chương 1, tác giả đã hệ thống hóa khái niệm, ý nghĩa, các chỉ tiêu thống kê, phương pháp biểu hiện cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động. Cơ cấu lao động là tổng thể các bộ phận của tổng nguồn lao động, có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ với nhau về mặt chất. Tùy theo giác độ nghiên cứu mà người ta chia ra các loại cơ cấu lao động khác nhau, trong giới hạn của luận văn tác giả tập trung chủ yếu nghiên cứu thống kê CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ theo 2 tiêu thức: nhóm ngành kinh tê và thành phân kinh tê (TPKT), trong đó tiêu thức nhóm ngành kinh tế được coi là cơ sở “trụ”. Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi cơ cấu lao động theo thời gian, theo đó số lượng và chất lượng lao động sẽ thay đổi trong một thời gian nhất định.
Nghiên cứu thông kê chuyển dịch CCLĐ có vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Căn cứ vào lý luận và nhiệm vụ của nghiên cứu chuyển dịch CCLĐ, tác giả lựa chọn 2 chỉ tiêu để phân tích chuyển dịch CCLĐ: Lượng tăng (giảm) liên hoàn tỷ trọng lao động và lượng tăng (giảm) định gốc tỷ trọng lao động. Qua quá trình nghiên cứu cho thấy có 3 nhân tố tác động đến chuyển dịch CCLĐ: Các chính sách của Nhà nước, Tốc độ tăng trưởng kinh tế và các nhân tố đâu vào (Khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, vốn đầu tư và lao động). Chuyển dịch CCLĐ cũng tác động tích cực đến kinh tế- xã hội thông qua các chỉ tiêu: Năng suât lao động xã hội, GRDP binh quân đầu người, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ thất nghiệp.
Luận văn đưa ra 7 nhiệm vụ phân tích chuyển dịch CCLĐ: Xác định quy luật chuyển dịch CCLĐ; xác định mức độ chuyển dịch; so sánh CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ của tỉnh Bắc Ninh với các tỉnh khác trong vùng Đồng bằng Sông Hồng; xác định mức độ và vai trò ảnh hưởng của các nhân tố đến chuyển dịch CCLĐ; xác định mức độ và vai trò ảnh hưởng của chuyển dịch CCLĐ đến sự phát triển kinh tế xã hội.; dự báo thống kê chuyển dịch CCLĐ. Để giải quyết những nhiệm vụ đó, tác giả đã lựa chọn các phương pháp thống kê phân tích chuyển dịch CCLĐ và nêu rõ đặc V điểm vận dụng của từng phương pháp: phương pháp véc - tơ, so sánh dãy số song song, dãy số thời gian, biểu đồ, hồi quy tương quan, chỉ số, phân tổ liên hệ. Luận văn cũng đã xây dựng mô hình lượng hóa tác động của các nhân tố đến chuyển dịch CCLĐ như sau: TLldphinrij- Po + filTLIdDDTj + fiilnVDTj + p 3gGRDPị_k + U i Trong đó: TLldp h in n f. Tỷ trọng lao động của nhóm ngành CNXD và DV trong tổng số lao động năm i TLldDDTj: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo năm i; ỉn V D T ị : Logarit cơ số e của vốn đầu tư toàn xã hội gGRDPj.k: Tốc độ tăng GRDP của tỉnh Bắc Ninh năm i-k CH Ư Ơ N G 2: T H ự C TR Ạ N G C H U Y ỂN D ỊC H c ơ CẤ U LA O ĐỘNG C Ủ A T ỈN H B Ắ C NINH G IA I ĐOẠN 1997-2016 Bắc Ninh được tái lập năm 1997, là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm gọn trong châu thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội.
Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tể cao, giao lưu kinh tế mạnh. Bắc Ninh là tỉnh diện tích nhỏ và mật độ dân sổ lớn. Do vậy, diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp sẽ có chiều hướng suy giảm, ảnh hưởng đến việc thúc đẩy người lao động chuyển từ NLTS sang CNXD và DV. Theo kết quả điều tra năm 2016, dân số trung bình tỉnh là 1178130 người, với mật độ là 1.432 người/km2 cao gấp 5 lần so với mật độ dân số cả nước.
Trong đó, số dân khu vực thành thị là 337.969 người (chiếm 28,69%), số dân khu vực nông thôn là 840. về quy mô lao động, năm 2016 toàn tỉnh có 663.468 lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân (chiếm 56,32% so với tổng số dân), tăng so với năm 1997 là 31,54%. v ề trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động, theo kết quả điều tra lao động việc làm năm 2016, tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ngày càng tăng. Tỷ lệ lao động được đào tạo đã tăng từ 7,8% năm 1997 lên 11,7% năm 2000; 14,4% năm 2010; 28,1% năm 2016.
VI Với số lượng và chất lượng không ngừng được nâng lên, lực lượng lao động Bắc Ninh sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những thế mạnh lực lượng lao động vẫn tồn tại những hạn chế: Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng trong tổng lực lượng lao động còn rất thấp. Hơn nữa, cơ cấu đào tạo lực lượng lao động còn nhiều bất hợp lý: sổ lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật còn quá thiếu so với yêu cầu. số này chủ yếu chỉ tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị.
