Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thi hành án dân sự Việt Nam; Chương 2: Thực trạng thi hành án dân sự trong 5 năm (2009 – 2013) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự nói chung và trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm về thi hành án dân sự Theo từ điển Luật học thì thi hành án là “giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật” [44, tr. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể về thi hành án.
Có rất nhiều cách lập luận và tiếp cận khác nhau nhưng nổi bật lên là hai quan điểm với cách lập luận và tiếp cận như sau: Quan điểm 1: Thi hành án được hiểu là việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế. Bản án, quyết định của Tòa án là văn bản pháp lý của Tòa án, nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính. Việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án có hiệu quả, một mặt bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội và công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước là Tòa án, mặt khác nó là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân bị xâm hại. Tư pháp được hiểu theo nghĩa rộng, là một hệ thống các thiết chế, các tổ chức bảo vệ pháp luật, duy trì, đảm bảo công lý, công bằng xã hội, trong đó hoạt động xét xử của cơ quan nhà nước có thầm quyền là Tòa án giữ vai trò, vị trí quan trọng, là khâu trung tâm.
Vì vậy, khi nói tới Tòa án là nói tới biểu tượng điển hình của việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, là nơi thể hiện rõ nhất bản chất của pháp luật. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư pháp được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động xét xử của Tòa án thông qua những thủ tục tố tụng nhất định, đối với những vụ việc vi phạm pháp luật, tranh chấp của các chủ thể trong đời sống xã hội, nhằm bảo vệ pháp luật, duy trì, bảo đảm công lý, công bằng xã hội. Vì vậy, toàn bộ các hoạt động điều tra, truy tố và các hoạt động bổ trợ tư pháp (Giám định, luật sư, công chứng, hộ tịch, tư vấn pháp luật.) đều nhằm phục vụ cho quá trình làm sáng tỏ chân lý, tìm ra sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, để trên cơ sở đó, Tòa án đưa ra phán quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, những phán quyết của Tòa án đưa ra muốn trở thành hiện thực trong cuộc sống thì phải thông qua hoạt động thi hành án.
Thi hành án là hoạt động đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Việc Toà án tuyên bản án, quyết định chưa phải là kết thúc hoạt động tư pháp, vì công lý chỉ thực sự được thực hiện khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành đầy đủ [45]. Từ sự phân tích và cách lập luận, tiếp cận trên về thi hành án thì quan điểm thứ nhất này cho rằng thi hành án là hoạt động tư pháp. Theo quan điểm này, thi hành án phải là bộ phận không thể tách rời của hoạt động tư pháp.
Thi hành các bản án, quyết định của Tòa án là thực hiện một quyết định tư pháp, không phải là thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật hay quyết định hành chính cá biệt. Cơ quan Thi hành án không phải cơ quan tiến hành tố tụng nhưng là cơ quan có nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động tư pháp. Quan điểm 2: Thi hành án là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở để tiến hành hoạt động thi hành án. Để tiến hành hoạt động thi hành án có hiệu quả thì phải có cơ quan thi hành án, các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án được quy định cụ thể trong pháp luật thi hành án.
Hoạt động thi hành án lệ thuộc và chịu sự chi phối của hoạt động xét xử, bởi thi hành án được tiến hành dựa trên 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, nói cách khác, căn cứ pháp lý để thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Cơ quan thi hành án có trách nhiệm ra quyết định thi hành án và thi hành đúng theo phán quyết của Tòa án, không được suy diễn các phán quyết của Tòa án trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Điều này có nghĩa thi hành án là hoạt động có tính chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử. Ngoài ra, trong hoạt động thi hành án bên cạnh việc sử dụng phương pháp giáo dục, thuyết phục còn sử dụng các phương pháp điều chỉnh của hoạt động hành chính như phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc thi hành.
Hoạt động thi hành án phản ánh mối liên hệ giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong thi hành án. Thủ tục thi hành án không hoàn toàn là thủ tục tố tụng mà là quy trình của hoạt động chấp hành. Các nguyên tắc thi hành án không giống các nguyên tắc của hoạt động tố tụng [50]. Với cách tiếp cận và lập luận trên thì quan điểm thứ hai cho rằng thi hành án là hoạt động hành chính – tư pháp.
Theo quan điểm này, thi hành án không phải là hoạt động xét xử nên không phải là hoạt động tư pháp mà chỉ là hoạt động thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án. Trong giai đoạn thi hành án không chỉ có Toà án mà còn nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng tham gia. Cả hai quan điểm trên đều có điểm hợp lý, nhưng quan điểm thứ hai là hợp lý hơn cả bởi những lý do sau: Thứ nhất, cơ sở của hoạt động thi hành án là các bản án, quyết định dân sự của Tòa án; các cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án chủ yếu là cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng). Thứ hai, thi hành án có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (Ví dụ: Việc thi hành các quyết định khẩn cấp tạm thời 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Tòa án; trong quá trình thi hành án, Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu cơ quan thi hành án hoãn việc thi hành án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Tuy nhiên, thi hành án lại có tính độc lập tương đối, thể hiện ở chỗ hoạt động này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án. Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả. Thứ ba, thi hành án và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân quả với nhau. Nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, rõ ràng, cụ thể, được dư luận ủng hộ, đồng tình thì việc thi hành án sẽ dễ dàng, nhanh chóng hơn nhiều.
Ngược lại, nếu bản án, quyết định của Tòa án được tuyên không khách quan, toàn diện và công bằng, thiếu tính khả thi sẽ gây cản trở cho việc thi hành án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước. Đồng thời, việc thi hành án nhanh chóng, kịp thời sẽ có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử. Thứ tư, bản chất của thi hành án là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình. Mục đích cuối cùng của thi hành án là bảo đảm cho các quyết định của Toà án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trên thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành – nét đặc trưng của hoạt động hành chính.
Như vậy, có thể hiểu thi hành án là hoạt động hành chính – tư pháp của Nhà nước, do các cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành theo 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền. Trong các văn bản pháp luật về thi hành án thì chưa có văn bản nào đưa ra khái niệm cụ thể về thi hành án dân sự. Dưới góc độ lý luận, thi hành án dân sự hiện nay còn có 2 ý kiến khác nhau về nghĩa hẹp và nghĩa rộng của khái niệm “dân sự”. Ý kiến 1: Khái niệm “dân sự” trong thi hành án dân sự (THADS) được hiểu là những bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại án khác có tính chất dân sự; Ý kiến 2: Khái niệm “dân sự” phải hiểu theo nghĩa rộng, đó không chỉ bao gồm các bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại án khác có tính chất dân sự của Tòa án, mà còn bao gồm các bản án, quyết định khác do pháp luật quy định.
Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật hiện hành, nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các trình tự khác nhau nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự.