Chương 1: Cơ sở lý luận chung về thanh tra và thanh tra hành chính Chương 2: Thực trạng thanh tra hành chính tại Thanh tra thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Chương 3: Phương hướng, giải pháp bảo đảm thanh tra hành chính tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 5 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA VÀ THANH TRA HÀNH CHÍNH 1. Khái quát chung về thanh tra 1.Khái niệm thanh tra Thuật ngữ thanh tra ( tiếng Anh là Inspect ) xuất xuất phát từ gốc tiếng Latinh là “inspectorate”, có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài của chủ thể có thẩm quyền đối với hoạt động của đối tƣợng nhất định. Theo thuật ngữ này, “hoạt động thanh tra chỉ giới hạn trong hoạt động kiểm tra, xem xét, chƣa bao gồm vai trò xử lý của chủ thể thanh tra đối với đối tƣợng thanh tra, các cá nhân, tổ chức sau khi kiểm tra, xem xét” [16]. Theo Từ điển Luật học Đức, thanh tra đƣợc giải thích “là sự tác động của chủ thể đến đối tƣợng đã và đang thực hiện thẩm quyền đƣợc giao nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc” [18].
Theo cách giải thích này, thuật ngữ thanh tra đƣợc nhìn theo góc hiểu về mặt nội dung hoạt động, nghĩa là, bất kể sự tác động nào của chủ thể thanh tra đến đối tƣợng thanh tra trực thuộc đã và đang thực hiện thẩm quyền đƣợc giao để hƣớng đến một mục đích nhất định đều đƣợc hiểu là hoạt động thanh tra. Từ góc nhìn này, chúng ta có thể thấy đƣợc sự tƣơng đồng giữa thuật ngữ thanh tra theo từ điển Luật học Đức, với thuật ngữ thanh tra hành chính theo Luật thanh tra 2010 ở nƣớc ta là cùng mang tính trực thuộc và kiểm soát nội bộ. Theo từ điển tiếng Việt "thanh tra (ngƣời thuộc cơ quan có thẩm quyền) kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phƣơng, cơ quan, xí nghiệp" [45]; thanh tra thƣờng đi kèm với một chủ thể nhất định: “Ngƣời làm nhiệm vụ thanh tra”, “đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”. Theo quan niệm này, thanh tra là khái niệm để chỉ hoạt động kiểm soát của cơ quan, tổ chức, ngƣời đƣợc giao nhiệm vụ, quyền hạn nhằm: “xem xét và phát hiện, ngăn chặn với những gì trái với quy định” [21] của các tổ chức, cá nhân là đối tƣợng của thanh tra.
6 Luan van Ở nƣớc ta, quan niệm về thanh tra hiện nay cũng nhƣ trong lịch sử đƣợc thể hiện qua những mô hình cơ quan nhà nƣớc, các quy định của pháp luật và đƣợc đề cập ở những giác độ khác nhau: Thời kỳ phong kiến, khái niệm thanh tra chƣa đƣợc sử dụng nhƣng có các chức quan làm công việc giống nhƣ thanh tra, đó là: Dƣới thời Lý có chức quan Gián nghị đại phu (tả, hữu gián nghị đại phu); thời Trần có cơ quan gọi là “Ngự sử đài” với chức năng gần giống nhƣ cơ quan thanh tra Nhà nƣớc hiện nay và có chức “Quan ngự sử” đứng đầu Ngự sử đài. Ngự sử đài có nhiệm vụ giúp Vua trong việc theo dõi, xem xét các công việc hệ trọng của triều đình. Quan Ngự sử đời nhà Trần có quyền tiền trảm hậu tấu và là chức quan duy nhất có quyền can gián Vua. Thời nhà Lê có hàm “Gián nghị đại phu” phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám nói thẳng, nói đúng sự thật, Gián nghị đại phu có quyền can gián nhà Vua những việc nên làm và những việc không nên làm.
