Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết va tong quan nghiên cứu Chương 3: Số liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tiền lương và Thu nhập Tiên lương được hiểu là một khoản tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động hay các doanh nghiệp trả cho sức lao động của họ, số tiền đó tương đương với khối lượng và chất lượng công việc mà người lao động tạo ra đê sản xuât ra sản phâm và nguyên vật liệu. Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO): “Tiên lương là sự trả công hoặc thu nhập có thé biểu hiện bang tiền và được ấn định băng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm.” Mặc dù là như vậy nhưng trên thực tế có rất nhiều khái niệm về tiền lương và thu nhập. Sự đa dạng về định nghĩa này đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới Điều đó cho thấy sự phức tạp về tiền lương thê hiện ngay trong quan điểm triết lý về tiền lương. Tiền lương có thê có nhiều tên gọi khác nhau như thù lao lao động, thu nhập lao động.
Cụ thể là: - Ở Pháp: “Sự trả công được hiểu là tién lương, hoặc lương bồng cơ ban, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, phụ khoản khác, được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động” - Ở Đài Loan: “7ïên lương chi mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận được do làm việc, bất luận là lương bồng, phụ cấp, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác dé trả cho họ theo giờ, ngày, tháng, theo sản phẩm.” - Ở Nhật Bản: “7ïên lương là thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tẾ, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc, như là nghỉ mát hàng năm, các 10 ngày nghỉ có hưởng lương hoặc nghỉ lễ. Tiền lương không tính đến những đóng góp của người thuê lao động đối với bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí cho người lao động và phúc lợi mà người lao động được hưởng nhờ có những chính sách này. Khoản tiền được trả khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động cũng không được coi là tiên lương.” Tại Việt Nam cũng có khá nhiêu khái niệm khác nhau về tién hương. Một sô khái niệm về tiên lương có thê được nêu ra như sau: - “Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng sức lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”.
- “Tiên lương là khoản tiền ma người lao động nhận được khi họ đã hoàn thành hoặc sẽ hoàn thành một công việc nào đó, mà công việc đó không bị pháp luật ngăn cam”. - “Tiền lương là khoản thu nhập mang tính thường xuyên mà nhân viên được hưởng từ công việc” “Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động”. Từ các khái niệm trên cho thây bản chât của tiên lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động. Tóm lại, Tiên lương được hiểu là số tiền mà người lao động được người sử dụng lao động của họ thanh toán lại, tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải, vật chất.
Chúng ta có thé hiểu một cách đơn giản thu nhập là khoản tiền mà người lao động trong doanh nghiệp được người sử dụng lao động trả theo lao động và là khoản thu thường xuyên, tính bình quân tháng trong năm bao gồm: Tiền lương, tiền thưởng, chia phan lợi nhuận, các khoản phụ cấp lương, những chi phí thường xuyên 6n định mà người sử dụng lao động chi trực tiếp cho người lao động như tiên ăn giữa ca, tiên ăn trưa, tiên săm lôp xe.và các khoản thu khác, trong đó tiên II lương là một phần chủ yếu trong thu nhập. Adam Smith, nhà kinh tế học nỗi tiếng đại diện cho trường phái kinh tế cô điển đã viết trong tác phẩm “Wealth of nations” (Sự giàu có của các quốc gia): “tiền lương, lợi nhuận, địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập”. Như vậy có thé hiểu theo Adam Smith thì thu nhập trong nền kinh tế bao gồm ba bộ phận đó là tiền lương, lợi nhuận và địa tô mà những người thuê đất phải nộp. Trong tác phâm “Phê phán cương lĩnh của Gôta” (1875) của CacMac, ông đã chỉ ra, thu nhập lao động theo nghĩa là sản phẩm lao động thì thu nhập tập thê của lao động sẽ có nghĩa là tong sản phẩm xã hội.
Khi thu nhập là giá trị sản phẩm lao động thì giá trị sản phẩm được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định gồm các thành phần C + V +M. Với C là phan bù đắp giá trị những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng V là phần thu nhập của người lao động và C là thu nhập của người chủ. Như vậy thu nhập của nền kinh tế bằng thu nhập của người lao động và thu nhập của người chủ.2 Hộ gia đình Theo Haviland, W. Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung.
Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai.” Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 tại khoản 29 Điều 3 ghi rõ: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyền quyền sử dung dat.” Tóm lại, hộ gia đình là tập hợp những người có cùng chung mối quan hệ với nhau (có chung huyết thống hoặc là con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận), sống trong cùng một gia đình và được 12 pháp luật công nhận, cùng sinh sống và phát triển kinh tế theo sự phân công lao động đã được thiết lập trước đó. Các hộ gia đình Việt Nam sinh sống ở chủ yếu ba khu vực: - Khu vực nông nghiệp: Bao gồm các hoạt động kinh tế thuộc lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và thủy sản. - Khu vực công nghiệp: Bao gồm các hoạt động kinh tế thuộc lĩnh vực công nghiệp va xây dung. - Khu vực dịch vụ: Bao gồm các hoạt động thuộc lĩnh vực thương nghiệp, khách sạn — nhà hàng, vận tải và các dịch vụ khác như hoạt động tài chính, tín dụng, hoạt động khoa học công nghệ, hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vẫn, hoạt động quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng, giáo dục và đào tạo, y tế, thú y và hoạt động cứu trợ, hoạt động văn hóa và thể thao, hoạt động đảng, đoàn thê và hiệp hội.3 Thu nhập Hộ gia đình Thu nhập hộ gia đình thường được định nghĩa là tổng thu nhập trước thuế, nhận được trong khoảng thời gian 12 tháng bởi tất cả các thành viên của hộ gia đình trên một độ tuôi cụ thể (Cục điều tra dân số chỉ định từ 15 tuổi trở lên).
Nó bao gồm tiền lương, tiền thưởng và thu nhập từ kinh doanh tự doanh; An sinh xã hội, lương hưu và thu nhập hưu trí khác; thu nhập đầu tư; chỉ trả phúc lợi; và thu nhập từ các nguôn khác. Theo Tổng cục Thống kê (2010), thu nhập Hộ gia đình được định nghĩa như sau: “Thu nhập của Hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm, bao gồm: (1) thu từ tiền công, tiền lương, (2) thu từ sản xuất nông, lâm, nghiệp, thủy sản (đã trừ chỉ phí sản xuất và thuế sản xuất), (3) thu từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (4) thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiền kiệm, bán tai sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyền nhượng vốn nhận được).2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập Hộ gia đình 1.1 Trình độ học vấn của chủ hộ Giáo dục là yếu tô quan trọng trong quyết định thu nhập của người lao động trong nền kinh tế thị trường. Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước đều chỉ ra kết quả rằng, những người có trình độ học vấn cao hơn nhìn chung sẽ có tiền lương và tiền công cao hơn. Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành (2006) sử dụng bộ số liệu VHLSS 2002 cho thấy việc quy định tăng thêm một năm học phổ thông làm tăng tiền lương của người lao động đã tốt nghiệp trung học phố thông thêm 11,43%.
Cao Trọng Danh (2016) khi nghiên cứu về “Các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình nông thôn địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” đã chỉ ra rằng số năm đi học trung bình của các chủ hộ trong số mẫu điều tra là 7,99 năm. Đa số chủ hộ có trình độ học vẫn cấp l và cấp 2, cụ thể Cấp 1 có 61 chủ hộ chiếm 23,7 %, Cấp 2 có 128 chủ hộ chiếm 49,8%, Cấp 3 chỉ chiếm 17,1%, trình độ trên 12 chỉ chiếm có 9,3% tương đương 24 hộ (gồm: 8 sơ cấp, 12 trung cấp, cao dang và 4 Đại học). Khảo sát cho thấy rằng nhóm chủ hộ có số năm đi học càng nhiều thì thu nhập của hộ có chiều hướng tăng hơn so với nhóm hộ có số năm đi học ít, tương ứng chủ hộ có trình độ trên 12 có thu nhập cao hơn so với 03 nhóm còn lại đạt 3.290 đồng/người/tháng.