Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Hạnh thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 9 38 01 07), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Dương Quỳnh Hoa và TS. Trần Văn Biên, hoàn thành năm 2020.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng thu hồi hàng hóa có khuyết tật là loại trách nhiệm quan trọng nhằm bảo đảm quyền được an toàn khi sử dụng hàng hóa của người tiêu dùng. Trách nhiệm này đã được áp dụng phổ biến và hiệu quả tại các quốc gia phát triển nhằm ngăn chặn hàng hóa có khuyết tật lưu thông trên thị trường. Tại Việt Nam, bên cạnh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành đã được ban hành điều chỉnh hoạt động này, dẫn đến sự gia tăng số lượng các chương trình thu hồi trên tinh thần tự nguyện của chủ thể kinh doanh. Thống kê của Cục Quản lý cạnh tranh (sau này là Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng) ghi nhận: năm 2012 có 9 vụ thu hồi; năm 2013 có 18 vụ; năm 2014 có 17 vụ; năm 2015 có 19 vụ; và 9 tháng đầu năm 2016 có 17 vụ.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy lượng hàng hóa có khuyết tật được thu hồi chưa tương xứng với lượng hàng hóa còn lưu thông; tồn tại tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật, chủ quan, trốn tránh từ phía doanh nghiệp; người tiêu dùng còn thờ ơ, chưa tích cực hợp tác hoặc có tâm lý tẩy chay doanh nghiệp có hàng hóa bị thu hồi; công tác phối hợp, giám sát của cơ quan nhà nước còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự thiếu hoàn thiện của các quy định pháp luật: nhiều nội dung chưa được quy định hoặc quy định chưa cụ thể, thiếu chế tài đủ mạnh để răn đe, các thiết chế bảo vệ người tiêu dùng chưa phát huy đầy đủ vai trò. Trong khi đó, hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận trách nhiệm sản phẩm dưới góc độ bồi thường thiệt hại mà chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp dưới góc độ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận trọng tâm về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao trách nhiệm này ở Việt Nam. Để đạt được mục đích đó, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu: (1) Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu để xác định những vấn đề còn bỏ ngỏ, tranh luận; (2) Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và xác định các nội dung pháp lý đặc thù của trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật; (3) Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam, kết hợp khảo cứu kinh nghiệm quốc tế; (4) Phân tích yêu cầu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật cùng cơ chế thực thi.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được đánh số và trình bày nhất quán trong văn bản:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bao gồm những nội dung gì?
    • Giả thuyết nghiên cứu 1: Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp gồm các nội dung: chủ thể của trách nhiệm, đối tượng của trách nhiệm, căn cứ phát sinh trách nhiệm, hình thức của trách nhiệm, thủ tục tiến hành hoạt động thu hồi, thời hạn chịu trách nhiệm, miễn trừ trách nhiệm, và chế tài áp dụng đối với doanh nghiệp khi vi phạm trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam hiện nay như thế nào?
    • Giả thuyết nghiên cứu 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam hiện hành về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp còn có những bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu bảo đảm quyền được an toàn khi sử dụng hàng hóa của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, việc thực thi pháp luật chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, nhận thức xã hội, khoa học - công nghệ nên chưa đạt được kết quả cao.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Làm thế nào để hoàn thiện trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở nước ta trong điều kiện hiện nay?
    • Giả thuyết nghiên cứu 3: Đã có những giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp trong một số công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, các giải pháp này còn chưa được đầy đủ, toàn diện, chưa có tính hệ thống nên chưa khắc phục được hết những hạn chế, bất cập trong thi hành hiện nay. Muốn nâng cao trách nhiệm này cần có các giải pháp toàn diện từ chủ trương, chính sách pháp luật đến cơ chế thực hiện pháp luật phù hợp và hiệu quả.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa (gọi chung là doanh nghiệp), không bao gồm các loại trách nhiệm sản phẩm khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra.

Về phạm vi nghiên cứu: Về nội dung, luận án tập trung vào cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp để đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Về không gian, đề tài nghiên cứu trên phạm vi cả nước kết hợp khảo cứu kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Về thời gian, luận án khảo sát các dữ liệu thực tiễn và văn bản pháp luật từ năm 2010 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2020).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng nhóm nội dung cụ thể:

Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về hàng hóa có khuyết tật và trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp:

  • Về khái niệm và phân loại hàng hóa có khuyết tật, các công trình của các tác giả trong nước đã thống nhất xác định sản phẩm có khuyết tật khi không đảm bảo sự an toàn thông thường có thể mong đợi, mang tính "nguy hiểm một cách bất hợp lý" và gây rủi ro về tính mạng, sức khỏe, tài sản. Khuyết tật được phân chia thành 3 dạng: khuyết tật do thiết kế, khuyết tật do sản xuất, và khuyết tật do không cảnh báo hoặc cảnh báo không đầy đủ. Đối tượng điều chỉnh là động sản được chế biến, sản xuất, loại trừ sản phẩm tự nhiên và bất động sản. Tuy nhiên, nội hàm còn điểm tranh luận: công trình số [53] cho rằng sản phẩm có khuyết tật phải là sản phẩm hữu hình phục vụ tiêu dùng, trong khi công trình số [62] mở rộng sang cả sản phẩm vô hình (dịch vụ).
  • Về khái niệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật, các nghiên cứu trong nước trước đó ([42], [50]) chỉ đề cập sơ bộ việc thu hồi như một phương thức loại bỏ sản phẩm không an toàn khỏi lưu thông. Ở nước ngoài, Jeffrey A. Lamken [80] định nghĩa thu hồi sản phẩm có khuyết tật gồm nội dung cảnh báo lỗi kết hợp đề nghị sửa chữa, thay thế hoặc hoàn tiền. Angela Xia Liu, Yong Liu và Ting Luo [71] phân chia thành các hình thức: hoàn tiền, thay thế, sửa chữa, và giảm giá cho lần mua sau.
  • Về khái niệm và đặc điểm trách nhiệm thu hồi, các công trình [43], [51], [83] xác định bản chất của trách nhiệm này là một loại nghĩa vụ pháp lý. Nguyễn Thị Vân Anh và Nguyễn Văn Cương [26] chỉ rõ cơ sở phát sinh trách nhiệm là hàng hóa có khuyết tật, áp dụng với hàng hóa hữu hình, không căn cứ vào hậu quả thiệt hại thực tế, và trách nhiệm thuộc về nhà sản xuất, nhà nhập khẩu mà không bao gồm nhà phân phối bán lẻ. Chu Đức Nhuận [47] khẳng định trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hàng hóa có khuyết tật không phụ thuộc vào yếu tố lỗi.
  • Về phân biệt trách nhiệm thu hồi với các trách nhiệm khác, các công trình [44], [47], [59] làm rõ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng đòi hỏi phải có thiệt hại và mối quan hệ nhân quả. Chu Đức Nhuận [47] phân tích sự khác biệt giữa thu hồi với trách nhiệm bảo đảm chất lượng, bảo hành, trách nhiệm theo hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  • Về các yếu tố tác động đến trách nhiệm thu hồi: David G. Wix, Peter J. Mone, và Barry Berman phân tích việc lập kế hoạch thu hồi qua ba giai đoạn (trước thu hồi, trong thu hồi và sau thu hồi); Con Korkofingas và Lawrence Ang chỉ ra sự chậm trễ thu hồi làm suy giảm uy tín và giá trị cổ phiếu; Zhao Xiande, Li Yina và Barbara Flynn đánh giá thiệt hại tài chính tác động đến quyết định thu hồi; Angela Xia Liu, Yong Liu và Ting Luo phân tích chi phí khắc phục ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp; Luiza Venzke Bortoli và Valeria Freundt chứng minh tác động tích cực của thu hồi tự nguyện; Liwu Hsu và Benjamin Lawrence chỉ rõ mạng xã hội làm trầm trọng thêm tác động tiêu cực của việc thu hồi; Wei Jiuchang, Zhao Ming, Wang Fei và Zhao Dingtao kết luận thông báo thu hồi tác động đến nhận thức rủi ro của khách hàng; Mariana Hammel Brandão, Yuka Yamada, Mateus Canniatti Ponchio, Rafaela Almeida Cordeiro và Vivian Iara Strehlau phân tích ảnh hưởng của thu hồi đối với lòng trung thành thương hiệu.

Nhóm công trình nghiên cứu lý luận pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm thu hồi:

  • Về nguyên tắc, Liming Wang [83] chỉ ra các tính năng cơ bản của hệ thống thu hồi: tính phòng ngừa, tính chủ động, tính phổ biến, tính lợi ích công cộng và tính hiệu quả.
  • Về nội dung pháp luật: Đặng Thành Lê [43] và Phạm Văn Phong [51] đề cập đến chủ thể, thông báo và chế tài xử lý. Nguyễn Minh Thư [65] và Trương Hồng Quang [54] nghiên cứu về chủ thể có quyền và chủ thể chịu trách nhiệm (trách nhiệm riêng rẽ hoặc liên đới). Bryan Swain [74] xác định trách nhiệm của công ty kế nhiệm; Leta Gorman [82] nghiên cứu phân chia trách nhiệm giữa nhà sản xuất thiết bị và nhà sản xuất phần mềm. Omer Unsal, M. Kabir Hassan và Duygu [85] phân tích 4 trường hợp dẫn đến thông báo thu hồi. Về miễn trừ trách nhiệm, Chu Đức Nhuận [47] và Trương Hồng Quang [54] tổng kết 5 trường hợp doanh nghiệp được miễn trách nhiệm. Về chế tài, các công trình [36], [42], [43], [55] phân tích việc áp dụng kết hợp chế tài hành chính, dân sự và hình sự.

Nhóm công trình về thực trạng và giải pháp:

  • Tác giả Phạm Văn Phong [51] tổng hợp quy định thu hồi trong lĩnh vực thực phẩm và giao thông vận tải, chỉ rõ nhiều doanh nghiệp chưa công khai thừa nhận khuyết tật và trốn tránh nghĩa vụ báo cáo. Đặng Thành Lê [43] ghi nhận sự vận hành của Cục Quản lý cạnh tranh (tổng đài hỗ trợ, phối hợp cảnh báo ASEAN) nhưng nhấn mạnh tình trạng doanh nghiệp không công bố rõ lý do thu hồi.
  • Về hoàn thiện: Ngô Thu Trang [66], Nguyễn Hữu Phúc [50], Lê Hồng Hạnh [37] phân tích nguyên lý trách nhiệm nghiêm ngặt tại Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010. Mai Thị Thanh Tâm [55] và Trần Thị Quang Hồng [39] đề xuất hoàn thiện chế định trách nhiệm sản phẩm gắn với mở rộng phạm vi chủ thể và chế tài răn đe.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình đã công bố chỉ tiếp cận trách nhiệm sản phẩm dưới dạng bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra, hoặc phân tích phân tán tại các luật chuyên ngành. Còn thiếu một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về bản chất, đặc điểm, nội dung pháp lý đặc thù của trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật dưới góc độ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cũng như đánh giá thực trạng thực thi giai đoạn từ năm 2010 đến nay để xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên 5 cơ sở lý thuyết khoa học chuyên ngành:

  1. Lý thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt (Strict liability): Áp đặt trách nhiệm pháp lý lên chủ thể kinh doanh đối với thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra mà không phụ thuộc vào việc chủ thể đó có lỗi hay bất cẩn trong quá trình sản xuất, cung ứng. Luận án vận dụng lý thuyết này để luận giải nghĩa vụ thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp phát sinh ngay khi tồn tại khuyết tật đe dọa an toàn người tiêu dùng mà không cần chứng minh lỗi.
  2. Lý thuyết liên quan đến sản phẩm có khuyết tật: Xác định sản phẩm có khuyết tật là sản phẩm không bảo đảm an toàn ở mức độ người tiêu dùng có quyền trông đợi hợp lý, phân chia thành 3 dạng: khuyết tật do thiết kế, khuyết tật do sản xuất và khuyết tật do không cảnh báo hoặc cảnh báo không đầy đủ.
  3. Lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR): Luận giải nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc duy trì cam kết an toàn, bảo vệ tính mạng, sức khỏe người tiêu dùng và trật tự công cộng, xem việc thu hồi là hành vi bảo đảm phát triển bền vững và đạo đức kinh doanh.
  4. Lý thuyết về các quyền của người tiêu dùng: Dựa trên 8 quyền cơ bản được Tổ chức Quốc tế Người tiêu dùng (Consumers International - CI) công nhận, trong đó quyền được an toàn và quyền được thông tin là nền tảng trực tiếp phát sinh nghĩa vụ thu hồi của doanh nghiệp.
  5. Lý thuyết về thông tin và địa vị bất cân xứng trong quan hệ tiêu dùng (Information asymmetry): Luận giải vị thế yếu kém của người tiêu dùng do không thể nắm bắt đầy đủ thông tin kỹ thuật của sản phẩm, từ đó khẳng định tính tất yếu của việc Nhà nước sử dụng pháp luật can thiệp mang tính mệnh lệnh hành chính để bảo vệ bên yếu thế.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án thuộc hướng nghiên cứu định tính trong khoa học pháp lý, dựa trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng xuyên suốt để phân tích các khái niệm lý luận, quy định pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành, từ đó rút ra các luận điểm, giải pháp hoàn thiện.
  • Phương pháp thống kê: Sử dụng để tập hợp, phân loại, mô tả có hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan, cũng như xử lý các số liệu thực tiễn về các chương trình thu hồi sản phẩm từ các cơ quan quản lý nhà nước.
  • Phương pháp so sánh luật học: Sử dụng để đối chiếu quy định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm và thu hồi hàng hóa có khuyết tật của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế và pháp luật các quốc gia như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (Chỉ thị 85/374/EEC, Chỉ thị 2001/95/EC), Nhật Bản, Trung Quốc, Philippines, Indonesia.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Thương mại năm 2005, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Luật Dược năm 2016); các báo cáo, thông báo và số liệu thống kê chính thức của Cục Quản lý cạnh tranh (sau là Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng), Cục Đăng kiểm Việt Nam; văn bản pháp luật, điều ước quốc tế và hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc; các công trình sách chuyên khảo, đề tài khoa học và bài báo chuyên ngành đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương 1 tập trung điểm luận toàn diện các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài theo các nhóm vấn đề: lý luận về hàng hóa có khuyết tật, lý luận về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm thu hồi, cùng các giải pháp hoàn thiện. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thiếu vắng các công trình phân tích chuyên sâu về nghĩa vụ thu hồi. Trên cơ sở đó, chương này xác định rõ 5 lý thuyết nền tảng (trách nhiệm nghiêm ngặt, lý thuyết sản phẩm khuyết tật, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, quyền của người tiêu dùng, bất cân xứng thông tin) và thiết lập 3 câu hỏi nghiên cứu cùng 3 giả thuyết nghiên cứu tương ứng làm khung định hướng cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp

Tác giả phân tích khái niệm hàng hóa có khuyết tật trên cơ sở đối chiếu Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2015 (các mục 3.6, 3.9, 3.10), Từ điển Black's Law Dictionary và pháp luật nhiều quốc gia, khẳng định khuyết tật của hàng hóa là sự thiếu an toàn mà thông thường người sử dụng có thể mong đợi một cách hợp lý. Luận án làm rõ 3 dạng khuyết tật (thiết kế, sản xuất, không cảnh báo hoặc cảnh báo không đầy đủ) và phân biệt hàng hóa có khuyết tật với hàng hóa không bảo đảm chất lượng thông thường (hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không bảo đảm chất lượng, nhưng không phải mọi hàng hóa không bảo đảm chất lượng đều là hàng hóa có khuyết tật).

Luận án xây dựng khái niệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật: "là việc áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm loại bỏ hàng hóa không đảm bảo an toàn ra khỏi dòng lưu thông trên thị trường". Các biện pháp khắc phục gồm: sửa chữa khuyết tật, thay thế bằng hàng hóa khác, hoặc thu hồi lại hàng hóa và hoàn tiền. Về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật, tác giả định nghĩa đây là "một loại trách nhiệm pháp luật quy định, theo đó doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa phải loại bỏ hàng hóa không đảm bảo an toàn ra khỏi quá trình lưu thông trên thị trường và phải chịu hậu quả bất lợi nếu không tuân thủ việc loại bỏ hàng hóa không đảm bảo an toàn theo quy định của pháp luật".

Chương 2 làm rõ 8 đặc điểm của trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp: (1) Phát sinh khi doanh nghiệp cung cấp hàng hóa có khuyết tật, bất kể doanh nghiệp có lỗi hay không; (2) Là loại trách nhiệm do pháp luật quy định; (3) Phát sinh trong mối quan hệ với người tiêu dùng; (4) Được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau; (5) Căn cứ phát sinh là hàng hóa có khuyết tật gây mất an toàn cho nhiều người tiêu dùng; (6) Hậu quả thiệt hại thực tế không ảnh hưởng đến trách nhiệm thu hồi (thu hồi có tính phòng ngừa); (7) Là trách nhiệm độc lập với trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm bảo đảm chất lượng theo hợp đồng; (8) Không bị giới hạn về phạm vi lãnh thổ. Bản chất của trách nhiệm được xác định bao gồm cả nghĩa vụ pháp lý tích cực (chủ động tuân thủ) và hậu quả pháp lý tiêu cực (gánh chịu chế tài khi vi phạm), mang tính chất trách nhiệm nghiêm ngặt và phản ánh đạo đức kinh doanh. Luận án cũng phân tích 4 cơ sở hình thành trách nhiệm (kinh tế, xã hội, đạo đức, pháp lý) và phân biệt rành mạch trách nhiệm này với trách nhiệm bảo đảm chất lượng vật mua bán theo Điều 445 Bộ luật Dân sự năm 2015 và trách nhiệm bảo hành sản phẩm theo Điều 477 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Chương 3: Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện

Chương 3 rà soát khung pháp luật thực định của Việt Nam, trong đó hạt nhân là Điều 22 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật (gồm 2 nhóm: hàng hóa khuyết tật nhóm A có khả năng gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe và hàng hóa khuyết tật nhóm B có khả năng gây thiệt hại tài sản). Đồng thời, tác giả phân tích mối liên hệ với Luật Thương mại năm 2005 (khoản 1 Điều 26), Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 (các Điều 9-13, Điều 16), Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Luật Dược năm 2016 và các quy định triệu hồi phương tiện cơ giới trong ngành giao thông vận tải.

Về thực tiễn thực hiện, tác giả dẫn chứng các dữ liệu thống kê phản ánh số lượng các chương trình thu hồi qua các năm:

Năm Số lượng chương trình thu hồi
2012 9
2013 18
2014 17
2015 19
9 tháng năm 2016 17

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Cục Quản lý cạnh tranh nêu trong Bảng 3.1 của luận án.

Luận án phân tích các vụ việc thực tế điển hình, như vụ việc Cục Đăng kiểm Việt Nam ban hành Công văn số 4946/ĐKVN-VAQ ngày 30/11/2015 yêu cầu triệu hồi xe máy Honda JF422 SH125i và KF143 SH150i do lỗi hệ thống khóa thông minh; phân tích tỷ lệ khiếu nại thông qua tổng đài hỗ trợ 1800.6838 tại Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng; phân tích số liệu thống kê xe bị triệu hồi theo bộ phận bị lỗi trong năm 2016. Tác giả đánh giá thành tựu: pháp luật đã bước đầu thể chế hóa nguyên lý trách nhiệm nghiêm ngặt, thiết lập quy trình tiếp nhận và cảnh báo thu hồi, doanh nghiệp bước đầu nâng cao tính tự giác. Hạn chế gồm: quy định phân loại khuyết tật nhóm A và B còn thiếu tiêu chí định lượng; thủ tục báo cáo và thông báo công khai chưa chặt chẽ; thiếu quy định bắt buộc báo cáo tiến độ và tỷ lệ thu hồi thành công; chế tài xử phạt vi phạm hành chính còn quá thấp, thiếu chế tài hình sự chuyên biệt đối với hành vi cố tình che giấu hoặc chậm trễ thu hồi hàng hóa nguy hiểm.