Sau này, xuất phát từ nhu cầu cấp thiết đòi hỏi phải có cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong hoạt động quản lý nhà nƣớc, ngày 23 tháng 11 năm 1945, chỉ sau 3 tháng từ khi Chính phủ nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đƣợc thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban thanh tra đặc biệt, Điều 1 Sắc lệnh quy định: “Chính phủ sẽ lập ngay một Ban thanh tra đặc biệt có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của các Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”. Từ đây, thuật ngữ “Thanh tra” xuất hiện ở nƣớc ta, quyền thanh tra đƣợc xác định và chính thức giao cho Chính phủ, trở thành khâu trọng yếu trong chu trình quản lý nhà nƣớc của Chính phủ. Từ đó, dƣới góc độ quyền lực nhà nƣớc, khái niệm thanh tra đƣợc hiểu là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nƣớc, là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan nhà nƣớc đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, 7 Luan van cá nhân. Hoạt động thanh tra đƣợc thực hiện bởi cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật, để kiến nghị với nhà nƣớc các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nƣớc, bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Thanh tra là việc xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.Vai trò của thanh tra trong quản lý nhà nước Trong mối quan hệ giữa quản lý nhà nƣớc và thanh tra, quản lý nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động thanh tra. Tiếp đó, thanh tra lại có tác động tích cực đối với quản lý và góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nƣớc. Trong vai trò của mình, thanh tra không chỉ là hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi vi phạm và đề ra các biện pháp giúp các đối tƣợng thanh tra khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, phát huy ƣu điểm… mà hơn hết còn là phƣơng tiện để chủ thể quản lý phát hiện những biểu hiện trì trệ, không phù hợp với thực tiễn khách quan của cơ chế, phƣơng pháp quản lý đã và đang cản trở các hoạt động quản lý, từ đó đề xuất các biện pháp cải cách, hoàn thiện các hoạt động quản lý nhà nƣớc.Lê nin đã chỉ rõ: “Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh tra là một chứ không phải là hai” [11]. Vai trò của công tác thanh tra đối với hoạt động quản lý nhà nƣớc đƣợc thể hiện trên những nội dung cơ bản sau: 8 Luan van Thanh tra là chức năng không thể thiếu của quản lý nhà nƣớc, có vai trò quan trọng đối với việc đánh giá hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nƣớc.
Hoạt động thanh tra xem xét, đánh giá trên thực tế việc thực hiện chủ chƣơng, chính sách, pháp luật của nhà nƣớc, qua đó kịp thời phát hiện những sơ hở, những sự bất hợp lý trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị điều chỉnh. Từ đó góp phần giúp cho chủ thể quản lý có đƣợc những thông tin cần thiết phục vụ cho việc hoạch định cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật và đƣa ra các biện pháp chỉ đạo, điều hành hợp lý. Thanh tra là phƣơng thức đảm bảo trật tự, kỷ cƣơng trong quản lý, phòng ngừa vi phạm pháp luật, góp phần tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thông qua hoạt động thanh tra, những sai lệch trong việc thực hiện chủ chƣơng, chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tƣợng thanh tra đƣợc phát hiện và xử lý kịp thời, bảo đảm tính tôn nghiêm của pháp luật.
Đồng thời hoạt động thanh tra cũng là phƣơng thức để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, hƣớng dẫn đối tƣợng thanh tra thực hiện đúng các quy định của pháp luật để từ đó góp phần phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra và tái diễn ở đối tƣợng quản lý nhà nƣớc. Bên cạnh việc tìm ra những sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý, những nội dung trong chủ trƣơng, chính sách chƣa phù hợp với thực tiễn khách quan để kịp thời kiến nghị; phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, hƣớng dẫn đối tƣợng quản lý thực hiện đúng các quy định của pháp luật, hoạt động thanh tra còn phải phát hiện và khẳng định, tạo điều kiện phát huy, nhân rộng những nhân tố tích cực. Có nhƣ vậy thì hiệu quả công tác thanh tra mới đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển của thực tiễn, hiệu quả công tác quản lý mới đƣợc nâng cao. Tiếp đó, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân, nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nƣớc.
Nhà nƣớc có nghĩa 9 Luan van vụ chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tạo mọi điều kiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, tham gia quản lý nhà nƣớc và quản lý xã hội. Hoạt động thanh tra góp phần bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân thông qua hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và thanh tra việc thực hiện pháp luật về thanh tra, tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo. Từ đó bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời dân, góp phần bảo đảm các quyền dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc của thanh tra hành chính 1.
Khái niệm thanh tra hành chính 1.1 Khái niệm hành chính Thuật ngữ “Hành chính” có gốc từ tiếng Latinh “Administratio”, tiếng Anh – “Administration” và tiếng Pháp là “Administration” có nghĩa là quản lý, lãnh đạo. Nó có bốn ý nghĩa: 1) Hoạt động quản lý của cơ quan nhà nƣớc, hoạt động tổ chức trong lĩnh vực quản lý; 2) Các cơ quan chấp hành của quyền lực nhà nƣớc, bộ máy Chính phủ; 3) Những ngƣời có tổ chức, ban giám đốc, ban lãnh đạo cơ quan xí nghiệp; 4) Ngƣời điều hành, ngƣời chịu trách nhiệm chính tổ chức hoạt động một cơ quan xí nghiệp nào đó. Theo gốc nghĩa Hán Việt thì “hành chính” có nghĩa là sự thi hành những chính sách và pháp luật của chính phủ, tức là hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc [45].