Chương 1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương này trình bày sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp tiến hành nghiên cứu đồng thời nêu đối tượng, phạm vi và kết cấu của luận văn. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 2 trình bày, tổng hợp, hệ thống các lý thuyết nền và các khái niệm nghiên cứu. Từ đó, luận văn đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết áp dụng tại UBND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Phương pháp nghiên cứu Chương 3 trình bày quy trình và phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra, nghiên cứu còn đưa ra cách thức chọn mẫu, các bước xử lý dữ liệu, phương pháp kiểm định mô hình, kiểm định giả thuyết để phân tích mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng giữa các khái niệm nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày đặc điểm mẫu nghiên cứu. Tiếp theo, các bước kỹ thuật phân tích bao gồm: phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích CFA và kiểm định mô hình SEM nhằm đánh giá mô hình và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất ban đầu và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Kết luận và hàm ý cho nhà chính sách Chương này tổng kết kết quả nghiên cứu đạt được. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiến hành đưa ra các hàm ý chính sách giúp các nhà lãnh đạo huyện Xuyên Mộc cải thiện chất lượng dịch vụ hành chính công nhằm gia tăng sự hài lòng của người dân. Ngoài ra, nghiên cứu đưa ra một số hạn chế và đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục -9- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Một số khái niệm nghiên cứu về chất lượng dịch vụ 2. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa khác nhau. Theo Zeithaml (2000) đưa ra khái niệm dịch vụ là quá trình, cách thức để thực hiện công việc nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng và thỏa mãn kì vọng của khách hàng. Theo Kotler và Armstrong (2004), khái niệm dịch vụ được hiểu những hoạt động mà công ty có thể cống hiến cho khách hàng nhằm nhằm duy trì hợp tác lâu dài với khách hàng.
Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2005) định nghĩa dịch vụ là thực hiện những gì mà doanh nghiệp cam kết nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ với đối và khách hàng. Dịch vụ đạt được chất lượng khi khách hàng nhận thấy rõ ràng là việc thực hiện các cam kết đó mang đến cho khách hàng giá trị gia nhiều hơn các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng lĩnh vực. Dịch vụ công Theo Nguyễn Như Phát (2002) định nghĩa dịch vụ công là loại hình dịch vụ được cung cấp bởi các cơ quan hành chính Nhà nước cho các cá nhân, tổ chức bên ngoài, không mang tính chất công vụ, nhằm đáp ứng các nhu cầu cụ thể về mặt pháp lý. Lê Chi Mai (2002) cho rằng “Dịch vụ công là những hoạt động trực tiếp các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công nhân do Nhà nước đảm nhận hay ủy quyền cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tư và công bằng xã hội”.
Theo Phạm Hồng Thái (2002) “Dịch vụ công là hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chánh Nhà nước -10- bảo đảm cung ứng các hàng hóa công cộng phục nhu cầu lợi ích chung thiết yếu của xã hội”. Chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ công Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải được hiểu trên hai góc độ: (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Theo Gronroos (2001) cho rằng hai lãnh vực của chất lượng dịch vụ: (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng. Parasuraman và cộng sự (1988) định nghĩa chất lượng dịch vụ được xác định là khoảng cách kỳ vọng cuả khách hàng về dịch vụ và mức độ cảm nhận của khách hàng sau khi đã sử dụng dịch vụ.
Theo Tony Bovaird & Elike Loffer (2002) định nghĩa dịch vụ công với đặc điểm là loại dịch vụ do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp cho người dân, gắn với việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, là sự đáp ứng sự mong đợi của người dân. Đo lường chất lượng dịch vụ công Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronross (1984): Theo học giả Gronross (1984) cho rằng chất lượng dịch vụ hình thành dựa trên 03 thành phần như: Chất lượng chức năng, Chất lượng kỹ thuật và Hình ảnh nhà cung ứng dịch vụ: -11- Hình 2. Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronross (1984) Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman & cộng sự (1988) Mô hình đưa ra 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ: Hình 2. Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman & cộng sự (1988) - Khoảng cách 1 (GAP1): là sai biệt giữa mong đợi của khách hàng và cảm nhận của nhà cung cấp dịch vụ.
-12- - Khoảng cách 2 (GAP2): được tạo ra khi nhà cung cấp gặp trở ngại khách quan lẫn chủ quan khi chuyển các kỳ vọng được cảm nhận sang các tiêu chí chất lượng và chuyển giao chúng đúng như kỳ vọng. - Khoảng cách 3 (GAP3): khi nhân viên chuyển giao dịch vụ cho khách hàng không đúng các tiêu chí ban đầu. - Khoảng cách 4 (GAP4): là sai biệt giữa dịch vụ chuyển giao và thông tin mà khách hàng nhận được. - Khoảng cách 5 (GAP5): hình thành từ sự khác biệt giữa chất lượng cảm nhận và chất lượng kỳ vọng khi khách hàng sử dụng dịch vụ.
Parasuraman cộng sự (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ chính là khoảng cách thứ 5. Khoảng cách này lại phụ thuộc vào 4 khoảng cách trước như: GAP5 = f(GAP1, GAP2, GAP3, GAP4). Vì vậy để thu ngắn khoảng cách thứ 5 hoặc gia tăng chất lượng dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ phải cố gắng rút ngắn các khoảng cách này. Đo lường chất lượng dịch vụ công: Chất lượng dịch vụ công đã được trình bày ở trên thì chất lượng được thể hiện ở các đặc tính của dịch vụ, nhưng nó lại gắn với sự thỏa mãn của người tiêu dùng.
Trong lĩnh vực dịch vụ hành chính công, theo Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa (2010), để xác định được các tiêu chí phản ánh chất lượng dịch vụ hành chính công chúng ta phải tiến hành hai việc: Một là, xác định xem khách hàng (công dân, tổ chức) đặt ra những yêu cầu gì đối với từng loại dịch vụ hành chính công. Hai là, xác định những yếu tố tạo nên đặc tính của dịch vụ hành chính công đó. Sự hài lòng Theo Tse và Wilton (1988) sự hài lòng của khách hàng là một phản ứng để đánh giá việc cảm nhận sự khác biệt giữa sự mong đợi, kỳ vọng và thực hiện dịch vụ. Sự hài lòng của khách hàng là một chức năng của sự mong đợi và hiệu suất chất lượng dịch vụ.
Theo Kotler và Keller (2012) cho rằng sự hài lòng là sự cảm nhận của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được với những kỳ vọng của người đó khi sử dụng dịch vụ. Phần lớn các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng đánh giá là kết quả của một quá trình so sánh, đánh giá được dựa trên quá trình nhận thức trong đó khách hàng so sánh những mong đợi trước đó của họ về kết quả dịch vụ với những gì họ thật sự nhận được từ dịch vụ. Sự hài lòng về chất lượng dịch vụ công: Sự hài lòng là phản ứng của của khách hàng đối với việc được thỏa mãn những mong muốn (Oliver và Elayne, 1985). Như vậy, sự hài lòng phụ thuộc vào kết quả nhận được và kỳ vọng của khách hàng.
Nếu kết quả thực hiện < kỳ vọng, khách hàng sẽ không hài lòng. Nếu kết quả thực hiện = kỳ vọng, khách hàng sẽ hài lòng. Và nếu kết quả thực hiện > sự mong đợi, khách hàng rất hài lòng. Tổng quan nghiên cứu 2.
Nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu của Parasuraman và cộng sự (1988): “Servqual: A Multiple- Item Scale For Measuring onsumer Perceptions of Service Quality”. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 200 khách hàng của bốn loại hình doanh nghiệp nhà nước. Kết quả nghiên cứu đã tìm ra 05 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của -14- khách hàng đối với chất lượng dịch vụ công, bao gồm: (1) Sự tin cậy, (2) Sự đáp ứng, (3) Năng lực phục vụ, (4) Sự cảm thông và (5) Sự hữu hình. Mô hình nghiên cứu của Parasuraman và cộng sự (1988) Nghiên cứu của Cronin và Taylor (1992): “Measuring service quality a reexamination and extension”.
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên mô hình SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988). Nghiên cứu tiến hành khảo sát 660 khách hàng của bốn nhóm ngành: ngân hàng, kiểm soát dịch bệnh, vệ sinh và thức ăn nhanh. Kết quả nghiên cứu đã tìm ra mô hình SERVPERF: Chất lượng dịch vụ = Chất lượng cảm nhận.Đây là công cụ đo lường chất lượng dịch vụ đảm bảo độ tin cậy và mô hình đã được sử dụng rộng rãi nhưng nó loại bỏ phần đánh giá về sự mong đợi và chỉ giữ lại phần đánh giá về sự cảm nhận của khách hàng. Mô hình nghiên cứu sự hài lòng đối với dịch vụ của Cronin và Taylor (1992) 2.
Nghiên cứu trong nước Đỗ Hữu Nghiêm (2010) thực hiện khảo sát mức độ hài lòng của người nộp thuế đối với chất lượng dịch vụ công tại Cục thuế tỉnh Bình Dương đã xác định năm yếu tố: (1) Tin cậy, (2) Đáp ứng, (3) Năng lực phục vụ, (4) Đồng cảm, (5) Phương tiện hữu hình. Kết quả kiểm định rút ra kết luận: 5 nhân tố trên có quan hệ đồng biến với mức độ hài lòng của người nộp thuế. Khi năm yếu tố này được cải thiện theo chiều hướng tích cực thì mức độ hài lòng của người nộp thuế sẽ tăng lên và ngược lại. Võ Nguyên Khanh (2011) đã tiến hành đo lường sự hài lòng về dịch vụ hành chính công tại UBND Quận 1-TP.
Kết quả cho thấy: “Sự hài lòng của người dân về dịch vụ hành chính công tại UBND Quận 1 chịu ảnh hưởng bởi 4 nhân tố quan trọng đó là: (1) Quy trình thủ tục, (2) Khả năng phục vụ, (3) Sự tin cậy, (4) Cơ sở vật chất”. Kết quả nghiên cứu 4 yếu tố này có quan hệ cùng chiều với chất lượng dịch vụ hành chính công.