TONG CUC THONG Ké BAO CAO TONG HOP KET QUA NGHIEN CUU KHOA HOC DE TAI CAP CO SG ĐỀ TÀI. 'NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ MỘT SỐ YẾU TO TAC DONG DEN MUC SONG DAN CU VIET NAM DUA TREN SO LIEU KHAO SAT MUC SONG HO GIA DINH NAM 2002, 2004”. Đơn vị chủ trì: Viện Khoa học Thống kê. Chủ nhiệm: CN.
Phan Thị Ngọc Trâm HÀ NỘI, NĂM 2006 MỤC LỤC Lời nói đầu Một số lưu ý về số liệu và phương pháp nghiên cứu Phần một: Một số nét khái quát về mức sống dân cư Việt nam qua số liệu các cuộc khảo sát mức sống. Thu nhập Il. Chi tiéu II. Điều kiện nhà ở, tiện nghỉ và đồ dùng lâu bên IV.
Chênh lệch thu nhập và phân hóa giàu nghèo Phần hai: Khảo sát các yếu tố tác động đến mức sống dân cư ( dựa trên số liệu KSMS 2004) I. Khảo sát chỉ tiêu bình quân đầu người IH. Khảo sát chỉ tiêu bình quân đầu người với một số biến II. Lựa chọn các chỉ tiêu tác động đến mức sống Phần ba: Ap dụng mô hình hồi quy trong phân tích tác động của các yếu tố đến mức sống dân cư ( dựa trên số liệu KSMS 2004) I.
Mô hình hình hồi quy chung II. Các mô hình hồi quy phân vị Kết luận và khuyến nghị Phụ lục số liệu Tài liệu tham khảo Danh mục các chuyên đề của đề tài 13 15 18 19 20 32 36 36 49 52 60 Lời nói đầu Trong những năm Đảng và Nhà nước ta thực hiện công cuộc đổi mới và mở cửa, đời sống của người dân Việt nam đã được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên nghèo đói và mức sống chưa cao vẫn là vấn đề cần quan tâm ở nước ta. Vậy tại sao một số hộ lại có mức sống cao và tại sao một số hộ lại có mức sống thấp hơn, các yếu tố nào ảnh hưởng đến mức sống này.
Đã có một số nghiên cứu về vấn dé này dựa vào kết quả của các cuộc điều tra Khảo sát mức sống dân cư (KSMS) 1992-1993, KSMS 1997-1998, Khảo sát mức sống hộ gia đình (KSMS) 2002 và đã đưa ra được một số kết luận về các yếu tố tác động đến mức sống. Số liệu của Khảo sát mức sống hộ gia đình 2004 cung cấp một cơ hội mới để nghiên cứu tiếp tục vấn đề này. Mục tiêu của đề tài là xác định các yếu tố tác động đến mức sống dân cư dựa trên số liệu KSMS 2004, là bộ số liệu mới nhất cho đến nay mà các nhà nghiên cứu được phép sử dụng, số liệu năm 2002, 1998, 1993 chỉ là cơ sở để so sánh trong phần khái quát về mức sống. Dé tai_ bao gém cdc phan sau sMột số lưu ý về số liệu và phương pháp nghiên cứu.
sPhần một: Một số nét khái quát về mức sống dân cư Việt nam qua số liệu của các cuộc khảo sát mức sống. *Phdn hai: Khảo sát các yếu tố tác động đến mức sống dân cư ( dựa trên số liệu KSMS 2004). *Phdn ba: Ap dụng mô hình hồi quy trong phân tích tác động của các yếu tố đến mức sống dân cư ( dựa trên số liệu KSMS 2004). sKết luận và khuyến nghị.
Cuối cùng, đề tài chúng tôi xin chân thành cẩm ơn các ý kiến đóng góp vô cùng quý giá cho việc hoàn thiện đề tài của các đồng nghiệp của Viện khoa học Thống kê cũng như của vụ Thống kê Xĩ hội Môi trường. MỘT SỐ LƯU Ý VỀ SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU I.NGUỒN SỐ LIỆU Nguồn số liệu chính được sử dụng trong nghiên cứu này là bộ số liệu gốc của điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004. Đây là một cuộc điều tra chọn mẫu với 45900 hộ gia đình trên 64 tỉnh thành phố, trong đó có 9189 hộ được điều tra thêm phần chỉ tiêu Ngoài các thông tin về hộ gia đình, cuộc điều tra cũng thu thập số liệu cộng đồng của các hộ được điều tra cho khu vực nông thôn về các điều kiện đường xá, trường học, cơ sở y tế, các dịch vụ khuyến nông. Như vậy khu vực thành thị không có số liệu khảo sát về cộng đồng này, do vậy khi xem xét các hộ gia đình về điều kiện sinh hoạt của cộng đồng, chúng tôi coi các hộ ở thành thị là có tất cả các phương tiện giao thông dịch vụ y tế, có điện, trường học.
PHAM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu của đề tài cơ bản dựa vào kết quả khảo sát tất cả 9189 hộ có điều tra cả phần thu nhập và chỉ tiêu Trong hai chỉ tiêu chủ yếu phản ánh mức sống là thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình, chúng tôi chọn chỉ tiêu chỉ tiêu để đại điện cho mức sống. Ngày nay mức sống dân cư được xem là một hiện tượng đa chiều. Ngoài thu nhập và chỉ tiêu của hộ gia đình là hai khía cạnh chủ yếu, mức sống ngày nay cũng được biểu hiện qua các đặc điểm nhân khẩu học chủ yếu, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình trạng công ăn việc làm, sử dụng dịch vụ y tế, tinh trạng việc làm, nhà ở, tài sản, đồ dùng, điện, nước và điều kiện vệ sinh. Trong đề tài này chúng tôi chỉ giới hạn mức sống ở chỉ tiêu thu nhập và chỉ tiêu của hộ gia đình.
Các đặc điểm nhân khẩu học, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú của hộ gia đình,. có thể được đưa vào xem xét liệu chúng có phải là yếu tố tác động đến mức sống hộ gia đình hay không. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU Sử dụng các thống kê mô tả,kỹ thuật phân tổ, mô hình hồi quy tuyến tính đa biến và cuối cùng là sử dụng hồi quy phân vị cho 5 mức phân vị - Khảo sát số liệu về thu nhập và chỉ tiêu, các biến được cho là có tác động đến chỉ tiêu và thu nhập; Thiết lập một số biến thứ cấp từ biến ban đầu - Ở phần hai: để mô tả mối quan hệ giữa biến phụ thuộc là biến chỉ tiêu bình quân đầu người và các biến độc lập bằng các biểu hai chiều, chúng tôi phân tổ biến chỉ tiêu theo 5 nhóm phân vị, mỗi nhóm tương ứng với 20% số hộ (các hộ này được sắp xếp theo thứ tự tăng dân của chỉ tiêu). Với 20% hộ đầu tiên là nhóm 1-chúng tôi gọi nhóm các hộ nghèo; 20% hộ tiếp theo là nhóm 2- ứng với nhóm các hộ hơi nghèo; 20% hộ tiếp là nhóm 3- tương ứng với nhóm các hộ trung bình; 20% hộ tiếp nữa là nhóm 4-tương ứng với nhóm các hộ khá; 20% hộ còn lại là nhóm 5-tương ứng với nhóm các hộ giàu.
Lưu ý là khái niệm giàu nghèo ở đây được dùng để phân biệt giữa các nhóm với nhau, căn cứ trên mức chỉ tiêu bình quân của từng nhóm, chưa thấy có định nghĩa chính thức nào quy định thế nào là hộ giàu ở Việt nam; Tuy nhiên đã có qui định vẻ việc thế nào là hộ nghèo, căn cứ vào chỉ tiêu thu nhập, trong đó hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng dưới 200 ngàn đồng ở nông thôn và dưới 260 ngàn đồng ở thành thị là hộ nghèo. Ở đây chúng ta lại sử đụng chỉ tiêu chỉ tiêu bình quân đầu người, cho nên cách gọi hộ nghèo ở đây không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm hộ nghèo ở phần 1. -Ở phân ba: Ngoài việc lập mô hình hồi quy tuyến tính thông thường, chúng tôi còn thực hiện mô hình hồi quy phân vị cho 5 mức phân vị ( 0,1; 0,3; 0,5; 0,7; 0,9) tương ứng với các mức 10%, 30%, 50%, 70% va 90% của tập các bản ghi đã được sắp xếp theo thứ tự tăng dân của chỉ tiêu. Mục đích của việc lập các mô hình hồi quy phân vị là để hỗ trợ cho phân tích hồi quy tuyến tính.
Việc cắt nghĩa các hệ số trong mô hình hồi quy phân vị hoàn toàn giống như cách giải thích ở mô hình hồi quy thông thường. Cân lưu ý là: Hằng số ở 4 mô hình hồi quy thông thường là giá trị trung bình của biến phụ thuộc khi tất cả các yếu tố tác động nhận giá trị 0; còn hằng số ở mô hình hồi quy phân vị là giá trị của biến phụ thuộc tại mức phân vị tương ứng, khi tất cả các yếu tố tác động nhận giá trị O0. Ví dụ hằng số ở hồi quy phân vị 0,5 là giá trị trung vị của biến phụ thuộc. PHAN MOT MOT SO NET KHÁI QUÁT VE.
MOC SONG DAN CƯ VIỆT NAM QUA SỐ LIgU CUA CAC CUOC KHAO SAT MUC SONG Trước khi đi vào phần nghiên cứu các yếu tố tác động đến mức sống dân cư, chúng tôi trình bày một số nét khái quát về mức sống dân cư Việt nam năm 2004 và những thay đổi về mức sống qua một số năm, dựa trên các chỉ tiêu như thu nhập , chỉ tiêu, phân hoá giàu nghèo và điều kiện nhà ở, vệ sinh. Số liệu được đưa ra trên cơ sở của các cuộc điều tra: Khảo sát mức sống 1992-1993 (KSMS 1993), Điều tra mức sống 1997-1998 (ĐTMS 1998), Điều tra đa mục tiêu từ 1994 đến 1997 và 1999 (ĐTĐMT), Khảo sát mức sống 2002 (KSMS 2002) và khảo sát mức sống 2004 (KSMS 2004). THU NHAP Trong nam 2004, thu nhap binh quan 1 ngudi 1 thang chung ca nuéc theo giá hiện hành đạt 484,4 nghìn đồng, tăng 36% so với năm 2002. Trong thời kỳ 2002-2004 thu nhập bình quân ! người l tháng theo giá hiện hành tăng bình quân 16,6%, cao hơn mức tăng 6% mỗi năm của thời kỳ 1999-2001 và mức tăng 8,8% mỗi năm của thời kỳ 1996-1999.
Nguyên nhân chủ yếu làm tăng thu nhập của năm 2004 là do đầu năm 2003 Nhà nước điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu của khu vực hành chính, sự nghiệp và của khu vực doanh nghiệp Nhà nước, do đó tiền công thuê ngoài xã hội cũng tăng: sản lượng cây trồng, đặc biệt sản lượng lúa tăng; giá nông sản, thuỷ sản như thóc, cà phê, cao su, điều, lợn hơi, tôm, cá đều tăng so với các thời kỳ trước. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì thu nhập thực tế thời kỳ 2002-2004 tăng 11 %, cao hơn mức tăng thu nhập thực tế 5,8% của thời kỳ 1999-2001 và mức tăng 4,6% của thời kỳ 1996-1999 (Biểu 1.1: Tốc độ tăng thu nhập thực tế bình quân đầu người hàng năm qua các thời kỳ Thời kỳ 1996-1999 1999-2001 2002-2004 Tốc độ tăng thu nhập (%) 46 58 110 Trong tổng thu nhập năm 2004, tỷ trọng thu từ tiền lương, tiền công chiếm 32,7%, thu từ nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 27,2%, thu từ công nghiệp, xây dựng chiếm 5,8%, thu từ dịch vụ chiếm 16,6%, các khoản thu khác chiếm 17,6%.