Chương 4: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp

Chương 4 xác lập các yêu cầu hoàn thiện pháp luật: bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tương thích với các điều ước và thông lệ quốc tế; cân bằng hài hòa giữa bảo vệ người tiêu dùng và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hai nhóm giải pháp:

Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:

  • Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: làm rõ khái niệm hàng hóa có khuyết tật, tiêu chí phân loại khuyết tật; bổ sung quy định cụ thể về chế định "triệu hồi" sản phẩm, không giới hạn trong lĩnh vực giao thông vận tải.
  • Quy định chi tiết nghĩa vụ của doanh nghiệp trong quá trình thu hồi: bắt buộc báo cáo định kỳ tiến độ thực hiện (theo tuần, tháng, quý) cho cơ quan quản lý nhà nước; công khai nguyên nhân khuyết tật và rủi ro trên các phương tiện truyền thông đại chúng.
  • Quy định cụ thể thời hạn tiến hành thu hồi và mở rộng trách nhiệm liên đới của các chủ thể trong chuỗi phân phối (nhà nhập khẩu, phân phối, bán lẻ).
  • Tăng mức chế tài xử phạt vi phạm hành chính để bảo đảm tính răn đe; bổ sung quy định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cố tình trốn tránh, không thu hồi kịp thời hàng hóa có khuyết tật gây hậu quả nghiêm trọng.

Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện:

  • Kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực cho Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng cùng các cơ quan quản lý chuyên ngành; đầu tư trang thiết bị kiểm định, thử nghiệm kỹ thuật hiện đại.
  • Phát huy vai trò giám sát của các tổ chức xã hội, đặc biệt là Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng các cấp; tăng cường chuyên mục tuyên truyền, cảnh báo trên truyền hình và báo chí.
  • Thiết lập cơ chế hợp tác, trao đổi thông tin cảnh báo nhanh về sản phẩm không an toàn giữa Việt Nam với các nước trong khu vực ASEAN và các tổ chức quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  • Về lý luận: Luận án hệ thống hóa và làm sâu sắc cơ sở lý luận về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp. Đã xây dựng định nghĩa khoa học về hàng hóa có khuyết tật, định nghĩa thu hồi hàng hóa có khuyết tật và trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật; chỉ rõ 8 đặc điểm bản chất của loại trách nhiệm này; làm rõ các cơ sở hình thành (kinh tế, xã hội, đạo đức, pháp lý); phân biệt rành mạch trách nhiệm thu hồi với trách nhiệm bảo đảm chất lượng theo hợp đồng dân sự và trách nhiệm bảo hành; đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến quá trình thu hồi.
  • Về thực tiễn: Luận án đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các luật chuyên ngành liên quan tại Việt Nam, chỉ ra những khoảng trống lập pháp và bất cập trong tổ chức thi hành; phân tích số liệu các vụ thu hồi thực tế giai đoạn 2012-2016 và các vụ việc triệu hồi cụ thể.
  • Về giải pháp: Luận án xác lập hệ thống yêu cầu khoa học và luận chứng hai nhóm giải pháp mang tính khả thi nhằm sửa đổi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản hướng dẫn, đồng thời hoàn thiện thiết chế quản lý nhà nước, nâng cao vai trò của tổ chức xã hội và tăng cường hợp tác cảnh báo quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu đã xác định, luận án chỉ tập trung vào trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà không nghiên cứu sâu các dạng trách nhiệm sản phẩm khác (như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) hoặc trách nhiệm thu hồi theo từng đạo luật chuyên ngành độc lập. Các số liệu thực tiễn và bảng biểu thống kê trong luận án chủ yếu phản ánh giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 theo báo cáo công khai của Cục Quản lý cạnh tranh tại thời điểm triển khai nghiên cứu.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ luận án bao gồm: nghiên cứu mở rộng cơ chế phối hợp xử lý thu hồi hàng hóa có khuyết tật trong thương mại điện tử và các giao dịch xuyên biên giới; nghiên cứu xây dựng cơ chế bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm bắt buộc gắn liền với chi phí thu hồi sản phẩm của doanh nghiệp tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng cho Bộ Công Thương, cơ quan soạn thảo pháp luật trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các nghị định hướng dẫn thi hành; hỗ trợ Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Cục Đăng kiểm Việt Nam trong việc xây dựng quy chuẩn giám sát các chương trình thu hồi, triệu hồi sản phẩm.
  • Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự trong các học phần về Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.
  • Đối với cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng: Giúp các nhà sản xuất, nhập khẩu và phân phối nhận thức đầy đủ các yêu cầu pháp lý, quy trình lập kế hoạch thu hồi chủ động để quản trị rủi ro; đồng thời nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc phối hợp thực thi các chương trình thu hồi an toàn.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo thống kê của cơ quan quản lý nhà nước nêu trong luận án, số lượng chương trình thu hồi hàng hóa có khuyết tật tại Việt Nam giai đoạn 2012 - 9 tháng năm 2016 diễn biến ra sao? Theo số liệu của Cục Quản lý cạnh tranh được tổng hợp tại Bảng 3.1 của luận án, số lượng vụ việc thu hồi tăng dần qua các năm: năm 2012 có 9 vụ; năm 2013 tăng lên 18 vụ; năm 2014 có 17 vụ; năm 2015 có 19 vụ; và chỉ trong 9 tháng đầu năm 2016 đã ghi nhận 17 vụ thu hồi.

2. Luận án phân chia khuyết tật của hàng hóa thành những dạng nào? Tiếp thu các nghiên cứu lý luận và chuẩn mực quốc tế, luận án xác định hàng hóa có khuyết tật gồm 3 dạng: (1) Khuyết tật do thiết kế (design defect); (2) Khuyết tật do sản xuất (manufacturing defects); và (3) Khuyết tật do không cảnh báo hoặc cảnh báo không đầy đủ sự nguy hiểm và hướng dẫn an toàn (warrant defects).

3. Hàng hóa có khuyết tật khác biệt như thế nào so với hàng hóa không bảo đảm chất lượng thông thường? Chất lượng hàng hóa bao gồm nhiều chỉ tiêu, trong đó an toàn chỉ là một chỉ tiêu. Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa chứa đựng sự thiếu an toàn một cách bất hợp lý, đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng. Hàng hóa không bảo đảm chất lượng có thể chỉ là hàng hóa kém chất lượng, hoạt động chậm hoặc giảm tính năng sử dụng nhưng không tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn (chẳng hạn điện thoại có màn hình cảm ứng chậm là kém chất lượng, nhưng nếu phát nổ thì được xác định là có khuyết tật).

4. Trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp có đòi hỏi điều kiện phải có thiệt hại thực tế xảy ra hay không? Không. Căn cứ phát sinh trách nhiệm thu hồi là sự tồn tại trên thực tế của hàng hóa có khuyết tật đe dọa sự an toàn của người tiêu dùng. Thu hồi mang tính phòng ngừa và chủ động, phát sinh ngay khi phát hiện khuyết tật mà không phụ thuộc vào việc khuyết tật đó đã gây ra thiệt hại trên thực tế cho người tiêu dùng hay chưa.

5. Vụ việc triệu hồi phương tiện giao thông cụ thể nào được luận án viện dẫn bằng văn bản quản lý nhà nước? Luận án dẫn chứng Công văn số 4946/ĐKVN-VAQ ngày 30/11/2015 của Cục Đăng kiểm Việt Nam về việc yêu cầu triệu hồi xe máy Honda JF422 SH125i và KF143 SH150i để khắc phục lỗi liên quan đến hệ thống thiết bị của phương tiện.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Hạnh là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật của doanh nghiệp dưới góc độ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp giữa 5 lý thuyết nền tảng và phương pháp phân tích luật học so sánh, luận án đã làm rõ các đặc trưng pháp lý, bản chất trách nhiệm nghiêm ngặt và tính phòng ngừa của hoạt động thu hồi. Các kết quả đánh giá thực tiễn giai đoạn 2010–2020 cùng hệ thống giải pháp lập pháp và tổ chức thi hành được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở nước ta.