Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất cư và lợi ích thu nhập của hộ gia đình có người xuất cư

Luận án tiến sĩ phân tích mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất cư và lợi ích về thu nhập của hộ gia đình có người, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Toán Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

165
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Mô hình phân tích nhân tố ảnh hưởng xuất cư

Mô hình phân tích nhân tố là công cụ quan trọng để xác định các yếu tố tác động đến quyết định xuất cư. Nghiên cứu sử dụng mô hình logitmô hình logit đa trạng thái để phân tích xác suất hộ gia đình có ít nhất một người xuất cư. Các nhân tố như điều kiện kinh tế, xã hội, và chính sách địa phương được xem xét. Xuất cư chịu ảnh hưởng bởi cả yếu tố 'đẩy' (thiếu việc làm, điều kiện sống khó khăn) và yếu tố 'kéo' (cơ hội việc làm, mức sống cao hơn).

1.1. Phân tích nhân tố đẩy và kéo

Các yếu tố 'đẩy' bao gồm điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu đất đai, và thiếu việc làm tại nơi đi. Yếu tố 'kéo' liên quan đến cơ hội việc làm, mức sống cao, và điều kiện xã hội tốt hơn tại nơi đến. Sự kết hợp giữa hai yếu tố này thúc đẩy quá trình xuất cư. Nghiên cứu chỉ ra rằng các hộ gia đình có mức sống thấp có xác suất xuất cư cao hơn.

1.2. Mô hình logit đa trạng thái

Mô hình này được sử dụng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư cá nhân. Kết quả cho thấy các biến như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, và tình trạng hôn nhân có tác động đáng kể đến quyết định xuất cư. Đặc biệt, lao động trẻ và có trình độ học vấn cao có xu hướng di cư nhiều hơn.

II. Lợi ích thu nhập hộ gia đình

Nghiên cứu tập trung vào lợi ích thu nhập hộ gia đình sau khi có thành viên xuất cư. Sử dụng mô hình phân rã Blinder-Oaxacamô hình hồi quy phân vị, nghiên cứu đo lường sự cải thiện thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Kết quả cho thấy các hộ có người xuất cư có mức tăng thu nhập và chi tiêu đáng kể so với các hộ không có người xuất cư.

2.1. Phân tích thu nhập hộ gia đình

Nghiên cứu chỉ ra rằng các hộ gia đình có người xuất cư có mức thu nhập bình quân tăng lên đáng kể. Sự cải thiện này đến từ việc người di cư gửi tiền về quê. Thu nhập hộ gia đình được cải thiện rõ rệt, đặc biệt ở các hộ có mức sống thấp trước khi xuất cư.

2.2. Phân tích chi tiêu hộ gia đình

Chi tiêu của các hộ gia đình có người xuất cư cũng tăng lên, đặc biệt là chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản như giáo dục, y tế, và nhà ở. Mô hình hồi quy phân vị cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong chi tiêu giữa các hộ có và không có người xuất cư.

III. Tác động kinh tế và chính sách xuất cư

Nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế của xuất cư đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Xuất cư giúp giải quyết vấn đề việc làm, giảm nghèo, và chuyển dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên, nó cũng gây ra các vấn đề như thiếu hụt lao động trình độ cao ở nông thôn và áp lực lên cơ sở hạ tầng đô thị.

3.1. Tác động tích cực của xuất cư

Xuất cư góp phần phân bổ lại dân cư, tạo cơ hội việc làm, và giảm nghèo. Nó cũng giúp tăng trưởng kinh tế thông qua việc người di cư gửi tiền về quê. Nghiên cứu xã hội chỉ ra rằng xuất cư là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

3.2. Chính sách xuất cư

Nghiên cứu đề xuất các chính sách xuất cư nhằm điều tiết dòng di cư và tối ưu hóa lợi ích kinh tế. Các chính sách này bao gồm cải thiện điều kiện sống ở nông thôn, tạo việc làm tại địa phương, và hỗ trợ người di cư hòa nhập vào đô thị.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các khái niệm về di cư, lý thuyết về di cư. Tổng quan các mô hình phân tích xu thế di cư và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư trên thế giới. Mô hình phân rã Blinder – Oaxaca phân tích sự khác biệt thu nhập của nhóm hộ có người di cư và nhóm hộ không có người di cư. Rà soát một số nghiên cứu về di cư ở Việt Nam.