Trong khi đó, lao động ngành nông nghiệp tỷ trọng lớn nhưng số lao động qua đào tạo lại rất thấp. Đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thiếu về số lượng và yểu kém về chất lượng. Nhìn chung, đội ngũ lao động có trình độ cao của tỉnh còn yếu kém cả về số lượng, cả về chất lượng. Nhóm lao động khoa học công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu triển khai công nghệ mới.
Thể lực của người lao động còn yếu, được thể hiện qua các chỉ số về cân nặng, chiều cao trung bình, sức bền. Tác phong và kỷ luật lao động công nghiệp còn kém. Đại bộ phận người lao động hiện nay của tỉnh còn chưa được đào tạo về kỷ luật lao động công nghiệp. Phần lớn lao động xuất thân từ nông nghiệp hoặc nông thôn, còn mang nặng tác phong sản xuất của một nền nông nghiệp tiểu nông, tuỳ tiện về giờ giấc và hành vi; Hầu hết người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc; chưa có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro; ngại phát huy sáng kiến cá nhân và chia sẻ kinh nghiệm làm việc.
Bắc Ninh là tỉnh thu hút được đầu tư nước ngoài FDI rất lớn. Đây cũng là một trong những yếu tố sẽ tác động nhiều đến cơ cẩu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động theo nhóm ngành, theo trình độ chuyên môn. Bắc Ninh vốn là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một miền quê nổi tiếng là “Đất khoa bảng”. Hiện nay, mặt bằng dân trí thuộc loại cao so với các tỉnh trong cả nước.
Ngoài ra, Băc Ninh cũng nổi tiếng là “Đất trăm nghề”, với nhiều làng nghề truyền thống xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử và phát triển cho đến tận ngày nay. Vll số liệu phân tích chuyển dịch CCLĐ được lấy từ Niên giám Thống kê Bắc Ninh từ năm 1997-2016. Với nguồn số liệu này, luận văn sẽ phân tích những nội dung sau: - Phân tích CCLĐ của tỉnh theo nhóm ngành kinh tể và TPKT - Phân tích xu thế chuyển dịch CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế và TPKT - Phân tích mức độ chuyển dịch CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế và TPKT - So sánh CCLĐ tỉnh Bắc Ninh với các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng - Phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch CCLĐ với mô hình hồi quy tuyến tính bội cho kết quả như sau: Tlldphinn; = -63,193 + l,244TLldDDTi + 9,481 InVDTj + 0,231gGRDP;.4 Tác giả đã thực hiện kiểm định các khuyết tật của mô hình: Tự tương quan, phương sai sai số thay đổi, đa cộng tuyến, sự phù hợp của mô hình đều cho kết quả mô hình không có khuyết tật với mức ý nghĩa 5% (P_value>0.1, phụ mục V, trang 30). Mô hình có R2 hiệu chỉnh = 98,9.
Kết quả ước lượng cho thấy, dấu của các hệ số ước lượng được đều phù họp với kỳ vọng ban đầu và các biến đều có ý nghĩa thống kê. Tốc độ tăng GRDP trễ bậc 4, vốn đầu tư và tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đều có tác động thuận chiều đến tỷ trọng lao động của nhóm ngành phi nông nghiệp (hệ số (3 >0). - Phân tích tác động của chuyển dịch CCLĐ đến NSLĐXH bằng phương pháp chỉ số cho thấy chuyển dịch CCLĐ có tác động tích cực đến NSLĐXH, tuy nhiên mức độ đóng góp còn chưa cao và giảm dần. - Phân tích tác động của chuyển dịch CCLĐ đến GRDP bằng phương pháp chỉ số cho thấy sự chuyển dịch CCLĐ giữa các nhóm ngành kinh tế (TPKT) đã có tác động khá tích cực đến tăng trưởng và chuyển dịch CCKT của tỉnh Bắc Ninh.
- Dự báo CCLĐ tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 theo phương pháp lượng tăng (giảm) tỷ trọng bình quân và hàm xu thế cho thấy tỷ trọng lao động nhóm ngành nông nghiệp (TPKT ngoài Nhà nước) giảm, nhóm ngành CNXD và DV (TPKT đầu tư nước ngoài) tăng lên. V lll CH Ư Ơ N G 3: Đ ỊN H HƯỚ N G V À G IẢ I PH ÁP C H U Y ỂN D ỊC H c ơ C Ấ U LA O ĐỘN G T ỈN H B Ắ C NINH Đ ÉN NĂM 2020 Trên cơ sở thực tiễn là các đánh giá về chuyển dịch CCLĐ của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997-2016 trong chương II: Phát huy thành tựu và khắc phục hạn chế, có thể rút ra những phương hướng cho chuyển dịch CCLĐ đến năm 2020: - Chuyển dịch phải theo hướng giảm tỷ trọng lao động nhóm ngành NN, tăng tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm tỷ trọng lao động TPKT Nhà nước, TPKT ngoài Nhà nước, tăng tỷ trọng lao động TPKT Đầu tư nước ngoài - Chuyển dịch CCLĐ phải gắn với quá trình CNH-HĐH, đảm bảo tính ổn định lâu dài nhưng vẫn phải linh hoạt, gắn với việc giải quyết việc làm và thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội.