19/10/2011: 3. 12 quan hệ giữa doanh nghiệp sử dụng và người lao động bao hàm những yếu tố lệ thuộc hay phụ thuộc.17 Theo Bộ lao động Hoa Kỳ thì người lao động cho thuê là người lao động ký hợp đồng dài hạn với người cho thuê lại lao động, người cho thuê lại lao động có trách nhiệm tìm việc làm cho người lao động, trả lương hoặc các khoản như lương, thuế và các quyền lợi cho những người lao động đó.
Người cho thuê lại lao động là một tổ chức hoạt động kinh doanh cho thuê người lao động với khách hàng. Theo thỏa thuận giữa người sử dụng lao động với người cho thuê lại lao động, người sử dụng lao động sẽ ký hợp đồng với người cho thuê lại lao động và sa thải một phần hoặc toàn bộ người lao động của mình. Sau đó những người lao động này được người cho thuê lại lao động tuyển dụng và cho người sử dụng lao động trước đây thuê lại, bây giờ đã trở thành khách hàng của người cho thuê lại lao động dài hạn. Người cho thuê lại lao động chi trả tiền công, các khoản thuế bao gồm cả bảo hiểm thất nghiệp, họ cũng thanh toán cho người lao động các khoản quyền lợi phụ khác.
Người lao động được chi trả (thường được tính theo tỷ lệ trong bảng lương) theo các quy định trong hợp đồng thuê lao động, hợp đồng thuê lao động có thể được gia hạn nhiều lần.18 Hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam được pháp điển hóa tại Bộ luật Lao động năm 2012. Theo đó “cho thuê lại lao động là việc người lao động đã được tuyển dụng bởi doanh nghiệp được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động khác, chịu sự điều hành của người sử dụng lao động sau và vẫn duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động”.19 Hoạt động cho thuê lại lao động đều có các đặc điểm chung sau đây: 17 Điều 1 Công ước về cơ quan dịch vụ việc làm tư nhân số 181, của Tổ chức lao động quốc tế được thông qua ngày 19/6/1997. Department of Labor, Employment and Training Administration, Unemployment Insurance Service (1997), Employee Leasing: Implications for State Unemployment Insurance Programs Final Report, 1-1. Nguyên văn: “A leased employee is a worker who is essentially rented on a long-term basis from an agency that is responsible for employing the worker, paying the salary or wages and taxes, and providing benefits for that employee.
An employee leasing company is an organization in the business of leasing employees to client firms. Under a typical agreement, an employer contracts with a leasing company and dismisses some or all of its employees. These workers are then hired by the leasing company dan leased back to the original eployer, now the client company, on a longterm basis. The leasing company pays both the employees’ wages and associated payroll taxes, including UI.
It also provides the workers with other fringe benefits. This is done for a set fee (usually a percent of payroll) as stipulated in the leasing contract. The contract can be renewed any number of times. 19 Khoản 1 Điều 53 Bộ luật Lao động năm 2012.
13 Thứ nhất, doanh nghiệp (cho thuê lao động) tuyển dụng và kí kết các hợp đồng lao động đối với người lao động nhưng sau đó lại cho doanh nghiệp khác thuê lại trong thời hạn nhất định theo hợp đồng cho thuê lại giữa hai doanh nghiệp. Thứ hai, doanh nghiệp cho thuê lao động vẫn là chủ sử dụng lao động, quyền lợi của người lao động cho thuê lại vẫn do doanh nghiệp cho thuê lao động thực hiện và đảm bảo. Thứ ba, trong thời gian làm việc tại bên thuê lại lao động, bên thuê lại lao động có quyền quản lý, giám sát người lao động. Thứ tư, mục đích của hoạt động cho thuê lại lao động là chuyển một phần các dịch vụ với mục đích chính là cắt giảm chi phí hoạt động, hạ giá thành và nâng cao tính cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Thứ năm, bên thuê lại lao động không chỉ là các doanh nghiệp trong nước mà bao gồm cả doanh nghiệp nước ngoài. Những khía cạnh pháp lý của cho thuê lại lao động Mỗi quốc gia đều có các quy định khác nhau về nội dung của hoạt động cho thuê lại lao động tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống pháp lý. Tuy nhiên, tựu chung lại thì pháp luật các quốc gia đều thống nhất tập trung quy định về những nội dung chính sau: Thứ nhất, về điều kiện hoạt động của doanh nghiệp cho thuê lại lao động. Quan hệ cho thuê lại lao động “về bản chất là một hoạt động kinh doanh mà thông qua việc cho thuê lao động doanh nghiệp cho thuê sẽ thu một khoản lợi nhuận từ hoạt động này chứ không phải thông qua việc trực tiếp sử dụng lao động, mặc dù giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động với người lao động có xác lập quan hệ thông qua việc ký kết hợp đồng lao động”20.
Mặt khác, người lao động làm việc ở những doanh nghiệp thuê lại lao động thường chịu nhiều bất lợi, rủi ro so với những người lao động chính trong doanh nghiệp.