Các khái niệm về di cư Di cư là khái niệm được các nhà nghiên cứu định nghĩa chưa thống nhất. Có nhà nghiên cứu coi đó là sự “thay đổi nơi cư trú cố định” (Lee, 1966), có nhà nghiên cứu lại coi “sự thoát ly hay tách khỏi cộng đồng sống” là nội dung chính trong nội hàm khái niệm di cư (Mangalam và Morgan, 1968). Có nhà nghiên cứu cho rằng “giá trị hệ thống dựa trên đó con người hay cộng đồng người lựa chọn nơi cư trú” là tiêu chí chủ yếu nhận dạng quá trình di cư (Paul Shaw, 1975). Như vậy, di cư có thể hiểu là sự di chuyển của con người từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác trong thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn.

Nói cách khác, di cư là một thuật ngữ mô tả quá trình dịch chuyển dân số theo không gian hoặc quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập, hoặc thiết lập nơi cư trú mới vào một đơn vị hành chính - địa lý trong một thời gian nhất định. Di cư có thể liên quan đến sự di chuyển của một cá nhân, một gia đình, thậm chí cả một cộng đồng. Cùng với khái niệm “di cư” có một số khái niệm liên quan như “người di 14 cư”, “di cư tổng”, “di cư thuần”, “nơi nhập cư”, “nơi xuất cư”, “chênh lệch di cư”… “Người di cư” là người trong một thời gian nhất định, có ít nhất một lần thay đổi nơi cư trú của mình từ đơn vị hành chính này sang đơn vị hành chính khác, từ khu vực lãnh thổ này sang khu vực lãnh thổ khác. “Di cư tổng” là tổng cộng số người đến và đi trên cùng một vùng, là chỉ số đo lường toàn bộ dân số đến và đi trong một cộng đồng dân cư trên cùng một địa bàn sống.

“Di cư thuần” là khái niệm chỉ sự chênh lệch giữa tổng số người di chuyển đến và tổng số người di chuyển đi khỏi một vùng lãnh thổ nhất định do sự chuyển dịch nơi cư trú của người dân. “Nơi nhập cư” là thuật ngữ chỉ địa bàn mà người di cư tìm đến với mục đích xác lập nơi cư trú mới. “Xuất cư” là sự di chuyển hoặc rời bỏ nơi cư trú của người di cư để xác lập địa bàn cư trú mới. “Chênh lệch di cư” chỉ khoảng cách giữa các nhóm di cư khác nhau về yếu tố nhân khẩu, hoàn cảnh xã hội, yếu tố văn hoá, kinh tế… Điều đó có nghĩa là đối với những luồng di cư khác nhau sẽ có sự khác nhau trong cơ cấu thành phần, trong đặc điểm nhận diện, trong tính chất di chuyển.

Dựa trên những tiêu chí khác nhau, có thể phân chia di cư thành các loại hình khác nhau. Theo tiêu chí thời gian, di cư bao gồm di cư lâu dài, di cư tạm thời và di cư mùa vụ. “Di cư lâu dài" chỉ người hay nhóm người di cư di chuyển nơi cư trú trong một khoảng thời gian tương đối dài và có ý định ở lại nơi đến lâu dài. “Di cư tạm thời” là sự xác lập nơi cư trú của người hay nhóm người trong một khoảng thời gian ngắn trước khi quyết định có ở lại định cư tại nơi đó hay không.

“Di cư mùa vụ” là hình thức di cư đặc biệt của di cư tạm thời, nó không chỉ ám chỉ khoảng thời gian di cư trùng với thời gian “nông nhàn” sau khi thu hoạch mùa vụ canh tác, mà còn chỉ khoảng thời gian di cư phục vụ hoạt động kinh tế mùa vụ (mùa xây dựng, mùa du lịch…), có nghĩa là người di cư di chuyển nơi cư trú theo mùa vụ để tìm kiếm việc làm, không có ý định ở lại lâu dài tại địa bàn nhập cư, sẽ quay trở lại nơi xuất cư nếu có nhu cầu lao động hoặc công việc gia đình. 15 Theo tiêu chí về hướng di cư, có di cư nội địa và di cư quốc tế. Sự di chuyển nơi cư trú bên trong biên giới quốc gia hoặc vượt ra ngoài biên giới quốc gia tới quốc gia khác. Căn cứ theo tiêu chí trình độ phát triển giữa địa bàn đi – đến, di cư có bốn loại hình: Nông thôn – nông thôn; Nông thôn – thành thị; Thành thị – thành thị; Thành thị – nông thôn.

Căn cứ theo tính pháp lý của di cư, có hai hình thức: Di cư có tổ chức và tự do; trong đó, di cư có tổ chức là loại hình di cư diễn ra trong khuôn khổ các chương trình của Nhà nước, theo đó người di cư được nhận sự hỗ trợ ổn định đời sống từ Nhà nước, được Nhà nước định hướng địa bàn cư trú, tạo việc làm, còn di cư tự do bao gồm những người di cư không nằm trong chương trình di cư của Chính phủ, do người di cư tự quyết định từ việc lựa chọn địa bàn nhập cư, đến trang trải mọi chi phí di chuyển, tìm việc làm… Một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên về di cư hiện đại là Ravenstein, vào những năm 1880, Ravenstein đã nghiên cứu "quy luật di cư" dựa trên dữ liệu di cư thực nghiệm, bộ dữ liệu thực nghiệm này cho thấy một số quy luật, ví dụ thực tế là hầu hết người di cư chỉ di chuyển trong khoảng cách ngắn. Mô hình di cư của Zipf (1946) sử dụng một khái niệm trong vật lý đó là khái niệm trọng lực để giải thích di cư, Zipf cho rằng di cư là một hàm của khoảng cách từ vùng đi và vùng đến của người di cư, tác giả đã dự đoán di cư tỷ lệ nghịch với khoảng cách. Trong những năm 1950, lý thuyết di cư ra đời từ mô hình cơ học để khái quát hóa mô hình di cư. Lý thuyết luồng di cư đầu tiên xuất hiện trong mô hình hai khu vực của Lewis những năm 1950-1960, trong đó di cư xảy ra như là kết quả của sự khác biệt trong cung và cầu lao động giữa khu vực nông thôn và thành thị.

Harris – Todaro những năm 1970 – 1980 đề xuất một số mô hình dựa vào quan sát thực nghiệm để định dạng cho một số mô hình cụ thể 16 về di cư. Trong quá trình phân tích, khi nhìn vào số liệu tổng hợp thì thường thấy di cư như cơ chế cân bằng, từ những năm 1980 nhiều tác giả đã nghiên cứu di cư dựa trên các mô hình kinh tế vi mô. Ngoài những mô hình phân tích những động lực cá nhân để di chuyển, một số tác giả còn xem xét các yếu tố ở cấp độ cộng đồng. Phương pháp tiếp cận hiện đại hơn liên kết các cấp độ vi mô và vĩ mô.

Đóng góp của các nghiên cứu gần đây là sự phân biệt giữa nguyên nhân di cư và tồn tại của di cư. Lý thuyết kinh tế mới của lao động di cư do Hagen – Zanker, J. ( 2008) phát triển trong những năm 1980 cho thấy di cư liên quan đến quyết định của hộ gia đình và có nhiều lý giải cho việc di cư. Lý thuyết này được thảo luận rộng rãi và được đưa ra từ các lý thuyết cổ điển về di cư, trong đó các tác giả cố gắng mô hình hóa các quá trình ra quyết định di cư một cách thực tế hơn bằng cách đưa ra một loạt các yếu tố tác động đến quyết định di cư.

Quyết định di cư cá nhân có thể được hình thành dựa trên các nhân tố “hút” và “đẩy” phụ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi cá nhân cũng như bối cảnh kinh tế - xã hội nói chung (các cơ hội hay áp lực về lao động và việc làm, khoảng cách về thu nhập và sự phát triển của các dịch vụ xã hội giữa các khu vực, v. Quyết định nhập cư căn cứ vào việc phân tích chênh lệch giữa “chi phí” và “lợi ích” của quá trình nhập cư và nó không giống nhau đối với tất cả mọi người dân di cư. Các nghiên cứu quy luật nhập cư đã chỉ ra rằng các khu vực công nghiệp hóa, đô thị hoá nhanh có sức hấp dẫn lớn đối với nhập cư. Điều này được chỉ ra thông qua thực tế là các khu vực công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh thường đòi hỏi nhiều lao động hơn để vận hành luồng công việc và đáp ứng được các yêu cầu về năng suất.

Hơn nữa, các khu vực phát triển nhanh này cũng đem lại thu nhập cao hơn cho các lao động và vì vậy thu hút được ngày càng nhiều người nhập cư vào nhằm kiếm được nhiều tiền hơn và 17 có được mức sống cao hơn. Có nhiều yếu tố tác động dẫn đến sự di chuyển của dân cư song có thể chia thành bốn nhóm chính: Nhóm 1: Các yếu tố về kinh tế như mức sống, cơ hội việc làm, sự thay đổi về tiến bộ và công nghệ… Nhóm 2: Các yếu tố về chính trị, luật pháp như thể chế chính trị, chính sách dân số của vùng miền. Nhóm 3: Các yếu tố văn hoá – xã hội như điều kiện giáo dục, y tế, giải trí, tình trạng hôn nhân, gia đình, thay đổi nghề nghiệp, việc làm… Nhóm 4: Các yếu tố về môi trường như khí hậu, địa hình, đất đai và tài nguyên… Những thuận lợi hay khó khăn của các yếu tố này ở các vùng sẽ tạo nên “lực hút” hay “lực đẩy” của mỗi vùng mà có ảnh hưởng tới sự chuyển đến hay ra đi của dân cư. Lực hút bao gồm những điều kiện thuận lợi cho việc sinh sống, làm việc, học tập và phát triển ở nơi đến.

Lực đẩy bao gồm những trở ngại hay hạn chế cho việc sinh sống, làm việc, học tập và phát triển. Bất kỳ một vùng lãnh thổ nào cũng đều có những thuận lợi hay khó khăn nhất định. Nói cách khác, các yếu tố tác động đến hút và đẩy của một vùng luôn tồn tại song song. Những lý thuyết nghiên cứu về lực hút và lực đẩy đã đưa ra quy luật chung của di cư là dân cư sẽ di chuyển từ nơi có đời sống thấp đến nơi có đời sống cao hơn, từ vùng có điều kiện tự nhiên kém thuận lợi đến vùng có điều kiện thuận lợi hơn.

Di cư ngày càng diễn ra mạnh mẽ theo sự tiến bộ ngày càng cao của xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Mô hình phân tích nhân tố ảnh hưởng xuất cư và lợi ích thu nhập hộ gia đình" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tác động đến quyết định xuất cư của hộ gia đình và những lợi ích kinh tế mà họ thu được từ việc này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các yếu tố như điều kiện kinh tế, xã hội mà còn chỉ ra mối liên hệ giữa xuất cư và thu nhập, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về những lợi ích tiềm năng từ việc di cư. Tài liệu này rất hữu ích cho những ai quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình và chính sách di cư.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến phát triển kinh tế nông thôn, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn đánh giá tác động của chuyển đổi cơ cấu cây trồng đến phát triển kinh tế hộ nông dân xã Minh Tiến, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên", nơi phân tích sự chuyển đổi trong nông nghiệp và ảnh hưởng của nó đến thu nhập hộ gia đình.

Ngoài ra, tài liệu "Luận văn việc làm và thu nhập của lao động nông thôn ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định" cũng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình việc làm và thu nhập trong khu vực nông thôn, giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh kinh tế mà hộ gia đình đang đối mặt.

Cuối cùng, tài liệu "Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh" sẽ mang đến những giải pháp cụ thể cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, từ đó có thể liên hệ đến lợi ích thu nhập của hộ gia đình trong bối cảnh xuất cư.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế hộ gia đình và di cư.