ĐẶT VẤN ĐỀ Nấm được coi là một giới riêng trong 5 giới (Monera, Protoctista, Plantae, Fungi và Animalia); là những sinh vật có có nhân thực, có thành tế bào, dị dưỡng (heterotrophic) và sinh sản bằng bào tử. Ước tính trên thế giới có khoảng trên 1.000 loài nấm nhưng có khoảng 400 loài gây bệnh cho người. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nhiễm nấm nông (dermatophytoses) là nhiễm nấm do 3 chủng nấm có khả năng xâm nhập, nhân lên ở trong tổ chức sừng (lông/tóc, da và móng). Do đặc tính giống nhau về sinh học, hình dạng và sinh bệnh học nên chúng được gọi là nấm da (dermatophytes).
Nấm da là một nhóm nấm sợi, gồm ba chi Trichophyton, Microsporum và Epidermopyton với khoảng 40 loài khác nhau. Bệnh nấm móng (Onychomycosis) là bệnh nhiễm trùng ở móng do nấm. Bệnh nấm móng là một bệnh thuộc bệnh nấm da. Căn nguyên thường do các chi nấm Trichophyton spp.
hoặc Epidermophyton spp. Vị trí nấm ký sinh thường xuất hiện ở móng tay và móng chân, lúc đầu bị một móng sau lan dần ra các móng khác. Tổn thương ban đầu móng mất độ bóng. thường có điểm trắng, điểm trắng đục hoặc hơi vàng to dần, móng mầu trắng hoặc màu vàng mủn ra như ruột sậy và dần bị ăn vẹt, xù xì biến dạng, đôi khi tách khỏi nền móng.
Một nghiên cứu của tác giả Ramesh [30] đã kết luận rằng bệnh nấm móng, còn được gọi là tinea unguium, là một bệnh nhiễm nấm phổ biến chiếm 15% trong tất cả các rối loạn móng, trong khi nhiễm nấm ở móng chiếm 10% trong số tất cả các bệnh nhân bị viêm da cơ địa. Theo nghiên cứu khác của Baran [19] ước tính rằng chỉ có 18% - 40% tất cả các rối loạn móng là onychomycoses và 30% trong số tất cả các dermatomycoses là tác nhân nhiễm trùng móng. 2 Bệnh nấm móng hiện nay vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe của cộng đồng cần được quan tâm. Bệnh tuy không trực tiếp đe dọa đến tính mạng của người bệnh nhưng đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của hàng triệu người trên thế giới hiện nay như mất thẩm mỹ.bệnh nấm móng còn gián tiếp gây thiệt hại về kinh tế cho người bệnh do số ngày công nghỉ việc để đi khám chữa bệnh.
Theo nghiên cứu của Zhong và cộng sự năm 2019 tại Trung Quốc [51] cho thấy tỉ lệ nhiễm nấm móng là 2 -13 %. Điều trị nấm móng rất khó khăn và thời gian lâu dài, việc cần phải xác định chính xác loài nấm gây bệnh là hết sức cần thiết để giúp Bác sĩ điều trị đưa ra phác đồ thích hợp và hiệu quả. Tuy nhiên ở Việt Nam nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, việc chẩn đoán xác định các tác nhân gây bệnh nấm móng vẫn chưa được quan tâm nhiều, dẫn đến kết quả điều trị chưa đạt hiệu quả cao, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và thời gian của người bệnh. Do tính thời sự của bệnh nên đề tài: “Xác định thành phần loài nấm móng bằng kỹ thuật soi và nuôi cấy trên bệnh nhân tại bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh năm 2020” được thực hiện với hai mục tiêu sau: 1.
Xác định Tỷ lệ nhiễm, thành phần loài tác nhân gây bệnh nấm móng bằng kỹ thuật soi cấy, định danh bằng hình thể. Phân tích một số yếu tố liên quan đến nhiễm nấm móng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về nấm và nấm da.
Một số khái niệm chung. Theo phân loại hiện nay, nấm được coi là một giới riêng trong 5 giới (Monera, Protoctista, Plantae, Fungi và Animalia), có những đặc điểm như sau: Là những sinh vật có nhân thực (những tế bào có màng tế bào bao quanh nhân và những bào quan như ty thể, bộ máy gôn gi, lưới nội tương và lysosom), có thành tế bào, dị dưỡng (heterotrophic) và sinh sản bằng bào tử. Trong tự nhiên, nấm phân bố rất rộng rãi (trong đất, nước, không khí…). Ước tính có khoảng trên 1.000 loài nấm, hầu hết sống hoại sinh trong đất, chỉ một số ít có khả năng ký sinh gây bệnh cho người và động vật và hiện nay đã phát hiện có khoảng 400 loài gây bệnh cho người.
Những nấm có vai trò y học chủ yếu nằm trong 4 ngành. Ngành nấm Tiếp hợp (Zygomycota) sinh bào tử tiếp hợp. Ngành nấm Đảm (Basidiomycota) sinh bào tử đảm. Ngành nấm Túi (Ascomycota) sinh bào tử túi.
Những loại nấm mà trạng thái hữu tính chưa rõ, trước kia được gọi là “Deuteromycota” (Deuteromycotina) hay “Fungi Imperfecti” - nấm bất toàn, gần đây được gọi là Mitosporic fungi, những bào tử được hình thành từ phân chia nguyên phân. Phần lớn nấm sống hoại sinh tuy nhiên có một số loại nấm có thể ký sinh gây bệnh ở người và động vật. Nấm y học được phân loại theo nhiều cách khác nhau: Theo sinh học, dịch tễ học hay theo vị trí tổn thương trên cơ thể. Theo vị trí thì các bệnh nấm gổm hai nhóm chính là: nhóm 1 gồm nấm da và nấm ngoại biên hay còn gọi là nấm trên da; nhóm 2 là nấm nội tạng.
Nấm trên da có thể gồm nhiều. 4 loại khác nhau như các loại nấm sợi (nấm da và một số loại nấm khác), nấm men (Candida, Malassezia. Một số thuật ngữ về nấm da. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nấm nông (dermatophytoses) là nhiễm nấm do 3 chủng nấm có khả năng xâm nhập, nhân lên ở trong tổ chức sừng (lông/tóc, da và móng).
Do đặc tính giống nhau về sinh học, hình dạng và sinh bệnh học nên chúng được gọi là nấm da (dermatophytes). Nấm da là một nhóm nấm sợi, gồm ba chi Trichophyton, Microsporum và Epidermopyton với khoảng 40 loài khác nhau, và có đặc điểm chung: - Có mối quan hệ phân loại gần gũi. - Tất cả nấm da đều có hoạt tính ưa keratin (keratinolytic) hay có khả năng xâm nhập và phân hủy chất sừng khi hoại sinh in vitro và ký sinh in vivo gây ra các tổn thương. - Là tác nhân gây bệnh nấm da - lây truyền giữa người và động vật.
- Nhiễm nấm da (hay nấm nông): Là nhiễm nấm chỉ xâm nhập vào tổ chức sừng, ví dụ lớp sừng thượng bì, tóc/lông và móng. Tùy vào mức độ xâm nhập của nấm và đáp ứng miễn dịch của cơ thể trên lâm sàng mà có biểu hiện viêm hạn chế hoặc viêm rõ. Định nghĩa ca bệnh (các bệnh do nấm da gây nên): Là những tổn thương dạng hình tròn ở vùng da nhẵn. Biểu hiện lâm sàng là những vết tròn hoặc bầu dục, có mụn nước và vảy da ở bờ.
Tổn thương hay gặp ở tay, chân, thân mình. Đặc điểm sinh học của nấm da. Đặc điểm hình thái học. Hình ảnh đại thể: Khuẩn lạc nấm da dạng sợi, phẳng hoặc gồ cao, có nếp gấp, bề mặt dạng lông mịn, đôi khi có dạng bột do sự xuất hiện của bào tử.
5 sinh sắc tố đỏ, vàng, nâu đen, xanh đen lan tỏa vào môi trường. Hình ảnh vi thể: Bộ phận dinh dưỡng: Sợi nấm có vách ngăn, không màu, có thể có một số hình dạng đặc biệt như sợi nấm xoắn, sợi hình lược, hình sừng nai, thể cục. Bộ phận sinh sản: Những bào tử vô tính có giá trị định loại nấm như bào tử nhỏ (microconidia), bào tử lớn (macroconodia), ngoài ra còn có bào tử đốt, bào tử bao dày. Một số loại nấm da có khả năng tạo bào những thể quả kín (cleistothecia), khi ấy nấm thuộc lớp nấm túi (Ascomycetes) và có tên gọi là Arthroderma.
Thành phần hóa học của tế bào nấm da. Trong thành phần tế bào nấm da có cacbonhydrat trong thành tế bào, chủ yếu là những phân tử glucoza liên kết lại với nhau hoặc những phân tử mannan với glucose, tỷ lệ 2 loại phân tử này thay đổi tùy thuộc giống nấm. Các nghiên cứu cho thấy có một số acid amin trong tế bào nấm như glutamin, asparagin, tronin, alanin… Ngoài ra các loài nấm da còn có thành phần hóa học khác như lipid, men (enzym) và chất màu. Nguồn dinh dưỡng keratin và sự tạo thành cơ quan “đâm chọc” (perforacio) của nấm da: Nấm da là nhóm nấm ưa keratin và tạo ra men keratinase thủy phân keratin.
Hoạt tính của men keratinase còn phụ thuộc từng loài nấm. Keratin có ở da, lông, tóc móng và là nguồn thức ăn để nấm phát triển. Trong thí nghiệm in vitro, khi nấm phát triển có một số loài tạo ra cơ quan “đâm chọc” hay còn gọi là “cái khoan”. Việc tạo ra cơ quan này có ý nghĩa trong định loài khi mà hình dạng khó phân biệt ví dụ như T.
Đặc điểm sinh lý dinh dưỡng chuyển hóa. 6 Nấm da tuy ký sinh ở môi trường keratin hóa nhưng cũng có thể mọc tốt ở môi trường khác như môi trường Saboraud. Vài loại nấm da chỉ mọc tốt khi môi trường có inositol, axit nicotinic, vitamin B1, L-histidin… và đặc điểm này được sử dụng trong định loại nấm. Các nấm da đề kháng với kháng sinh thông thường và cycloheximid, kháng sinh này thường được pha vào trong môi trường nuôi cấy nấm.
Đặc điểm sinh thái. - Nhiệt độ: Nấm da phát triển mạnh ở 25 - 30°C, rất ít loài nấm da có khả năng phát triển ở nhiệt độ 37°C. Nhiệt độ bề mặt da rất phù hợp cho nấm phát triển. - Độ ẩm cao cũng là điều kiện thuận lợi để nấm da phát triển.
Tỷ lệ bệnh tăng cao về mùa hè khi có nhiệt độ và độ ẩm không khí cao. Trên da nấm thường phát triển ở những vùng da ẩm ướt như bẹn, kẽ chân, thắt lưng. - Độ pH: pH thích hợp với nấm da là 6,9 - 7,2. Trên cơ thể người pH da phụ thuộc hai yếu tố chính là axit béo trong chất bã và mồ hôi.
Ở trẻ em các tuyến bã chưa hoàn thiện do đó hay bị nấm tóc. Khi mồ hôi ra nhiều hoặc vùng ẩm ướt, lượng amoniac tăng làm pH của da chuyển hướng kiềm tạo điều kiện cho nấm phát triển. Cấu tạo tế bào của vi nấm. Nấm men và nấm sợi có cấu tạo tế bào gần giống nhau và khá phức tạp, gần giống như tế bào thực vật.
Có đầy đủ các cấu tạo thành tế bào, màng tế bào chất, tế bào chất, ty thể, riboxom, nhân, không bào và hạt dự trữ Thành Tế Bào Thành tế bào được cấu tạo bởi hai lớp phân tử bao gồm 90% là hợp chất glucan và manan phần còn lại là protein, lipid và glucosamin. Glucan là hợp chất. 7 cao phân tử có D-Glucose, mannan là hợp chất cao phân tử của D-Manose. Trên thành tế bào có nhiều lỗ, qua đó các chất dinh dưỡng được hấp thu và các sản phẩm của quá trình trao đổi chất được thải ra.